Blank Space

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Blank Space"
Đĩa đơn của Taylor Swift
từ album 1989
Phát hành 10 tháng 11, 2014 (2014-11-10)
Định dạng Tải kỹ thuật số
Thể loại Electropop[1]
Thời lượng 3:51
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Max Martin
  • Shellback
Thứ tự đĩa đơn của Taylor Swift
"Shake It Off"
(2014)
"Blank Space"
(2014)
"Style"
(2015)

"Blank Space" là ca khúc do ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Taylor Swift thu âm cho album phòng thu thứ năm của cô, 1989 (2014). Ca khúc do Swift, Max MartinShellback sáng tác. Ca khúc được phát hành trên đài phát thanh hit hiện đại bởi hãng đĩa Big Machine Records vào ngày 10 tháng 11 năm 2014 dưới dạng đĩa đơn thứ hai từ album này, sau "Shake It Off". Đây là ca khúc thứ hai trong album, sau "Welcome to New York" và là một trong số ba ca khúc có bản thu nháp (voice memo) được phát hành trong phiên bản cao cấp của album. "Blank Space" từng giữ vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.

Ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

"Blank Space" là một bài hát thuộc thể loại electropop có chịu ảnh hưởng của thể loại pop tối giản.[2] Nhiều nhà phê bình so sánh ca khúc này với các tác phẩm của ca sĩ-nhạc sĩ Lorde. Bài hát chế giễu việc giới truyền thông bàn tán về đời tư và các cuộc hẹn hò của Swift, miêu tả "một cô gái quá gắn bó với việc ăn thịt nam giới để lấy tư liệu sáng tác bài hát" có nhiều nét tương đồng với bản thân cô.[3] Ca khúc do Swift cùng Martin và Shellback sáng tác và do Martin cùng Shellback sản xuất. Giọng của Swift trải một quãng từ A3 tới C5, ở khoá Pha trưởng.[4]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sean O'Pry đóng vai tình nhân của Swift trong video

Video âm nhạc đi kèm với bài hát do Joseph Kahn đạo diễn; ông nói rằng Swift đã tới gặp ông với ý tưởng cho video, rằng cô biết rõ việc dư luận giễu cợt cô có quá nhiều bạn trai cũ và thường viết các ca khúc về họ. Cô nói rằng ông rằng cô muốn đề cập tới quan điểm của mình về vấn đề này theo một phong cách hài hước bằng cách đóng vai một nhân vật nữ phản diện điên rồ trong video.[5] Video được quay trong 3 ngày tháng 9 năm 2014 tại hai địa điểm khác nhau ở Long Island; trong đó ngày thứ nhất quay trong 12 giờ, ngày thứ hai quay trong 18 giờ và 10 giờ nữa để quay các cảnh cho ứng dụng di động American Express Unstaged.[6] Hầu hết các cảnh có Swift đều quay ở Lâu đài Oheka tại Huntington, New York, còn các cảnh trong nhà được quay tại Lâu đài Woolworth. Sau hai ngày quay với Swift, một đội thứ hai tiếp tục đi quay tiếp các bối cảnh dùng để tái tạo thế giới ảo trong ứng dụng di động American Express Unstaged: Taylor Swift Experience.[7][8] Video lấy cảm hứng từ những tác phẩm đầu tiên của Steven Spielberg và lấy cảm hứng một phần từ phim A Clockwork Orange. Kahn giải thích "Có rất nhiều khung cảnh và họa tiết đối xứng kiểu Stanley Kubrick, và đây là một cách tiếp cận rất thú vị cho một video nhạc pop. Bạn có thể để ý thấy trong mọi cảnh luôn có một khung hình trung tâm và sự đối xứng cân đối xuyên suốt video,"[6] Vai tình nhân của Swift trong video do người mẫu Sean O'Pry thể hiện.[9][10]

Video vô tình bị rò rỉ trên Yahoo! vào ngày 10 tháng 11 năm 2014.[11] Kahn tweet về việc vô tình video bị đăng tải sớm này, "Tôi nghĩ tôi sẽ đăng tải liên kết tới video này vào một thời điểm tôi thấy thích hợp. Tôi nghĩ có lẽ bộ phận của Yahoo! đã có sai sót — họ đã vô tình đăng tải nó sớm hơn dự định."[12] To which he later added, "Yup. Yahoo đã nhận lỗi. Mong chờ được xem video Blank Space. Hãy để Taylor tự giới thiệu nó cho các bạn. Sẽ đáng với những gì mọi người mong chờ đấy:)"[13]

Thành tích trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng Hot Digital Songs với doanh số 155.000 được bán ra trong tuần đầu tiên, khiến Blank Space trở thành ca khúc thứ ba của album 1989 đứng ở vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Hot Digital Songs và là ca khúc thứ chín của Swift đứng đầu bảng xếp hạng này.[14][15] Swift trở thành ca sĩ có số ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng Digital Songs nhiều thứ 3 cùng với Eminem và vượt qua Rihanna về số ca khúc ra mắt đứng đầu bảng xếp hạng này nhiều nhất.[16] Ca khúc đứng ở vị trí thứ 18 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 vào tuần đầu ra mắt.[17] Trong tuần phát hành thứ hai, ca khúc bán được 164.000 bản (tăng 5%) và vươn lên vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng Hot 100 và giành danh hiệu Airplay Gainer.[18][19] Ở tuần thứ ba, ca khúc bán được 328.000 bản sao kỹ thuật số (tăng 100%), thành tích này có được nhờ việc ra mắt video âm nhạc đi kèm ca khúc, và vươn lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ ba của nữ ca sĩ đứng đầu bảng xếp hạng và là nữ nghệ sĩ đầu tiên có một ca khúc vượt qua một ca khúc khác của chính mình để giành vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng này (ca khúc đứng đầu tuần trước đó là Shake It Off) và là nghệ sĩ thứ mười đạt được thành tích này.[20]

New Zealand, trong tuần đầu ra mắt Blank Space đứng ở vị trí thứ 26.[21] Trong tuần thứ ba, ca khúc vươn từ vị trí số 33 lên vị trí thứ 4, trở thành ca khúc thứ sáu của Swift nằm trong top 5 bảng xếp hạng ở New Zealand.[22] Ở Australia, ca khúc ra mắt ở vị trí thứ 29 trên bảng xếp hạng Australian Singles Chart, đến ngày 15 tháng 11 đã vươn lên vị trí thứ 2.[23]

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2014) Vị trí
cao nhất
Australia (ARIA)[24] 2
Canada (Canadian Hot 100)[25] 18
Pháp (SNEP)[26] 177
Ireland (IRMA)[27] 44
New Zealand (RIANZ)[28] 4
Scotland (Official Charts Company)[29] 7
Anh Quốc (Official Charts Company)[30] 11
Hoa Kỳ Billboard Hot 100[31] 1
Hoa Kỳ Adult Top 40 (Billboard)[32] 23
Hoa Kỳ Pop Songs (Billboard)[33] 16

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày Định dạng Hãng đĩa Tk.
Hoa Kỳ 10 tháng 11 năm 2014 Rhythmic crossover radio
  • Big Machine
  • Republic
[34]
Đài phát thanh nhạc người lớn hiện đạt hot [35]
11 tháng 11 năm 2014 Đài phát thanh hit hiện đại [36]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lindsay Zoladz. “Taylor Swift's 1989 Is Her Most Conservative Album Yet”. vulture.com. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014. 
  2. ^ Lindsay Zoladz. “Taylor Swift’s 1989 Is Her Most Conservative Album Yet”. vulture.com. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014. 
  3. ^ “Review: 1989 Marks a Paradigm Swift”. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ “Blank Space”. Ngày 7 tháng 11 năm 2014. 
  5. ^ McIntyre, Huge (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Yahoo Accidentally Leaks Taylor Swift's New Music Video For 'Blank Space'. Forbes. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  6. ^ a ă Kevin P.Sullivan (ngày 14 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Really Stood On A Horse And 7 Other Secrets From ‘Blank Space’”. MTV. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2014. 
  7. ^ Gamboa, Glenn (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's 'Blank Space' video filmed at Oheka Castle”. Newsday. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014. 
  8. ^ McIntyre, Huge (ngày 11 tháng 11 năm 2014). “Follow Taylor Swift Through Her 'Blank Space' Music Video With New Immersive App”. Forbes. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ Duboff, Josh (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Made Her "Blank Space" Music Video Co-Star Sean O’Pry Blush on Set”. Vanity Fair. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  10. ^ Nessif, Bruna (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Meet Sean O'Pry! 13 Things to Know About the Hot Guy in Taylor Swift's "Blank Space" video”. E! Online. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  11. ^ Goodman, Jessica. “Taylor Swift's 'Blank Space' Video Leaked Early (UPDATE)”. The Huffington Post. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014. 
  12. ^ “Joseph Kahn twitter”. Ngày 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014. 
  13. ^ “Joseph Kahn”. Ngày 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014. 
  14. ^ “Hot 100: Meghan Trainor Still No. 1, Ed Sheeran Hits Top 10, Glen Campbell Returns — Billboard”. Billboard. Ngày 22 tháng 10 năm 2014. 
  15. ^ “Taylor Swift's "Shake It Off" crosses the two million sales mark”. headlineplanet.com. 
  16. ^ “Hot 100: Taylor Swift's 'Shake It Off' Returns to No. 1 - Billboard”. Billboard. 
  17. ^ Gary Trust (ngày 6 tháng 11 năm 2014). “Hot 100: Taylor Swift's 'Shake It Off' Returns to No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014. 
  18. ^ Keith Caulfield (ngày 12 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's '1989' Spends Second Week at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014. 
  19. ^ “Taylor Swift Album and Song History”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014. 
  20. ^ Gary Trust (ngày 19 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift makes Hot 100 History”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 
  21. ^ “NZ Top 40 Singles Chart - The Official New Zealand Music Chart”. THE OFFICIAL NZ MUSIC CHART. 
  22. ^ “NZ Top 40 Singles Chart - The Official New Zealand Music Chart”. THE OFFICIAL NZ MUSIC CHART. 
  23. ^ MCM Media. “ARIA Australian Top 50 Singles Chart- Australia's Official Top 50 Songs - ARIA Charts”. 
  24. ^ Ryan, Gavin (ngày 15 tháng 11 năm 2014). “Ed Sheeran Spends 5th Week On Top Of ARIA Singles”. Noise11. Noise Network. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  25. ^ "Taylor Swift - Chart history" Canadian Hot 100 của Taylor Swift. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  26. ^ "Lescharts.com - Taylor Swift - Blank Space" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  27. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK.
  28. ^ "Charts.org.nz - Taylor Swift - Blank Space". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014.
  29. ^ "22 tháng 11 năm 2014 Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company.
  30. ^ "22 tháng 11 năm 2014 Archive Chart: ngày 22 tháng 11 năm 2014" UK Singles Chart. Official Charts Company.
  31. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Hot 100 của Taylor Swift. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  32. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Adult Pop Songs của Taylor Swift. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  33. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Pop Songs của Taylor Swift. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  34. ^ Lipshutz, Jason (ngày 30 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift’s Next ‘1989’ Single Is...”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014. 
  35. ^ “Hot AC | Genres | Republic Playbook”. Republic Records. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2014. 
  36. ^ “Top 40/M Future Releases”. All Access Music Group. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]