Reputation (album của Taylor Swift)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Reputation
Hình ảnh trắng đen của Taylor Swift với tựa đề của album được viết xung quanh.
Album phòng thu của Taylor Swift
Phát hành 10 tháng 11, 2017 (2017-11-10)
Phòng thu Conway Studios (Los Angeles, California)
MXM Studios (Los Angeles, California và Stockholm, Thụy Điển)
Rough Customer Studio (Brooklyn, New York)
Seismic Activities Studios (Portland, Oregon)
Tree Sound Studios (Atlanta, Georgia)
Thể loại
Thời lượng 55:38
Hãng đĩa Big Machine
Sản xuất
Thứ tự album của Taylor Swift
1989
(2014)
Reputation
(2017)
Đĩa đơn từ Reputation
  1. "Look What You Made Me Do"
    Phát hành: 24 tháng 8 năm 2017
  2. "...Ready for It?"
    Phát hành: 24 tháng 10 năm 2017
  3. "End Game"
    Phát hành: 14 tháng 11 năm 2017
  4. "New Year's Day"
    Phát hành: 27 tháng 11 năm 2017
  5. "Gorgeous"
    Phát hành: 12 tháng 1 năm 2018
  6. "Delicate"
    Phát hành: 12 tháng 3 năm 2018

Reputation (được viết cách điệu là reputation) là album phòng thu thứ sáu của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Taylor Swift, phát hành ngày 10 tháng 11 năm 2017 bởi Big Machine Records.[1] Nó được phát hành sau hơn ba năm kể từ album phòng thu trước, 1989 (2014), trong đó Swift tham gia viết lời cho tất cả những bài hát kiêm đồng sản xuất một số bài hát từ album. Đóng vai trò điều hành sản xuất chính cho reputation, cô tiếp tục hợp tác với những cộng tác viên quen thuộc trong những album trước, bao gồm Jack Antonoff, Max Martin, và Shellback, bên cạnh một số nhà sản xuất mới như Ali Payami, Oscar GörresOscar Holter. Tương tự như 1989, đây là một bản thu âm pop kết hợp với những yếu tố của electropopsynth-pop mang nội dung lời bài hát đề cập đến những chủ đề quen thuộc trong sự nghiệp của nữ ca sĩ như tình yêu, sự lãng mạn và những mối quan hệ xã hội, trong đó có sự tham gia góp giọng của ca sĩ kiêm nhạc sĩ Anh quốc Ed Sheeran và rapper người Mỹ Future.

Sau khi phát hành, reputation đa phần nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao việc chuyển đổi sang những âm thanh nặng nề hơn trong âm nhạc của Swift, và lọt vào danh sách những album xuất sắc nhất năm bởi nhiều ấn phẩm âm nhạc. Nó cũng gặt hái những thành công vượt trội về mặt thương mại, đứng đầu các bảng xếp hạng ở nhiều thị trường lớn như Úc, Áo, Bỉ, Canada, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Scotland, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh, và lọt vào top 10 ở hầu hết những quốc gia nó xuất hiện, bao gồm Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Ý, Nhật, Mexico, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Tại Hoa Kỳ, album ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 1.238 triệu đơn vị album tương đương, giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử có bốn album phòng thu liên tiếp đạt doanh thu triệu bản trong tuần đầu phát hành, và được chứng nhận ba đĩa Bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA). Tính đến nay, nó đã bán được 4.5 triệu bản trên toàn cầu, trở thành một trong những album bán chạy nhất năm 2017.

Sáu đĩa đơn thương mại đã được phát hành từ reputation, trong đó đĩa đơn đầu tiên "Look What You Made Me Do" đứng đầu các bảng xếp hạng ở nhiều quốc gia, và trở thành đĩa đơn quán quân thứ năm của Swift trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Đĩa đơn tiếp theo, "...Ready for It?" lọt vào top 10 ở một số quốc gia, trong khi "End Game" vươn tới top 20 ở Hoa Kỳ. Những đĩa đơn tiếp theo cũng gặt hái một số thành công tương đối, với hai đĩa đơn được phát hành giới hạn ở một số thị trường. Không như những album tiền nhiệm, nữ ca sĩ đã không tham gia trình diễn nhiều trên những chương trình truyền hình cũng như thực hiện phỏng vấn để quảng bá nó, mà chỉ tiến hành một số màn trình diễn ít ỏi trước khi bắt đầu chuyến lưu diễn sân vận động đầu tiên trong sự nghiệp của cô Reputation Stadium Tour, dự kiến kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2018.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 18 tháng 8 năm 2017, Swift xóa hết tất cả các bài đăng của cô ấy trên các tài khoản mạng xã hội, bao gồm cả trang web chính thức của cô.[2] một vài ngày sau đó, Swift đăng tải một series những đoạn video về một con rắn,[3] thứ nhắc đến các vụ tai tiếng của cô với Kanye West, Katy Perry, Calvin HarrisKim Kardashian vào năm trước đó.[4] Người hâm mộ đồn đoán rằng Swift chuẩn bị phát hành một album mới.[2][5] Vào ngày 23 tháng 8, Swift thông báo về album trên Instagram, tiết lộ bìa và ngày phát hành của album.[3] Reputation được dự kiến sẽ phát hành vào ngày 10 tháng 11 năm 2017.[6][7] Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Look What You Made Me Do", được phát hành ngày 25 tháng 8 năm 2017.[8][9] Album cũng sẽ được phát hành cùng 2 phiên bản của một tạp chí, cùng mang tên reputation, độc quyền ra mắt tại Target.[8] Vào ngày 2 tháng 9, Swift nhá hàng bài hát tiếp theo từ album trên một số của chương trình Saturday Night Football của đài ABC và sau đó là trên Instagram, có tên "...Ready for It?".[10] Bài hát được phát hành vào ngày 3 tháng 9 năm 2017. Vào ngày 13 tháng 10, Swift đã tổ chức một buổi nghe thử bí mật tại London, nơi cô cho 100 người hâm mộ may mắn đến từ khắp nơi trên thế giới nghe thử album.[11][12] Swift đã phát hành "Gorgeous" vào nửa đêm ngày 20 tháng 10 năm 2017 dưới dạng đĩa đơn quảng bá thứ hai cho album và "Call It What You Want" vào ngày 3 tháng 11 năm 2017.

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

UPS đã thông báo sẽ có một dịch vụ "Official Delivery Partner" cho Reputation.[13] những xe tải của UPS tại các thành phố đã được chọn sẽ được dán đề can in hình bìa album Reputation. UPS kêu gọi người hâm mộ chụp ảnh cùng với những chiếc xe đó và đăng tải lên Twitter cùng một hashtag để được nhận "cơ hội hoàn hảo" để mua vé xem các chuyến lưu diễn.[14]

Swift cũng hợp tác với Ticketmaster trong một chương trình ưu đãi nhiều sản phẩm; người mua vừa có thể mua vé đi dự các chuyến lưu diễn sắp tới của Swift và sẽ được đặt vào một danh sách chờ, và những người trong danh sách đó sẽ được hưởng ưu đãi bằng nhiều cách, bao gồm mua các sản phẩm và đặt trước Reputation với những ưu đãi cao nhất.[13][15] Swift bị người hâm mộ phản đối dữ dội và truyền thông gọi đây "đơn giản là một trò lừa đảo."[16] Tuy nhiên, Ticketmaster đã đăng tải một đoạn văn trên trang web chính thức của họ, phản kháng lại các lời chỉ trích, cho rằng "Taylor Swift cam kết sẽ chuyển những tấm vé lưu diễn tới tận tay người hâm mộ, không phải chiến dịch thu lãi nhanh"[17] Chương trình sẽ kết thúc vào ngày 28 tháng 11 năm 2017, khi người hâm mộ sẽ nhận được những hướng dẫn chi tiết hơn về việc đi xem các chuyến lưu diễn.[18]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 13 tháng 11 năm 2017, Swift thông báo cô sẽ tham gia một chuyến lưu diễn có tên Reputation Stadium Tour vào năm 2018 để quảng bá Reputation, đồng thời thông báo lịch diễn tại Bắc Mỹ. Đây là chuyến lưu diễn sân vận động đầu tiên của Swift.[19]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 8 năm 2017, "Look What You Made Me Do" được phát hành dưới dạng đĩa đơn mở đầu cho Reputation.[20] Bài hát phá vỡ hàng loạt kỷ lục bào gồm bài hát được nghe nhiều nhất trên Spotify trong vòng 24 giờ và trở thành nữ nghệ sĩ đạt vị trí đầu bảng iTunes Mỹ nhanh nhất.[21] Video âm nhạc được phát hành tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2017 và đạt 43.2 triệu lượt xem trên YouTube trong 24 giờ đầu phát hành, phá vỡ kỷ lục 27.7 triệu lượt xem mở màn từ video "Hello" của Adele năm 2015.[21] "Look What You Made Me Do" đạt vị trí đầu bảng trên Billboard Hot 100 với số lượng tiêu thụ và stream cao nhất trong năm, đánh bật "Despacito" khi bài hát đã chạm đến tuần quán quân thứ 16 và ngăn chặn bài hát phá kỉ lục của Mariah CareyBoyz II Men với "One Sweet Day" khi nó đạt được cùng số tuần đầu bảng trên vào hai năm 1995-1996; đồng thời là đĩa đơn đầu bảng thứ năm của Swift tại đây, là bài hát solo đạt ngôi đầu bảng đầu tiên với 84.4 triệu lượt stream kể từ khi Adele làm được điều đó với "Hello" vào 2015 và lượng stream tuần đầu cao thứ hai lịch sử chỉ sau "Harlem Shake" (103.3 triệu).[22] Video âm nhạc cho bài hát được ra mắt sau đó tại Giải Video âm nhạc MTV năm 2017 và đạt 43.2 triệu lượt xem trên YouTube trong 24 giờ đầu, nhiều nhất từ trước đến giờ và đánh bại kỷ lục 36 triệu lượt của "Gentleman" vào năm 2013.[21]

Vào ngày 2 tháng 9 năm 2017, Swift chia sẻ trên Instagram về bài hát đầu tiên trong danh sách bài hát của Reputation, tên là "...Ready for It?", sẽ được phát hành dưới dạng đĩa đơn quảng bá.[23] Bài hát được đăng tải lên các trang nghe nhạc kỹ thuật số cùng đơn đặt hàng trước album Reputation vào ngày 3 tháng 9 năm 2017.[24] Bài hát đạt vị trí thứ 3 tại Úc, thứ 4 tại Hoa Kỳ, và thứ 7 tại Anh Quốc.[25][26][27] Vào ngày 24 tháng 10 năm 2017, bài hát được phát trên các đài phát thanh đương đại dưới dạng đĩa đơn thứ hai từ album.[28]

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 19 tháng 10 năm 2017, Swift thông báo sẽ phát hành một bài hát có tên "Gorgeous".[29] Bài hát được phát hành vào ngày hôm sau trên các trang nghe nhạc kỹ thuật số và các dịch vụ streaming dưới dạng đĩa đơn quảng bá thứ hai từ album. Vào ngày 2 tháng 11, Swift sẽ phát hành đĩa đơn quảng bá thứ ba cho Reputation, bằng cách đăng những thông tin lên tài khoán cá nhân trên Twitter và Instagram của cô. Bài hát có tên "Call It What You Want", được phát hành vào ngày hôm sau, 3 tháng 11.[30]

Vào ngày 9 tháng 11 năm 2017, một màn trình diễn của bài hát "New Year's Day" đã được công chiếu trong show Scandal của ABC.[31] Nó được ghi hình lại tại một trong những buổi nghe thử bí mật, tổ chức tại nhà Swift ở Rhode Island vào ngày 18 tháng 10 với khoảng 100 người hâm mộ tham dự.[32] Một phiên bản khác của phần trình diễn cũng được công chiếu vào ngày 10 tháng 11, trong show The DUFF của Freeform.[33] Billboard cũng thông báo về việc cô sẽ thông báo về tour lưu diễn của mình vào tháng 12 năm 2017.[34]

Vào ngày 11 tháng 11, Swift đã trở thành khách mời âm nhạc của tập 5 mùa thứ 43 show Saturday Night Live, ở đây cô đã biểu diễn hai bài hát "...Ready for It?" và "Call It What You Want".[35] Đây là màn xuất hiện trực tiếp trên truyền hình đầu tiên của cô để quảng bá cho album, và cũng là lần đầu tiên cô xuất hiện trên show này trong khoảng 8 năm.[36][37]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Một tuần trước ngày phát hành Reputation, số lượng đặt trước của album tại Hoa Kỳ đã được công bố là 400,000 đơn vị. Album trở thành sản phẩm có số lượng đặt trước nhiều nhất tại chuỗi cửa hàng Target từ trước đến nay. Billboard công bố con số này gần gấp đôi so với album trước của Swift, 1989, đĩa nhạc mà đã tiêu thụ được 1.2 triệu bản trong tuần đầu phát hành.[38] Theo Nielsen SoundScan, album đã được bán ra 700,000 bản tại đây trong ngày đầu phát hành.[39]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tiêu chuẩn[40][41]
STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "...Ready for It?"  
  • Martin
  • Shellback
  • Payami
3:28
2. "End Game" (hợp tác với Ed SheeranFuture)
  • Martin
  • Shellback
4:04
3. "I Did Something Bad"  
  • Swift
  • Martin
  • Shellback
  • Martin
  • Shellback
3:58
4. "Don't Blame Me"  
  • Swift
  • Martin
  • Shellback
  • Martin
  • Shellback
3:56
5. "Delicate"  
  • Swift
  • Martin
  • Shellback
  • Martin
  • Shellback
3:52
6. "Look What You Made Me Do"  
  • Antonoff
  • Swift
3:31
7. "So It Goes..."  
  • Martin
  • Shellback
  • Görres
3:47
8. "Gorgeous"  
  • Swift
  • Martin
  • Shellback
  • Martin
  • Shellback
3:29
9. "Getaway Car"  
  • Swift
  • Antonoff
  • Antonoff
  • Swift
3:53
10. "King of My Heart"  
  • Swift
  • Martin
  • Shellback
  • Martin
  • Shellback
3:34
11. "Dancing with Our Hands Tied"  
  • Martin
  • Shellback
  • Holter
3:31
12. "Dress"  
  • Swift
  • Antonoff
  • Antonoff
  • Swift
3:50
13. "This Is Why We Can't Have Nice Things"  
  • Swift
  • Antonoff
  • Antonoff
  • Swift
3:27
14. "Call It What You Want"  
  • Swift
  • Antonoff
  • Antonoff
  • Swift
3:23
15. "New Year's Day"  
  • Swift
  • Antonoff
  • Antonoff
  • Swift
3:55
Tổng thời lượng:
55:38

Chú thích

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[87] Bạch kim 70.000^
Áo (IFPI Austria)[88] Bạch kim 20.000x
Nhật (RIAJ)[89] Vàng 100.000^
Mexico (AMPROFON)[90] Bạch kim 60.000^
New Zealand (RMNZ)[91] Bạch kim 15.000^
Thụy Điển (GLF)[92] Vàng 20.000^
Anh (BPI)[93] Bạch kim 300.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[94] 3× Bạch kim 2,000,000[95]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng
double-daggerChứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ/stream

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày Định dạng Phiên bản Nhãn Nguồn
Nhiều 10 tháng 11 năm 2017 Bản gốc Big Machine [40][96]
Brazil 24 tháng 11 năm 2017 CD Universal Music [97]
Nhiều 1 tháng 12 năm 2017 Streaming Big Machine [98]
Hoa Kỳ 15 tháng 12 năm 2017 Đĩa than [96]
9 tháng 3 năm 2018 Tải kĩ thuật số Karaoke [99][100]
18 tháng 5 năm 2018 [101]
Nhiều 9 tháng 3 năm 2018 Streaming [102]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lynch, Joe (23 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift Reveals New Album 'Reputation' Coming In Nov., First Single Out Thursday”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017. 
  2. ^ a ă Hoffman, Ashley (18 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift Blacks Out Her Social Media. Internet Melts.”. Time. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017. 
  3. ^ a ă Stolworthy, Jacob (23 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift Reputation: Singer unveils new album name, cover and release date”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  4. ^ Bruner, Raisa (24 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift Has a History With Snakes: Here's the Backstory”. Time. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017. 
  5. ^ McDermott, Maeve (21 tháng 8 năm 2017). “Is Taylor Swift releasing new music? Her mysterious snake videos hint yes”. USA Today. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017. 
  6. ^ Park, Andrea (23 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift announces 6th album, 'Reputation'. CBS News. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  7. ^ Maslow, Nick (23 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift announces new album, Reputation”. MSN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  8. ^ a ă Aswad, Jem (24 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's New Single, 'Look What You Made Me Do,' Arrives”. Variety. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017. 
  9. ^ “Look what you made us do: Critics slam Taylor Swift's comeback single”. USA Today. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017. 
  10. ^ “@taylorswift (Instagram story; only available for 24 hours)”. Instagram. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  11. ^ “Taylor Swift Just Hosted Her First ‘Reputation’ Listening Party in London”. ELLE. 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  12. ^ “Taylor Swift Holds First Secret 'Reputation' Listening Party for Fans in the UK and Swifties Are Freaking Out”. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  13. ^ a ă Framke, Caroline (25 tháng 8 năm 2017). “With Reputation, Taylor Swift has learned to stop worrying and love capitalism”. Vox. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  14. ^ “UPS Is The Official Delivery Partner For Taylor Swift's 6th Studio Album reputation”. UPS Pressroom. Atlanta, GA: United Parcel Service. 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017. 
  15. ^ Timmothy J., Seppala (25 tháng 8 năm 2017). “Feed the Taylor Swift hype machine for a better chance at tickets”. Engadget. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  16. ^ Chatterjee, Kika (26 tháng 8 năm 2017). “Here’s why Taylor Swift & Ticketmaster’s ticket sales plan is basically a scam”. Alternative Press (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017. 
  17. ^ Roberts, Randall; Brown, August (31 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's Ticketmaster 'Verified Fan' initiative sparks controversy”. Los Angeles Times (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  18. ^ “Swift Tix powered by Ticketmaster Verified Fan”. Ticketmaster. 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  19. ^ “TAYLOR SWIFT'S reputation Stadium Tour // First Round Of Dates Announce”. taylorswift.com. 
  20. ^ Aswad, Jem (25 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift’s New Single, ‘Look What You Made Me Do,’ Arrives (Listen)”. Variety (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017. 
  21. ^ a ă â McIntyre, Hugh. “Taylor Swift's 'Look What You Made Me Do' Video Has Shattered YouTube Records”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  22. ^ Trust, Gary (5 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift's 'Look What You Made Me Do' Leaps to No. 1 on Hot 100 With Top Streaming & Sales Week of 2017”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017. 
  23. ^ “Surprise! Taylor Swift Teases New Song 'Ready for It' — and the Fans Are Already Loving It”. PEOPLE (bằng tiếng en-US). 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  24. ^ Kreps, Daniel (3 tháng 9 năm 2017). “Hear Taylor Swift's Assertive New Song '...Ready for It?'. Rolling Stone. 
  25. ^ “Taylor Swift's "Look What You Made Me Do" Keeps #1 In Australia; "Ready For It" Debuts At #3”. Headline Planet. 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  26. ^ “Taylor Swift at Nos. 1 & 4 on Billboard Hot 100, as Cardi B Moves Up to No. 2”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  27. ^ “Taylor Swift’s "Ready For It" Debuts At #7 In UK; Demi Lovato’s "Sorry Not Sorry" Also Joins Top 10”. Headline Planet. 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  28. ^ “Top 40 Rhythmic Future Releases”. All Access Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2017. 
  29. ^ Bailey, Alyssa (19 tháng 10 năm 2017). “Taylor Swift Announces a New "Gorgeous" Taylor Swift Song Is Coming”. Elle. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017. 
  30. ^ Kaufman, Gil (2 tháng 11 năm 2017). “Taylor Teases New Song, Call It What You Want". Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2017. 
  31. ^ Thorbecke, Catherine (7 tháng 11 năm 2017). “Exclusive 1st look inside Taylor Swift's secret sessions for 'Reputation'. ABC. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017. 
  32. ^ Peck, Christina (10 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift performs new 'Reputation' song, 'New Year's Day,' for fans at her home”. ABC. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2017. 
  33. ^ “Freeform's Exclusive Extended Performance of Taylor Swift's New Song "New Year's Day". Freeform. 10 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  34. ^ Brooks, Dave (10 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Planning Birthday Tour Announcement: Exclusive”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  35. ^ “Watch Taylor Swift's performances from SNL (Video)”. FanSided. 12 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017. 
  36. ^ Iasimone, Ashley (11 tháng 11 năm 2017). “5 Things We Want to See From Taylor Swift's 'SNL' Performance”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017. 
  37. ^ Frances, Lai (11 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift is bringing her new 'Reputation' to 'Saturday Night Live'. PopCrush. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017. 
  38. ^ Press, Associated (3 tháng 11 năm 2017). “Pre-Orders for Taylor Swift's 'Reputation' Reach More Than 400,000 units”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017. 
  39. ^ “Taylor Swift's 'Reputation' Sold 700,000 on First Day in U.S.”. Billboard. 11 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  40. ^ a ă Reputation – Taylor Swift on iTunes”. US: iTunes Store. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017. 
  41. ^ Brandle, Lars (7 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Shares 'Reputation' Tracklist, Confirms Ed Sheeran & Future Collab”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2017. 
  42. ^ “Reputation (Japan Deluxe Edition) [w/ DVD, Limited Edition] Taylor Swift CD Album”. CDJapan (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017. 
  43. ^ Lockett, Dee. “How 'I'm Too Sexy' Ended Up in Taylor Swift's 'Look What You Made Me Do'. Vulture. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017. 
  44. ^ "Taylor Swift – Reputation". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  45. ^ "Taylor Swift - Reputation" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập 23 tháng 11 năm 2017.
  46. ^ "Taylor Swift – Reputation" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  47. ^ "Taylor Swift – Reputation" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  48. ^ "Taylor Swift Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Taylor Swift. Prometheus Global Media. Truy cập 21 tháng 11 năm 2017.
  49. ^ "Top 50 Prodejní". Czech Albums. ČNS IFPI. Note: On the chart page, select 201746 on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data. Truy cập 21 tháng 11 năm 2017.
  50. ^ "Taylor Swift – Reputation". Danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017.
  51. ^ "Taylor Swift – Reputation". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  52. ^ "Taylor Swift: Reputation" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập 19 tháng 11 năm 2017.
  53. ^ "Taylor Swift – Reputation". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập 21 tháng 11 năm 2017.
  54. ^ "Offiziellecharts.de – Taylor Swift – Reputation" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017.
  55. ^ “Official IFPI Charts – Top-75 Albums Sales Chart (Week: 47/2017)”. IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017. 
  56. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 24 tháng 11 năm 2017.
  57. ^ "Taylor Swift – {{{album}}}". Irishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  58. ^ "Taylor Swift – Reputation". Italiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  59. ^ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập 15 tháng 11 năm 2017.
  60. ^ “Oricon Top 50 Western Albums: 2017-11-20” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  61. ^ “Top Álbum Del 10 al 16 de noviembre de 2017” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018. 
  62. ^ "Taylor Swift – Reputation". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập 17 tháng 11 năm 2017.
  63. ^ "Taylor Swift – Reputation". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  64. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập 23 tháng 11 năm 2017.
  65. ^ "Taylor Swift – Reputation". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017.
  66. ^ "20171117 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  67. ^ “2017년 51주차 Album Chart”. Gaon. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017. 
  68. ^ “Slovak Albums – Top 100” (bằng tiếng Slovak). ČNS IFPI. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017.  Note: On the chart page, select "SK – Albums – Top 100" and then 201746 in the boxes at the top, and then click the word "Zobrazit" to retrieve the correct chart data
  69. ^ “SA Top 20”. Radio Sonder Grense. 2 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  70. ^ "Taylor Swift – Reputation". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 23 tháng 11 năm 2017.
  71. ^ "Taylor Swift – Reputation". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  72. ^ "Taylor Swift – Reputation". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017.
  73. ^ "20171117 Top 40 Official UK Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 18 tháng 11 năm 2017.
  74. ^ "Taylor Swift Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Taylor Swift. Prometheus Global Media. Truy cập 21 tháng 11 năm 2017.
  75. ^ “ARIA End of Year Albums 2017”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018. 
  76. ^ “Ö3 Austria Top 40 – Album-Charts 2017”. oe3.orf.at. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017. 
  77. ^ “Jaaroverzichten Albums 2017”. Ultratop. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017. 
  78. ^ “Rapports Annuels Albums 2017”. Ultratop. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017. 
  79. ^ “Jaaroverzichten – Album 2017”. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017. 
  80. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts”. GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017. 
  81. ^ “年間ヒット音楽アルバム 2017年(平成29年)” (bằng tiếng Japanease). Oricon. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  82. ^ “Los más vendidos 2017” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  83. ^ “Top Selling Albums of 2017”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2017. 
  84. ^ “2017년 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  85. ^ “Schweizer Jahreshitparade 2017 – hitparade.ch”. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2017. 
  86. ^ White, Jack (3 tháng 1 năm 2018). “The Top 40 biggest albums of 2017 on the Official Chart”. Official Charts Company. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018. 
  87. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2017 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  88. ^ “Austrian album certifications – Taylor Swift – Reputation” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018.  Nhập Taylor Swift vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Reputation vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  89. ^ “Japan album certifications – Taylor Swift – Reputation” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.  Chọn 2018年月 trong menu thả xuống
  90. ^ “Certificaciones – Taylor Swift” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018. 
  91. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Reputation”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  92. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2018” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.  Nhập Taylor Swift vào ô tìm kiếm ở trên cùng. Nhấn vào "Sok" và chọn Reputation
  93. ^ “Britain album certifications – Taylor Swift – Reputation” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018.  Nhập Reputation vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  94. ^ “American album certifications – Taylor Swift – Reputation” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  95. ^ Caulfield, Keith (21 tháng 3 năm 2018). “Taylor Swift's 'Reputation' Becomes Only Album Released in Last Two Years to Sell 2 Million Copies in U.S.”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018. 
  96. ^ a ă “Taylor Swift – reputation – Amazon.com Music”. Amazon. ASIN B0754BBDF1. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2017. 
  97. ^ “Taylor Swift – Reputation” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Livraria Saraiva. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017. 
  98. ^ Stutz, Colin (30 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift's 'Reputation' Finally Headed for Streaming Services on Friday: Sources”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  99. ^ “Taylor Swift Karaoke: reputation by Taylor Swift”. iTunes Store. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2018. 
  100. ^ “Taylor Swift Karaoke: reputation by Taylor Swift on Amazon Music”. Amazon. ASIN B07B6BFN5R. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2018. 
  101. ^ “Taylor Swift Karaoke: reputation [CD+G & DVD] by Taylor Swift on Amazon Music”. Amazon. ASIN B07BSXQMBD. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  102. ^ “Tayloe Swift Karaoke: reputation by Taylor Swift on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]