Mariah Carey (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mariah Carey
Album phòng thu của Mariah Carey
Phát hành 12 tháng 6, 1990
Thu âm 1989–1990
Thể loại
Thời lượng 46:44
Hãng đĩa Columbia
Sản xuất
Thứ tự album của Mariah Carey
Mariah Carey
(1990)
Emotions
(1991)
Đĩa đơn từ Mariah Carey
  1. "Vision of Love"
    Phát hành: 15 tháng 5, 1990
  2. "Love Takes Time"
    Phát hành: 11 tháng 9, 1990
  3. "Someday"
    Phát hành: 13 tháng 11, 1990
  4. "I Don't Wanna Cry"
    Phát hành: 25 tháng 4, 1991
  5. "There's Got to Be a Way"
    Phát hành: 6 tháng 5, 1991

Mariah Careyalbum phòng thu đầu tay mang tên của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Mariah Carey, phát hành ngày 12 tháng 6 năm 1990 bởi Columbia Records. Album là sự kết hợp của một loạt các thể loại nhạc đương đại, kết hợp với những bản ballad chậm và dance. Ban đầu, Carey đã viết bốn bài hát với Ben Margulies, nhưng chỉ được hoàn tất dưới dạng bản thu nháp. Ngay sau khi cô ký hợp đồng thu âm với Columbia, tất cả chúng đều đã được hoàn thiện và đưa vào album. Ngoài Margulies, Carey đã làm việc với một loạt các nhà soạn nhạc và nhà sản xuất chuyên nghiệp, dưới sự chỉ đạo từ giám đốc điều hành của Columbia, Tommy Mottola, bao gồm Rhett Lawrence, Ric WakeNarada Michael Walden, tất cả họ đều là những nhà sản xuất hàng đầu vào thời điểm đó. Cùng với Carey, họ đóng góp xây dựng album và tái tạo lại những bản thu nháp ban đầu của cô.

Sau khi phát hành, album nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ khen ngợi chất giọng và kỹ thuật thanh nhạc của Carey, cũng như nội dung album. Về mặt thương mại, Mariah Carey gặt hái nhiều thành công rực rỡ, đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 trong 11 tuần liên tiếp. Nó cũng gặt hái những thành công tương tự tại Canada, đứng đầu bảng xếp hạng tại đây và được chứng nhận 7 lần đĩa bạch kim. Trên thị trường quốc tế, Mariah Carey cũng đạt được thành tích ấn tượng, lọt vào top 10 tại Hà Lan, Úc, New Zealand, Na Uy, Thụy Điển và Vương quốc Anh. Tính đến nay, album đã bán được hơn 15 triệu bản trên toàn cầu.

Năm đĩa đơn đã được phát hành từ album, bốn trong số đó đã vươn lên vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. "Vision of Love" được chọn làm đĩa đơn đầu tiên, đứng đầu các bảng xếp hạng ở Canada, New Zealand, và Hoa Kỳ. Nó được giới phê bình khen ngợi, và được coi là một trong những đĩa đơn đầu tay thành công nhất của một nữ nghệ sĩ. Đĩa đơn thứ hai "Love Takes Time" cũng được đón nhận và đứng đầu các bảng xếp hạng ở Canada và Hoa Kỳ. Với hai đĩa đơn tiếp theo, "Someday" và "I Don't Wanna Cry" đều đạt vị trí quán quân tại Hoa Kỳ, Carey trở thành nghệ sĩ đầu tiên kể từ The Jackson 5 có 4 đĩa đơn đầu tay đều đứng đầu bảng xếp hạng tại đây.

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Tommy Mottola và một vài quan chức của Sony/Columbia tin rằng Carey rất có tiềm năng để trở thành một ngôi sao lớn, vì thế album đầu tay của cô được hợp tác cẩn thận với một nhóm các lãnh đạo trong công ty, và dĩ nhiên Carey và Margulies được cho là không phù hợp với việc sản xuất. Mottola và ban quản trị muốn một album đầu tay với những âm thanh đương đại (giống như album đầu tay mang chính tên của Whitney Houston (1985), trong đó một vài ý kiến cho là Carey khó có thể làm được điều tương tự) khi mà rồi chúng sẽ vượt qua và lôi cuốn cả thị trường R&B và thị trường âm nhạc chính.

Ban quản trị đã tập hợp các nhà sản xuất danh tiếng nhất thời đó lại để sản xuất các ca khúc của Margulies và Carey viết, cũng như sản xuất và đồng sáng tác với cô chất liệu mới. Họ bao gồm Rhett Lawrence, Ric Wake, Narada Michael Walden, và chỉ có 6 trên tổng số gần 20 bài hát của Carey và Margulies sáng tác được đưa vào album.

Sự đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Để tạo dựng hình ảnh của mình trước khi phát hành album, Carey đã biểu diễn 3 bài hát trước những khách mời trong buổi dạ hội thân mật. Và có buổi truyền hình đầu tiên trên The Arsenio Hall Show, Columbia Records đã sắp xếp để cô trình diễn "America the Beautiful" tại NBA National basketball finals. Carey luôn được hỏi cho tour diễn, nhưng cô đã từ chối vì bị chứng sợ sân khấu trong thời gian này.

Mariah Carey xuất hiện trên Billboard 200 ở vị trí 80 và lọt vào top 20 sau 4 tuần. Album đạt quán quân sau 43 tuần, trụ vững trong 11 tuần liên tiếp, là album quán quân lâu nhất trong sự nghiệp của Carey. Và trở lại top 20 sau 65 tuần, tính ra album có 113 tuần trong bảng xếp hạng này, được RIAA chứng nhận 9 lần bạch kim vào ngày 15 tháng 12 năm 1999. Đây là một trong những album bán chạy nhất ở Mỹ và cũng trong năm 1990, tháng 3 năm 2006 đã có 9 triệu bản được tiêu thụ tại đây.[2]

Sự thành công của Mariah Carey bên ngoài thị trường Bắc Mỹ vẫn còn bị giới hạn. Album được đón nhận tại Canada, đạt quán quân trong 1 tuần và 7 lần đĩa bạch kim, #6 tại AnhAustralia; ở những nước quen thuộc đĩa nhạc cũng nằm trong top 75 suốt 36 tuần lễ liên tiếp, được chứng nhận 5 lần bạch kim. Sự thành công đã lan tới Brasil nhưng vẫn còn bị hạn chế ở châu Âu. Tháng 11 năm 2005, ước tính đã có 13.5 triệu bản tiêu thụ trên toàn thế giới.[3]

Các đĩa đơn trích ra từ album chỉ thành công tương đối ở đa số các thị trường âm nhạc nhưng lại rất phổ biến tại Mỹ, biến cô trở thành một ngôi sao tại đây. "Vision of Love" khởi đầu cho một loạt những ca khúc quán quân Hot 100 của Carey, dẫn đầu các bảng xếp hạng tại nhiều nơi như Canada, Brasil, New Zealand. "Love Takes Time" mặc dù đứng thứ nhất cả ở Mỹ lẫn Canada, nhưng lại không được nổi bật trên thế giới, như ở Anh, ca khúc đã thất bại. "Someday" là đĩa đơn quán quân tiếp theo ở Mỹ nhưng chỉ đứng thứ 5 tại Canada và không được quan tâm ở những nơi khác. "I Don't Wanna Cry" đã kết nối Carey với The Jackson 5 khi cùng có đĩa đơn thứ tư quán quân tại Mỹ, tại các thị trường khác ca khúc chỉ đạt được thành công rất nhỏ (ngoại trừ Canada) khi lọt ra ngoài top ten. "There's Got to Be a Way" phát hành tại một số nước châu Âu như Anh, cũng lọt vào top 40. Đĩa đơn thứ năm "Prisoner", dự định tung ra tại Mỹ sau "I Don't Wanna Cry", nhưng do kế hoạch chuẩn bị cho album thứ hai sắp tới Emotions nên đã không được phát hành.

Mariah Carey được đề cử trong Giải Grammy năm 1991 cho "Album của năm" trong khi "Vision of Love" nhận được đề cử cho hạng mục "Bài hát của năm", "Ghi âm của năm" và " Trình diễn giọng nữ pop xuất sắc nhất". Carey đã chiến thắng với giải sau cùng và giải "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất". Các giải còn lại như: "Album của năm" thuộc về Back on the Block sản xuất bởi Quincy Jones, "Bài hát của năm" được trao cho "From a Distance" của Julie Gold sản xuất bởi Bette Midler, và Phil Collins nhận được "Ghi âm của năm" với "Another Day in Paradise".

Syesha Mercado trong American Idol (mùa 7) đã hát lại ca khúc "Vanishing".

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Vision of Love"   Mariah Carey, Ben Margulies Rhett Lawrence, Narada Michael Walden 3:28
2. "There's Got to Be a Way"   Carey, Ric Wake Wake, Walden 4:53
3. "I Don't Wanna Cry"   Carey, Walden Walden 4:48
4. "Someday"   Carey, Margulies Ric Wake 4:08
5. "Vanishing"   Carey, Margulies Carey 4:12
6. "All in Your Mind"   Carey, Margulies Margulies, Wake 4:44
7. "Alone in Love"   Carey, Margulies Lawrence 4:12
8. "You Need Me"   Carey, Lawrence Lawrence 3:51
9. "Sent from Up Above"   Carey, Lawrence Lawrence 4:05
10. "Prisoner"   Carey, Margulies Wake 4:24
11. "Love Takes Time"   Carey, Margulies Walter Afanasieff 3:49

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[23] 2× Bạch kim 140.000^
Canada (Music Canada)[37] 7× Bạch kim 700.000^
Nhật (RIAJ)[38] 3× Bạch kim 600.000^
Hà Lan (NVPI)[39] Bạch kim 100.000^
New Zealand (RMNZ)[40] 4× Bạch kim 60.000^
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[41] Vàng 50.000^
Thụy Điển (GLF)[42] Bạch kim 100.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[43] Gold 25.000x
Anh (BPI)[44] Bạch kim 300.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[45] 9× Bạch kim 9.000.000^
Tóm lược
Toàn cầu 15,000,000[46]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Erlewine, Stephen Thomas (11 tháng 8 năm 1990). “Mariah Carey”. AllMusic. All Media Guide. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ Frere-Jones, Sasha. "On Top: Mariah Carey’s record-breaking career". The New Yorker. April 3, 2006.
  3. ^ Album Mariah Carey
  4. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  5. ^ “RPM 100 Albums”. RPM. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  8. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ “Albumit 1990-10 lokakuu” (bằng tiếng Finnish). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  10. ^ “Mariah Carey - Offizielle Deutsche Charts” (bằng tiếng German). GfK Entertainment. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  11. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  12. ^ “マライア・キャリーのアルバム売り上げランキング” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  13. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  14. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  15. ^ "1994-04-09 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 21 tháng 10 năm 2015.
  16. ^ “1990 Albumes”. PROMUSICAE. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  17. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  18. ^ "Mariah Carey – Mariah Carey". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  19. ^ "Mariah Carey | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  20. ^ "1994-10-09 Top 40 R&B Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 21 tháng 10 năm 2015.
  21. ^ "Mariah Carey Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Mariah Carey. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  22. ^ "Mariah Carey Album & Song Chart History" Billboard Top R&B/Hip Hop Albums cho Mariah Carey. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  23. ^ a ă Ryan, Gavin (2011). Australia's Music Charts 1988–2010. Mt. Martha, VIC, Australia: Moonlight Publishing. 
  24. ^ “Top 100 Albums of 1990”. RPM. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  25. ^ “Jaaroverzichten - Album 1990” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  26. ^ “1990年 アルバム年間TOP100” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  27. ^ “Top Selling Albums of 1990”. RIANZ. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  28. ^ “Topp 40 Album Sommer 1990” (bằng tiếng Norwegian). VG-lista. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  29. ^ a ă “1990 Year-end Charts” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  30. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 50 Albums 1991”. ARIA. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  31. ^ “Top 100 Albums of 1991”. RPM. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  32. ^ “Jaaroverzichten - Album 1991” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  33. ^ “Top Selling Albums of 1991”. RIANZ. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  34. ^ a ă “1991 Year-end Charts” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  35. ^ Geoff Mayfield (25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade – The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  36. ^ “Greatest of All Time — Billboard 200”. Billboard. Prometheus Global Media. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015. 
  37. ^ “Canada album certifications – Mariah Carey – Mariah Carey”. Music Canada. Truy cập 2008. 
  38. ^ “RIAJ > The Record > November 1996 > Highest Certified International Albums/Singles (Mar '89 - Sep '96)” (PDF). Recording Industry Association of Japan (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2014. 
  39. ^ “Netherlands album certifications – Mariah Carey – Mariah Carey” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. Truy cập 2013. 
  40. ^ “New Zealand album certifications – Mariah Carey – Mariah Carey”. Recorded Music NZ. 
  41. ^ Fernando Salaverri (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  42. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập 2010. 
  43. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Mariah Carey; 'Mariah Carey')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập 2010. 
  44. ^ “Britain album certifications – Mariah Carey – Mariah Carey” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập 2010.  Nhập Mariah Carey vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  45. ^ “American album certifications – Mariah Carey – Mariah Carey” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập 2010.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  46. ^ “BET Exclusive: Mariah Celebrates 20 Years; Thanks Fans”. Black Entertainment Television. Viacom. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010.