Eminem

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eminem
Eminem - Concert for Valor in Washington, D.C. Nov. 11, 2014 (2).jpg
Eminem biểu diễn tháng 11 năm 2014
Sinh Marshall Bruce Mathers III
17 tháng 10, 1972 (43 tuổi)
St. Joseph, Missouri, Hoa Kỳ
Tên khác
  • Double M
  • M&M
  • Marshall Mathers
Công việc
  • Rapper
  • nhà sản xuất thu âm
  • người viết ca khúc
  • diễn viên
Năm hoạt động 1992–nay
Quê quán Detroit, Michigan, Hoa Kỳ
Vợ (chồng) Kimberly Anne Scott (cưới năm 1999, ly dị năm 2001, cưới năm 2006, ly dị năm 2006)
Con cái 3[1]
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Hip hop
Nhạc cụ
Hãng đĩa
Hợp tác với
Website eminem.com

Marshall Bruce Mathers III (sinh ngày 17 tháng 10, 1972),[2] nghệ danh Eminem (thường được cách điệu là EMINƎM), là một rapper, người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ có tới từ Detroit, Michigan. Ngoài sự nghiệp solo, anh còn là thành viên của D12; cùng với Royce da 5'9" tạo thành bộ đôi hip-hop Bad Meets Evil. Eminem là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất Hoa Kỳ trong thập niên 2000. Rolling Stone xếp anh ở vị trí 83 trong danh sách 100 Nghệ sĩ Xuất sắc nhất Mọi thời đại và gọi anh là Ông vua nhạc Hip hop. Tính cả các album cùng D12 và Bad Meets Evil, Eminem đã có 10 album quán quân trên Billboard 200. Anh cũng đã bán ra trên 172 triệu album, trở thành một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất. Tính tới tháng 6 năm 2014, Eminem là nghệ sĩ nam bán đĩa chạy thứ hai trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan, nghệ sĩ bán đĩa chạy thứ sáu tại Hoa Kỳ và nghệ sĩ hip hop bán đĩa chạy nhất với doanh số 45,1 triệu album và 42 triệu bài hát.

Sau album đầu tay Infinite (1996), Eminem trở nên nổi tiếng vào năm 1999 với The Slim Shady LP, album mang về cho anh giải Grammy cho Album Rap xuất sắc nhất. Hai phát hành sau đó The Marshall Mathers LP (2000) và The Eminem Show (2002), đều đạt được thành công trên toàn cầu khi đều được chứng nhận kim cương tại Hoa Kỳ cũng như đều giành giải Album Rap xuất sắc nhất (Eminem là nghệ sĩ đầu tiên có ba LP liên tiếp giành giải này). Sau đó là sự ra đời của Encore vào năm 2004, một thành công trên cả phương diện phê bình và thương mại. Eminem tiếp tục phát hành Relapse vào năm 2009 và Recovery vào năm 2010. Cả hai album đều đoạt giải Grammy còn riêng Recovery trở thành album bán chạy nhất thế giới năm 2010, lần thứ hai anh có album bán chạy nhất năm trên bình diện quốc tế (sau The Eminem Show). A;bum thứ tám của Eminem vào năm 2013 mang tên The Marshall Mathers LP 2 giành hai giải Grammy trong đó có Album Rap xuất sắc nhất; nâng số giải Grammy lên con số 15.

Eminem cũng thực hiện một số dự án kinh doanh như hãng thu âm Shady Records với Paul Rosenberg. Anh cũng sở hữu kênh phát thanh riêng Shade 45 trên đài Sirius XM Radio. Vào tháng 11 năm 2002, Eminem góp mặt trong bộ phim hip hop 8 Mile. Anh là nghệ sĩ rap đầu tiên giành Giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất với "Lose Yourself".[3] Eminem cũng đóng vai khách mời trong các phim The Wash (2001), Funny People (2009), The Interview (2014) và loạt phim truyền hình Entourage (2010).

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1972–91: Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mathers sinh năm 1972 tại St. Joseph, Missouri. Anh là con trai duy nhất của Marshall Bruce Mathers, Jr. (sinh năm 1951, gọi thân mật là Bruce) và Deborah Rae Nelson (sinh năm 1955, gọi thân mật là Debbie).[4][5][6] Eminem mang trong mình dòng máu Anh, Đức, Scotland và Thụy Sĩ.[7] Năm 14 tuổi Debbie gặp Bruce lúc đó 18 tuổi;[6] năm 17 tuổi bà suýt chết khi sinh hạ Mathers sau 73 giờ đồng hồ lao động.[8] Cha mẹ của Eminem chơi nhạc trong ban nhạc Daddy Warbucks, tại các nhà nghỉ của chuỗi khách sạn Ramada dọc biên giới các tiểu bang Dakota-Montana trước khi ly thân. Bruce bỏ rơi gia đình và chuyển tới California[9] đồng thời có thêm hai đứa con: Michael và Sarah (sinh khoảng năm 1982).[10] Debbie sau đó sinh thêm một người con trai, Nathan Kane Samara, sinh năm 1986.[6] Eminem và Debbie thường đi lại qua hai tiểu bang Missouri và Michigan chứ ít khi sống cố định ở một ngôi nhà trong hơn một hay hai năm hay sống chung với người thân trong gia đình. Tại Missouri họ cư ngụ ở nhiều nơi như Saint Joseph, SavannahKansas City.[11][12] Khi lên thiếu niên, Eminem viết nhiều lá thư cho bố anh; theo lời Debbie, tất cả các bức thư đều trở lại với dòng chữ "Trả lại người gửi."[9] Eminem trong trí nhớ của người thân và bạn bè là một đứa trẻ vui vẻ nhưng "hơi cô độc" và thường bị bắt nạt. Một trong những kẻ bắt nạt, De'Angelo Bailey, làm Eminem chấn thương nặng ở đầu; Debbie Nelson làm đơn kiện trường học vào năm 1982 nhưng bị bác bỏ một năm sau.[8]

Eminem trải qua quãng đời trai trẻ của mình với những người ở tầng lớp hạ-trung lưu, chủ yếu là khu người Mỹ gốc Phi ở Detroit.[9] Anh và Debbie là một trong ba hộ gia đình người da trắng ở dãy nhà của họ, trong khi Eminem nhiều lần bị đánh bởi nhóm thanh niên người da màu.[9] Khi còn nỏ anh thích kể truyện với mong ước trở thành họa sĩ truyện tranh trước khi tới với hip hop.[13] Eminem nghe bài hát rap đầu tiên ("Reckless" của Ice-T) trong nhạc phim Breakin', một món quà từ Ronnie Polkinghorn, người thân của bà Debbie, người sau này hướng dẫn về âm nhạc cho anh. Khi Polkinghorn tự tử năm 1991, Eminem không nói chuyện trong nhiều ngày và cũng không dự đám tang.[9][14]

Cuộc sống của Eminem hiếm khi yên ả; anh thường tranh cãi với mẹ, người được một nhân viên xã hội miêu tả là "rất đáng ngờ, gần như hoang tưởng". Khi con trai bà trở nên nổi tiếng, Debbie nổi giận với ý kiến cho rằng bà thiếu chuẩn mực của một người mẹ, và cho rằng bà đã có công chăm non, che chở anh và đóng góp vào thành công của anh. Vào năm 1987, Debbie cho phép Kimberly Ann "Kim" Scott ở lại nhà của họ; một vài năm sau, Eminem bắt đầu có tình cảm với Scott.[8] Sau khi mất ba năm chỉ để học lớp 9 do trốn học và điểm kém,[15] anh bỏ học tại trường Lincoln High School năm 17 tuổi. Mặc dù có hứng thú với tiếng Anh, anh chưa bao giờ khám phá văn học cũng như ghét các môn toán và xã hội.[16] Eminem đi làm nhiều công việc để giúp mẹ mình trả phí sinh hoạt, nhưng sau đó xác nhận rằng bà cũng hay đuổi anh ra ngoài. Khi bà ra ngoài chơi bingo, anh sẽ vặn thật to chiếc đài và ngồi viết các ca khúc.[9]

Năm 14 tuổi, anh bắt đầu hát rap với bạn học Mike Ruby; họ lấy tên là "Manix" và "M&M". "M&M" sau này chuyển thành "Eminem".[2][8] Eminem hay "mò" vào trường Osborn High School gần đó với người bạn rapper Proof để tranh tài rap.[17] Mỗi thứ bảy họ tới dự các cuộc thi open-mic tại Hip-Hop Shop trên đường West 7 Mile. Đây được coi là khởi đầu cho giới rap tại Detroit.[9] Nhờ nỗ lực đạt được thành công trong một nền công nghiệp mà người Mỹ gốc Phi chiếm ưu thế, Eminem được khán giả underground hip hop đánh giá cao.[2][18][19]

1992–99: Đầu sự nghiệp, Infinite, và The Slim Shady LP[sửa | sửa mã nguồn]

Danh tiếng của Eminem giúp anh được nhiều nhóm rap thu nhận trong đó có New Jacks. Sau khi nhóm này tan rã anh gia nhập Soul Intent. Nhóm ra mắt đĩa đơn trong EP cùng tên với sự góp mặt của Proof.[2] Eminem và Proof sau đó hợp tác với bốn rapper khác thành lập nên nhóm Dirty Dozen (D12), ra mắt album đầu tay Devil's Night năm 2001.[9] Eminem dính líu tới luật pháp lần đầu năm 20 tuổi khi bị bắt vì tham gia trò bắn súng sơn từ trên xe. Vụ án bị hủy vì nạn nhân không xuất hiện tại tòa.[8]

Eminem sau đó kí hợp đồng với FBT Productions của Jeff và Mark Bass, và thu album đầu tiên Infinite với hãng thu âm Web Entertainment của FBT.[20] Một trong các chủ đề trong ca từ của Infinite là sự khó khăn khi phải nuôi lớn cô con gái mới sinh, Hailie Jade Scott Mathers, mà trong tay không có nhiều tiền. Trong thời gin này phong cách gieo vần của Eminem, chịu ảnh hưởng từ Nas, Esham và AZ, thiếu tính bạo lực khôi hài mà anh thể hiện sau này.[21] Các DJ ở Detroit hầu như không quan tâm tới Infinite, và phản hồi mà Eminem nhận được ("Sao cậu không làm nhạc rock & roll ấy?") dẫn tới việc anh bắt đầu làm các ca khúc thể hiện thái độ tức giận và khó chịu hơn.[9] Eminem và Kim Scott thời gian này sống trong một khu dân cư nhiều tội phạm, hậu quả là nhà anh nhiều lần bị trộm cướp viếng thăm.[9] Eminem nấu ăn và rửa bát với thu nhập tối thiểu tại Gilbert's Lodge, một nhà hàng ở St. Clair Shores.[22] Người chủ cũ của anh miêu tả Eminem là một nhân viên gương mẫu khi làm việc 60 tiếng một tuần sau khi Hailie ra đời.[8] Anh bị buộc thôi việc ngay trước dịp Giáng sinh, và nói rằng mình chỉ có "bốn mươi đô để mua tặng con bé thứ gì đó."[9] Sau khi ra Infinite, các vấn đề cá nhân và việc lạm dụng thuốc từng khiến anh tìm tới cái chết.[2] Tháng 3 năm 1997 anh bị đuổi khỏi Gilbert's Lodge lần cuối cùng và số trong nhà di động của mẹ anh cùng với Kim và Hailie.[8]

Eminem ở Đức năm 1999

Eminem thu hút nhiều sự chú ý hơn với "Slim Shady", một hình tượng bạo lực và bệnh hoạn. Nhân vật này, "một tên côn đồ buôn ma túy khát máu, bắn ra những giai điệu mạnh mẽ điên cuồng về giết người, hiếp dâm, ma túy và sống trong luật rừng", đã cho phép anh có thể biểu lộ sự giận dữ của mình.[8] Mùa xuân năm 1997 anh thu EP đầu tiên, Slim Shady EP, và được Web Entertainment phát hành cuối năm đó.[9] EP ngoài nói nhiều tới chuyện sử dụng ma túy, các hành vi tình dục, sự bất ổn về tinh thần và nạn bạo lực, cũng khám phá các chủ đề nghiêm túc hơn như đương đầu với cảnh nghèo túng, với những khó khăn trong hôn nhân và gia đình, cũng như cho thấy phản biện thẳng thắn, tự ti của Eminem.[2] Tạp chí hip-hop The Source viết về Eminem trong mục "Unsigned Hype" vào tháng 3 năm 1998.[23]

Sau khi bị đuổi khỏi nhà mình, Eminem chuyển tới Los Angeles để tranh tài tại cuộc thi Rap Olympics 1997. Sau khi anh đứng ở vị trí thứ hai, người của Interscope Records tới xem đã gửi một đĩa của Slim Shady EP tới CEO Jimmy Iovine của công ty này. Iovine mở chiếc đĩa cho nhà sản xuất Dr. Dre, người nhớ lại khoảnh khắc đó: "trong cả sự nghiệp trong ngành công nghiệp âm nhạc, tôi chưa từng tìm thấy điều gì trong một chiếc đĩa demo hay CD. Khi Jimmy bật nó lên, tôi nói, 'Đi tìm anh chàng này. Ngay lập tức.'" Mặc dù bị các cộng sự chỉ trích vì kí hợp đồng với một rapper da trắng, Iovine vẫn tự tin: "Tôi đếch quan tâm dù da cậu màu tím đi chăng nữa; nếu cậu thấy thoải mái, tôi sẽ làm việc với cậu."[9] Dre là thần tượng thời niên thiếu của Eminem, và anh từng khá lo lắng khi làm việc với ông trong một album: "Tôi không muốn trở nên bị ám ảnh bởi danh vọng hay nịnh nọt ông ấy quá  ... Tôi chỉ là một cậu bé da trắng đến từ Detroit. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy các ngôi sao, nói gì tới Dr. Dre."[24] Anh dần thoải mái hơn khi làm việc với Dre tham gia sau nhiều buổi thu chất lượng.[25]

Eminem phát hành The Slim Shady LP vào tháng 2 năm 1999. Mặc dù là một trong những album nổi nhất năm (được chứng nhận bạch kim ba lần trong năm),[26] anh vẫn bị cáo buộc bắt chước phong cách và chủ đề của rapper Cage.[27][28] Sự nổi tiếng của album đi kèm với tranh cãi về lời bài hát; cụ thể trong "'97 Bonnie and Clyde" Eminem nói về chuyến đi chơi với cô con gái nhỏ nhưng đồng thời là để vứt đi cơ thể của vợ mình, và trong "Guilty Conscience" anh khuyến khích một người đàn ông giết vợ và người yêu của anh ta. Guilty Conscience đánh dấu tình bạn và sự gắn bó về âm nhạc của Dr. Dre và Eminem. Họ sau đó hợp tác trong một số bản hit khác như ("Forgot About Dre" và "What's the Difference" trong album 2001 của Dre và "Bitch Please II" trong The Marshall Mathers LP, "Say What You Say" trong The Eminem Show, "Encore/Curtains Down" trong Encore, cũng như "Old Time's Sake" và "Crack a Bottle" trong Relapse). Dre đều ít nhất một lần xuất hiện với tư cách khách mời trong mọi album Eminem phát hành dưới tên hãng Aftermath.[29]

2000–02: The Marshall Mathers LPThe Eminem Show[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem and Proof at Voodoo Experience in October 2000

The Marshall Mathers LP được phát hành tháng 5 năm 2000. Album bán được 1.760.000 bản trong tuần đầu tiên, phá kỷ lục tại Mỹ dành cho album hip hop bán nhanh nhất (Doggystyle của Snoop Dogg) vầ album solo bán nhanh nhất ...Baby One More Time của Britney Spears).[30][31] Đĩa đơn đầu tiên trong album, "The Real Slim Shady", thành công bất chấp nhiều tranh cãi về những lời lăng mạ và khẳng định gây nghi ngờ của Eminem về những người nổi tiếng.[32] Trong đĩa đơn thứ hai, "The Way I Am", anh nói về áp từ từ phía công ty thu âm buộc anh phải đưa đĩa đơn "My Name Is" tới thành công. Trong đĩa đơn thứ ba, "Stan" (lấy mẫu bài hát "Thank You" của Dido) Eminem nói về sự nổi tiếng mới đến với mình bằng câu chuyện về người hâm mộ tự sát và giết bạn gái đang mang bầu của anh ta.[18] Tạp chí Q chọn "Stan" là bài hát rap vĩ đại thứ ba mọi thời đại,[33] trong khi Top40-Charts.com đặt bài hát ở vị trí thứ 10.[34] Bài hát còn đứng thứ 296 trong danh sách "500 Greatest Songs of All Time" (500 bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại) của tạp chí Rolling Stone.[35] Tháng 7 năm 2000, Eminem trở thành nghệ sĩ da trắng đầu tiên xuất hiện trên bìa tạp chí The Source.[23] The Marshall Mathers LP được chứng nhận bạch kim 11 lần từ RIAA.

Tại lễ trao giải Grammy lần thứ 43 vào năm 2001 Eminem biểu diễn "Stan" cùng Elton John.[36] Tổ chức Gay & Lesbian Alliance Against Defamation (GLAAD, một tổ chức xem lời bài hát của Eminem là kì thị người đồng tính) phê phán quyết định biểu diễn cùng Eminem của John.[37] Tờ Entertainment Weekly xếp màn biểu diễn này trong danh sách "xuất sắc nhất" cuối thập kỷ: "Cái ôm đó được cả thế giới biết đến. Eminem, người bị chỉ trích vì lời bài hát kì thị, đã chia sẻ sân khấu để biểu diễn "Stan" với một biểu tượng đồng tính, điều luôn đáng nhớ trong bất kỳ hoàn cảnh nào."[38] Vào ngày 21 tháng 2, ngày lễ trao giải diễn ra, GLAAD tổ chức buổi biểu tình bên ngoài Staples Center (địa điểm tổ chức giải Grammy 2001).[39] Vào năm 2001 Eminem xuất hiện trong Up in Smoke Tour với các rapper Dr. Dre, Snoop Dogg, XzibitIce Cube[40] và trong Family Values Tour với Limp Bizkit,[41] đồng thời là ngôi sao chính trong Anger Management Tour với Papa Roach, LudacrisXzibit.

The Eminem Show phát hành tháng 5 năm 2002. Album đoạt ngôi quán quân trên nhiều bảng xếp hạng và bán ra trên 1,332 triệu bản trong tuần đầu.[26] Single "Without Me", chế nhạo Limp Bizkit, Dick CheneyLynne Cheney, Moby và nhiều người khác. The Eminem Show (được chứng nhận bạch kim 10 lần từ RIAA) nói về các tác động của sự nổi tiếng đối với anh, mối quan hệ với người vợ và con gái cùng vị thế trong giới hip-hop, về việc tấn công một người đàn ông mà Eminem trông thấy đang hôn vợ của anh năm 2000. Mặc dù một số track biểu lộ sự giận dữ rất rõ ràng, Stephen Thomas Erlewine của AllMusic cho rằng The Eminem Show ít khiêu khích hơn The Marshall Mathers LP.[42] L. Brent Bozell III, người từng chỉ trích The Marshall Mathers LP vì lời bài hát mang tính ghét phụ nữ, nói nhiều tới việc sử dụng quá nhiều từ tục tĩu của The Eminem Show và gọi Eminem là "Eminef" vì sự xuất hiện liên tục của từ "motherfucker" trong album.[43] The Eminem Show là album bán chạy nhất năm 2002.[44]

2003–07: Encore và tạm dừng hoạt động âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem tại Anger Management Tour để quảng bá cho Encore

Encore được phát hành năm 2004. Đĩa đơn đầu tiên, "Just Lose It", gây chú ý vì chứa ca tiêu cực từ nhắm tới Michael Jackson. Vào ngày 12 tháng 10, 2004, một tuần sau khi "Just Lose It" ra mắt, Jackson gọi điện cho chương trình phát thanh của Steve Harvey ở Los Angeles bày tỏ sự không hài lòng đối với video bài hát (video lại lại một số tai tiếng của Jackson như lạm dụng tình dục trẻ em, phẫu thuật tạo hình hay tai nạn làm cháy mái tóc của ông năm 1984). Nhiều người thân và người hâm mộ của Jackson tỏ ý phản đối như Stevie Wonder (gọi video là hành động "đánh kẻ ngã ngựa" và " trò vớ vẩn")[45] và Steve Harvey.[45] Video cũng nhại lại Pee-wee Herman, MC HammerMadonna trong giai đoạn Blond Ambition.[46] "Weird Al" Yankovic, người hát nhại "Lose Yourself" với tên "Couch Potato" trong album Poodle Hat của ông năm 2003, nói với Chicago Sun-Times về sự phản kháng của Jackson: "Năm ngoái, Eminem buộc thôi dừng sản xuất video parody bài 'Lose Yourself' vì cậu ta nghĩ nó sẽ làm hỏng hình ảnh và sự nghiệp cậu ta. Cho nên tôi không lạ gì sự trớ trêu mà Michael phải qua."[47] Mặc dù Black Entertainment Television ngừng không phát video nữa, MTV thông báo vẫn tiếp tục chiếu video này. Tờ The Source, thông qua CEO Raymond "Benzino" Scott, kêu gọi dỡ bỏ video, loại bài hát ra khỏi album còn Eminem phải công khai xin lỗi Jackson.[48] Năm 2007 Jackson và Sony mua lại Famous Music từ Viacom, giúp Jackson có trong tay bản quyền các bài hát của Eminem, Shakira, Beck và nhiều người khác.[49]

Mặc dù đĩa đơn đầu tiên có chủ đề hài hước, Encore lại khám phá những vấn đề nghiêm túc với bài hát phản chiến "Mosh". Bài hát chỉ trích Tổng thống George W. Bush trong lời bài hát như "to disarm, this weapon of mass destruction that we call our president" (ám chỉ việc Bush lấy lý do đưa quân tới Iraq là do vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng chính ông mới là thứ nguy hiểm đó).[50] Vào ngày 25 tháng 10, 2004, một tuần trước bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2004, Eminem phát hành video âm nhạc của "Mosh" trên mạng Internet.[51] Trong video dưới dạng hoạt hình, Eminem tập hợp một đội quân (trong đó có rapper Lloyd Banks) các nạn nhân dưới sự cai trị của Bush và dẫu đầu họ tới Nhà Trắng. Khi họ xông vào, người ta mới biết họ ở đó để đăng ký bầu cử. Sau khi Bush tái đắc cử, đoạn kết của video được thay đổi với hình ảnh Eminem và những người biểu tình chiếm Nhà Trắng trong lúc tổng thống đang phát biểu.[52]

Vào năm 2005 Eminem xếp thứ 58 trong cuốn sách của Bernard Goldberg, 100 People Who Are Screwing Up America.[53] Goldberg trích dẫn một mục báo vào năm 2001 bởi Bob Herbert của tờ The New York Times, trong đó Herbert viết "Trong thế thế giới của Eminem, mọi phụ nữ đều là những mụ điếm và anh ta sẵn sàng hiếp và giết chết họ",[54] và bài hát "No One's Iller" trong Slim Shady EP làm ví dụ cho sự ghét nữ giới của rapper này.[55] Mùa hè năm đó Eminem thực hiện chuyến lưu diễn ba năm tại Hoa Kỳ khi Anger Management 3 Tour có sự tham gia của 50 Cent, G-Unit, Lil Jon, D12, Obie TriceThe Alchemist. Vào tháng 8 anh hủy bỏ đợt diễn tại châu Âu và thông báo rằng anh vừa bắt đầu quá trình phục hồi khỏi "sự lệ thuộc vào thuốc ngủ".[56] Curtain Call: The Hits phát hành 6 tháng 12, 2005 dưới tên hãng Aftermath Entertainment,[57] bán ra trong tuần đầu tiên gần 441.000 bản tại Hoa Kỳ, và là album thứ tư liên tiếp của Eminem đoạt ngôi quán quân trên Billboard Hot 200.[58] Album được chứng nhận bạch kim hai lần từ RIAA.

2008–09: Relapse and Refill[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem biểu diễn cùng D12 tháng 5 năm 2009

Eminem xuất hiện trên kênh Shade 45 Sirius của anh vào tháng 9 năm 2008 với tuyên bố rằng mình đang trong quá trình tập trung vào việc sản xuất album mới.[59] Interscope xác nhận album mới[60] sẽ được phát hành vào mùa xuân 2009.[61] Vào tháng 12 năm 2008 Eminem tiết lộ thêm một số chi tiết của album có tên Relapse: "Tôi và Dre dang trở lại phòng thu như xưa. Dre sẽ sản xuất phần lớn các track trong 'Relapse'. Chúng tôi sẽ về với phong cách tinh quái trước kia ... tôi chỉ có thể tiết lộ thế thôi."[62]

Theo tin từ một cuộc họp báo vào tháng ba năm 2009, Eminem sẽ ra mắt hai album mới. Đầu tiên là Relapse vào ngày 19 tháng 5. Đĩa đơn và video âm nhạc đầu tiên, "We Made You" được phát hành trước đó vào ngày 7 tháng 4.[63]Relapse không quá thành công về daonh thu như các album trước, nó vẫn nhận được nhiều ý kiến phê bình tích cực. Relapse được chọn là một trong các album số một năm 2009, bán được 5 triệu bản trên toàn thế giới. Vào ngày 30 tháng 10 anh có buổi biểu diễn chính đầu tiên trong năm tại Voodoo Experience ở New Orleans.[64] Vào ngày 19 tháng 11 Eminem thông báo trên mạng rằng Relapse: Refill sẽ được lên kệ ngày 21/12. Album là bản tái phát hành của Relapse với 7 track mới, trong đó có "Forever". Eminem cho biết năm nay anh "muốn gửi tới cho người hâm mộ nhiều phong cách hơn như tôi đã dự định ban đầu" và hy vọng các bài hát trong The Refill sẽ giúp người hâm mộ bớt trống trải trước khi Relapse 2 phát hành năm sau.[65]

2010–11: Recovery và Bad Meets Evil[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem biểu diễn "Love the Way You Lie" với Rihanna tại E3 Expo Party 2010

Vào ngày 14 tháng 10, 2010, Eminem tweet: "Sẽ không có Relapse 2". Mặc dù vậy album mới vẫn sẽ ra mắt và mang tên Recovery và xác nhận điều này bằng việc tweet "RECOVERY" kèm theo đường dẫn tới website của mình. Eminem cho biết anh "ban đầu đã dự định ra Relapse 2 năm ngoái." nhưng do "làm việc với nhiều nhà sản xuất mới nên ý tưởng về phần hai của Relapse nhạt dần" và anh "muốn làm một album hoàn toàn mới".[66] Album mới ra lò ngày 18 tháng 6.[66] Tại Hoa Kỳ Recovery bán được 741.000 bản trong tuần đầu tiên, đứng đầu trên Billboard 200.[67][68] Recovery đứng đầu trên Billboard 200 trong năm tuần liên tiếp trong tông số 7 tuần quán quân của album.[69][70]

Billboard đưa tin Recovery là album bán chạy nhất năm 2010, giúp Eminem trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử Nielsen SoundScan có 2 album bán chạy nhất năm (album còn lại là The Eminem Show).[71] Recovery cũng là album kỹ thuật số bán chạy nhất lịch sử.[72] Đĩa đơn đầu tiên, "Not Afraid", được ra mắt ngày 29 tháng 4 và xuất phát trên Billboard Hot 100 ngay ở vị trí số một. "Not Afraid" được tiếp nối bằng "Love the Way You Lie", bài hát xuất phá ở vị trí thứ hai trước khi lên ngôi ở vị trí số một trên Billboard Hot 100.[73] Mặc dù "Love the Way You Lie" là đĩa đơn bán chạy nhất 2010 tại Anh Quốc, nó lại chưa từng lên vị trí số một tại đây (lần đầu kể từ năm 1969).[74] Dù còn một số phê bình vì sự thiếu ổn định, Recovery nhìn chung vẫn được đánh giá tích cực. (Tính đến 21 tháng 11, 2010 (2010 -11-21)), Album có ba triệu bản được tiêu thụ tại Mỹ.[75]

Eminem góp mặt tại BET Awards 2010[76] với hai ca khúc "Not Afraid" và "Airplanes, Part II" với B.o.B, và biểu diễn tại buổi hòa nhạc Activison E3. Vào tháng 6 Eminem và Jay-Z thông báo sẽ diễn chung tại Detroit và New York tại các buổi diễn mang tên The Home & Home Tour. Hai concert đầu tiên nhanh chóng cháy vé khiến ban tổ chức bổ sung thêm một show nữa tại mỗi thành phố.[77] BET gọi Eminem là rapper số một thế kỷ 21.[78] Anh mở màn MTV Video Music Awards 2010 vào ngày 12/9 với "Not Afraid" và "Love the Way You Lie" với Rihanna.[79] Nhờ thành công của Recovery và Home & Home Tour, Eminem được MTV chọn là Hottest MC in the Game 2010[80] và Emcee của năm bởi tạp chí mạng HipHopDX.[81] Anh và Rihanna sau đó hợp tác trong "Love the Way You Lie (Part II)", phân kế tiếp của đĩa đơn hit. Trong bản này, Rihanna là ca sĩ chính và hát bài hát từ góc nhìn của nhân vật nữ.[82] Vào tháng 12 năm 2010, "Recovery" được Billboard xếp số một trong danh sách Top 25 Khoảnh khắc Âm nhạc 2010.[83] Anh cũng xuất hiện tại Giải Grammy 2011 vào ngày 13 tháng 2 khi thể hiện "Love the Way You Lie (Part II)" cùng Rihanna và Adam Levine cũng như "I Need a Doctor" với Dr. Dre và Skylar Grey.[84] Cùng tháng đó "Space Bound" được thông báo là đĩa đơn thứ tư trong Recovery.[85]

Vào năm 2010, Eminem tái hợp với Royce da 5'9" với tên Bad Meets Evil và hợp tác phát hành một EP mới. Họ từng hợp tác với tên này vào năm 1999. EP có tên Hell: The Sequel được phát hành tháng 6, 2011.[86] Eminem cũng góp mặt trong bài "Writer's Block" của Royce da 5'9", bài hát phát hành ngày 8 tháng 4, 2011.[87] Vào ngày 3 tháng 5 họ phát hành đĩa đơn chủ đề của EP có tên "Fast Lane", cùng một video âm nhạc.[88] Trước đó vào tháng 3, hai album The Eminem ShowThe Marshall Mathers LP đạt được chứng nhận kim cương từ RIAA. Eminem là rapper đầu tiên có hai album chứng nhận kim cương.[89] Bad Meets Evil phát hành đĩa đơn tiếp theo, "Lighters" vào ngày 6 tháng 7 và ra mắt video vào tháng 8.[90][91] Vào ngày 6 tháng 8, Eminem biểu diễn một số bài hát trong sự nghiệp của anh tại Lollapalooza với các nghệ sĩ góp mặt trong mỗi bài hát đó.[92]

2012–13: The Marshall Mathers LP 2[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: The Marshall Mathers LP 2

Eminem thông báo vào ngày 24 tháng 5, 2012 rằng anh đang trong quá trình thực hiện album mới,[93] theo kế hoạch sẽ ra mắt năm sau.[94] Trong khi ngày phát hành và tên album chưa được ấn định, đây vẫn là một trong số các "album được mong chờ nhất 2013".[95]

Vào ngày 11 tháng 2, 2013, chủ tịch Shady Records và quản lý của Eminem là ông Paul Rosenberg thông album thứ 8 của rapper này sẽ ra sau ngày Memorial Day. Rosenberg cho biết công ty "thực sự mong chờ phát hành album mới của Eminem vào năm 2013. Anh ấy đã làm album được một thời gian rồi".[96] No I.D. được xác nhận là một trong những người sản xuất album này.[97]

Vào ngày 14 tháng 8 bài hát "Survival" của Em hợp tác với Liz Rodrigues và được DJ Khalil sản xuất, xuất hiện trong video giới thiệu video game Call of Duty: Ghosts. Tại MTV Video Music Awards 2013, album được thông báo sẽ mang tên The Marshall Mathers LP 2 (nối tiếp The Marshall Mathers LP) và dự kiến ra mắt ngày 5/11.[98]

Eminem onstate in T-shirt, shorts and baseball cap
Mathers tại Lollapalooza 2014 ở Chicago

Đĩa đơn chủ đạo "Berzerk", được phát hành ngày 25 tháng 8 và ra mắt ở vị chí thứ ba trên Billboard Hot 100. Ba đĩa đơn khác gồm: "Survival,[99] "Rap God" và "The Monster" (với Rihanna).

Album được phát hành ngày 5 tháng 11 bởi Aftermath Entertainment, Shady Records và Interscope Records. Phiên bản thường gồm 16 bài, còn bản đạc biệt có thêm một đĩa thứ hai với 5 bài khác. The Marshall Mathers LP 2 là album thứ bảy của Eminem đứng đầu khi ra mắt trên Billboard 200, đồng thời sở hữu doanh số tuần đầu tiên lớn thứ hai trong năm 2013.[100][101] Anh là nghệ sĩ tiếp theo sau The Beatles có bốn single trong top 20 của Billboard Hot 100.[102][103][104]

Tại Vương quốc Anh The Marshall Mathers LP 2 xuất phát ở vị trí đầu tiên trên UK Albums Chart. Với tư cách là nghệ sĩ Mỹ đầu tiên có bảy album quán quân tại Anh liên tiếp, anh cân bằng thành tích của The Beatles ở vị trí thứ hai bảng xếp hạng số album quán quân tại Anh liên tiếp.[105][106][107] Album giúp Eminem trở thành nghệ sĩ bán đĩa đắt khách nhất tại Canada.[108]

Vào ngày 3 tháng 11 Eminem là người đầu tiên nhận giải Nghệ sĩ của năm của YouTube Music Awards,[109] giành giải Global Icon Award tại MTV EMA 2013.[110]

2014–nay: Shady XVSouthpaw[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem biểu diễn tại Concert for Valor ở Washington, D.C. năm 2014

Vào tháng 6, 2014 Eminem và Rosenberg sử dụng hashtag #SHADYXV trên các trang mạng xã hội, trong khi Eminem mặc chiếc áo phông với hashtag đó trên sân khấu. Theo như thông cáo báo chí ngày 25/8 trên trang của Eminem, hashtag này là tên của album tổng hợp của hãng Shady Records: Shady XV. Cùng ngày, đĩa đơn đầu tiên trong album ("Guts Over Fear", hợp tác với Sia Furler)[111] được ra mắt trong khi danh sách track của album được thông báo ngày 29/10.[112] Shady Records cho ra một cypher (một dạng rap chiến freestyle) để quảng bá album, trong đó Eminem thực hiện một đoạn freestyle dài 7 phút. "Detroit Vs. Everybody" (đĩa đơn thứ hai từ album), với Eminem, Dej Loaf, Royce da 5'9", Danny Brown, Big SeanTrick-Trick, được phát hành ngày 11/11.[113] Shady XV, được phát hành ngày 24/11 trong tuần lễ Black Friday,[114] bao gồm một đĩa các bài đình đám nhất và một đĩa các bài hát mới của các nghệ sĩ thuộc Shady Records như D12, Slaughterhouse, Bad Meets Evil và Yelawolf. Album ra ở vị trí #3 trên Billboard 200, thu về trong tuần đầu tiên tại Hoa Kỳ 138.000 bản.[115]

Vào ngày 10/6/2014, anh là nghệ sĩ đầu tiên nhận hai chững nhận kim cương kĩ thuật số – doanh số và lượt stream trên 10 triệu – từ RIAA (dành cho "Not Afraid" và "Love the Way You Lie").[116] Vào ngày 11 và 12, Eminem biểu diễn hai buổi tại Sân vận động Wembley.[117] Tại Giải Grammy lần thứ 57, anh nhận giải Album Rap xuất sắc nhất cho The Marshall Mathers LP 2Hợp tác rap/hát xuất sắc nhất (với Rihanna) cho "The Monster".[118][119]

The Official Eminem Box Set, một bộ 10 đĩa vinyl được phát hành vào ngày 12/3/2015. Bộ đĩa gồm 7 trong số 8 album phòng thu (trừ Infinite), nhạc phim 8 Mile, album tông hợp Eminem Presents: The Re-Up, và album tuyển tập Curtain Call: The Hits.[120]

Eminem là giám đốc sản xuất nhạc phim của bộ phim thể thao Southpaw, cùng Shady Records. Đĩa đơn đầu tiên trong album nhạc phim có tên "Phenomenal" được phát hành ngày 2/6/2015.[121] Một single nữa, "Kings Never Die" của Eminem hợp tác với Gwen Stefani, được phát hành ngày 10/7/2015 trên kênh YouTube của Eminem.[122]

Các dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Shady Records và D12[sửa | sửa mã nguồn]

Shady Records[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Eminem, Interscope đề nghị với Eminem về việc thành lập hãng đĩa riêng của anh; Anh và Paul Rosenberg thành lập Shady Records vào cuối năm 1999. Eminem kí hợp đồng với D12, cùng rapper Obie Trice và kí tiếp với 50 Cent trong một dự án liên doanh với hãng Aftermath của Dr. Dre năm 2002. Vào năm 2003, Eminem và Dr. Dre kết nạp rapper người AtlantaStat Quo vào hàng ngũ Shady-Aftermath. DJ Green Lantern, DJ cũ của Eminem gia nhập Shady Records đến khi tranh cãi liên quan tới sự bất hòa giữa 50 Cent và Jadakiss buộc anh phải ra đi. Vào năm 2005 Eminem kí hợp đồng với một rapper Atlanta nữa, Bobby Creekwater, rapper tới từ Bờ Tây, Cashis.[15]

Ngày 5/12/2006, album tổng hợp Eminem Presents: The Re-Up được phát hành dưới tên Shady Records. Dự án bắt đầu dưới dạng mixtape, nhưng khi Eminem tìm thấy chất liệu nhạc tốt hơn dự kiến thì anh đổi ý sang ra album. The Re-Up được dành cho việc giới thiệu Stat Quo, Cashis và Bobby Creekwater.[123]

D12[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn đang thu âm Infinite, Eminem, Proof và Kon Artis lập thành một nhóm rapper mà giờ được biết tới với tên D12, viết tắt cho "Detroit Twelve" hay "Dirty Dozen", những người biểu diễn theo phong cách giống Wu-Tang Clan.[124] Vào năm 2001 album đầu tay của D12, Devil's Night, được phát hành.[125] Đĩa đơn đầu tiên từ album là "Shit on You", kế đến là "Purple Pills" (bài hát về việc dùng ma túy để giải khuây) và "Fight Music". "Purple Pills" sau đó phải viết lại lời khi phát trên radio và TV, loại bỏ tất cả những câu từ về ma túy và tình dục, và đổi tên là "Purple Hills".

Sau đó, D12 không hoạt động phòng thu trong ba năm. Họ tái hợp năm 2004 với album D12 World, với các đĩa đơn hit "My Band" và "How Come". "American Pshyco 2" với sự góp mặt của B-Real, thành viên ban nhạc Cypress Hill, cũng khá nổi tiếng.[125] Theo như lời của Bizarre, một thành viên trong D12, Eminem không có mặt trong album Blue Cheese & Coney Island bởi "anh đang bận làm việc riêng".[126]

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một vai nhỏ trong The Wash (2001), Eminem ra mắt Hollywood trong bộ phim nửa tự truyện 8 Mile (2002). Theo lời của rapper này, phim nói về việc trưởng thành ở Detroit chứ không phải phái để thuật lại cuộc đời của anh. Anh thu một số ca khúc mới cho album nhạc phim trong đó có "Lose Yourself" (bài hát giành giải Giải Oscar cho bài hát gốc hay nhất năm 2003 và là đĩa đơn hip hop quán quân liên tiếp lâu nhất trong lịch sử).[127] Eminem không có mặt tại lễ trao giải, người nhận thay là Luis Resto.[128]

Anh còn lồng tiếng cho trò chơi video 50 Cent: Bulletproof (trong vai một nhân viên cảnh sát già bị mua chuộc nói giọng Mỹ gốc Phi) và là khách mời trong show truyền hình của hãng Comedy Central có tên Crank Yankers và một bộ phim hoạt hình mạng, The Slim Shady Show.[129] Anh được kí hợp đồng để vào vai chính trong phiên bản điện ảnh chưa từng được bấm máy của series truyền hình Have Gun – Will Travel,[130] và được xem xét cho vai David Rice của phim Jumper (2008).[131] Eminem có vai khách mời trong đoạn cãi nhau với Ray Romano, trong bộ phim Funny People (2009).

Anh vào vai chính mình trong tập cuối mùa bảy của Entourage có tên "Lose Yourself" cùng Christina Aguilera.[132] Mặc dù được trao vai chính trong phim khoa học viễn tưởng Elysium (2013), anh từ chối vì lí do đạo diễn Neill Blomkamp không thay đổi địa điểm từ Los Angeles sang Detroit.[133] Anh đóng vai khách mời trong bộ phim hài The Interview vào năm 2014; trong đoạn phỏng vấn với nhân vật chính Dave Skylark (James Franco thủ vai), Eminem công khai thừa nhận mình đồng tính.[134]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tự truyện của Eminem, The Way I Am, được xuất bản ngày 21 tháng 8, 2008. Ngoài khắc họa cuộc đấu tranh với cảnh nghèo khó, chứng nghiện thuốc, danh vọng, những nỗi đau khổ và sự chán nản, sách còn kể lại các câu chuyện về con đừong tới với danh tiếng, bình luận về các tranh cãi trước đây và những trang lời bài hát gốc của "Stan" và "The Real Slim Shady."[135] Cuốn tự truyện của mẹ anh (My Son Marshall, My Son Eminem) được phát hành một tháng sau trong đó Debbie Nelson miêu tả thời thơ ấu và niên thiếu của Eminem, gặp cha của anh cũng như con đường (và những vất vả) lên đỉnh danh vọng.

Quảng cáo và từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem góp mặt trong hai đoạn quảng cáo chiếu trong trận tranh Super Bowl XLV. Trong đoạn quảng cáo đầu tiên dài một phút cho nhãn hiệu trà đá Brisk của hãng Lipton, anh xuất hiện trong hình dạng một nhân vật hoạt hình đất sét.[136] Trong đoạn quảng cáo thứ hai dài hai phút – dài nhất trong lịch sử Super Bowl vào thời điểm đó – cho nhãn hiệu xe Chrysler 200, Eminem lái xe (với "Lose Yourself" là nhạc nền) tới buổi diễn của mình tại Nhà hát Fox.[137][138]

Anh thành lập Marshall Mathers Foundation để giúp các thanh niên bị thiệt thòi. Cơ sở này liên kết với một tổ chức từ liện do Norman Yatooma, một luật sư ở Detroit, khởi xướng.[139]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng và kĩ thuật rap[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem từng nhắc tới một số rapper ảnh hưởng lên cách rap của anh, trong đó có Esham,[140] Kool G Rap,[141] Masta Ace, Big Daddy Kane,[141] Newcleus, Ice-T, Mantronix, Melle Mel (với bài "The Message"), LL Cool J, Beastie Boys, Run–D.M.C., RakimBoogie Down Productions.[142]

Trong How to Rap, Guerilla Black nói rằng Eminem học tập các MC để trau đồi kĩ thuật rap: "Eminem nghe mọi thứ và đó là điều khiến anh ấy vĩ đại".[143] Trong cuốn sách này, các MC khác cũng khen ngợi các khía cạnh trong phong cách của anh; chủ đề đa dạng, hài hước,[144] kết nối với người nghe,[145] giữ một hình thức chung cho chuỗi các album,[146] phối hợp vần phức tạp,[147] uốn câu từ sao cho có vần,[148] vần đa âm tiết,[141] nhiều vần một vạch nhịp,[149] nhịp điệu phức tạp,[150] cách trần thuật rõ ràng[151] cùng với việc sử dụng giai điệu[152] và cách nhấn lệch.[153] Eminem được biết tới vì viết hầu hết lời bài hát ra giấy (được ghi chép trong The Way I Am), dành ra nhiều ngày hay cả tuần để để tạo lời,[154] là một "kẻ nghiện công việc".[155]

Thân thế khác[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem sử dụng các thân thế khác (alter ego) trong các bài hát đối với các phong cách và chủ đề rap khác nhau. Thân thế nổi tiếng nhất là Slim Shady, lần đầu xuất hiện trong EP Slim Shady. Những bài hát trong thân thế này thường mạnh bạo và u ám, cùng một nét hài hước.[156] Eminem bỏ hình tượng Slim Shady trong Recovery vì anh cho rằng nó không hợp với dòng chảy của album.[157] Một nhân vật nữa là Ken Kaniff, một người đồng tính hay chế giễu bài hát của Eminem. Ken được sáng tạo và thể hiện bởi rapper đồng hương Detroit, Aristotle, trong Slim Shady LP, trong đó Kaniff gọi điện chơi khăm Eminem. Một cuộc tranh cãi sau khi album ra mắt dẫn tới việc Eminem sử dụng nhân vật Kaniff trong Marshall Mathers và các album sau này (ngoại trừ EncoreRecovery).

Đời tư cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem là nhân vật được nghiên cứu trong vai trò rapper cũng như trong cuộc sống thực.[31] Eminem hai lần kết hôn với Kimberly Anne "Kim" Scott. Anh gặp Kim ở trường trung học, người kém mình hai tuổi; anh khi đó 15 tuổi, cởi trần đứng trên một chiếc bàn và rap "I'm Bad" của LL Cool J.[158] Kim và người chị em song sinh, Dawn, bỏ nhà ra đi; họ chuyển tới sống ở nhà Eminem và mẹ của anh năm anh 15 tuổi. Anh và Kim bắt đầu mối quan hệ tình cảm năm 1989. Con gái họ, Hailie, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1995; họ làm đám cưới năm 1999, li dị lần đầu năm 2001. Mặc dù Eminem kể với Rolling Stone năm 2002, "Tôi thà đẻ con bằng dương vật còn hơn là tái hôn", không lâu sau anh và Kim tái hôn vào tháng 1 năm 2006. Anh nộp đơn li dị vào đầu tháng 4,[159] đồng ý chia sẻ quyền nuôi Hailie.[160] Anh còn nhận nuôi Alaina, con gái của Dawn và Whitney, con gái mà Kim có với một người khác.[161][162] Đầu năm 2010, Eminem phủ nhận tin anh và Kim đã làm hòa.[163] Anh cũng có quyền giám hộ hợp pháp với em trai cùng mẹ khác cha, Nathan, người cũng làm rapper với nghệ danh "Nate Kane".[164][165] Trong bài hát "Headlights" vào năm 2014, Eminem đưa ra lời xin lỗi đồng thời khẳng định lại tình yêu dành cho mẹ của anh.[166]

Rắc rối pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1999 mẹ Eminem đòi anh gần 10 triệu đô la vì xúc phạm bà trong The Slim Shady LP, nhưng chỉ nhận được khoảng 1 nghìn 600 đô la tiền bồi thường thiệt hại vào năm 2001.[167] Eminem bị bắt giữ ngày 3/6/2000 trong một cuộc ẩu đả với Douglas Dail tại một cửa hàng thiết bị âm thanh xe hơi tại Royal Oak, Michigan, khi anh rút ra một khẩu súng chưa nạp đạn và chĩa súng xuống đất. Một ngày sau, tại Warren, Michigan, anh bị bắt tiếp vì hành hung bảo vệ quán bar John Guerrera ở khu đỗ xe của quán Hot Rock Café sau khi nhìn thấy Guerrera hôn vợ mình.[168][169] Eminem tái hiện lại việc tấn công Guerrera trong "The Kiss (Skit)" trong album The Eminem Show. Eminem, bị buộc tội mang vũ khí giấu kín và hành hung, nhận tội và chịu hai năm quản chế; vụ hành hung Guerrera được bỏ nhờ dàn xếp giảm nhẹ tội.[170] Vào ngày 7/7/2000 Kim có ý định tự sát khi rạch cổ tay,[171] và sau đó kiện Eminem vì làm nhục cô sau khi anh tưởng tượng ra một cái chết thảm khốc của cô trong "Kim".[169]

Vào ngày 26/10/2000, khi Eminem chuẩn bị biểu diễn tại Skydome ở Toronto thì trưởng tư pháp tỉnh Ontario, Jim Flaherty, tuyên bố rằng Eminem sẽ không được phép nhập cảnh vào Canada. Ông nói "cá nhân tôi không muốn những ai tới Canada mà lại ủng hộ bạo hành phụ nữ". Flaherty ông thấy "ghê tởm" khi đọc lời của "Kill You" với những dòng như "Slut, you think I won't choke no whore / Till the vocal cords don't work in her throat no more?" Mặc dù phản ứng của công chúng đối với Flaherty nhìn chung là tiêu cực vì ngăn không cho Eminem vào Canada được coi là liên quan tới vấn đề tự do ngôn luận, nghị sĩ đảng Tự do tỉnh Ontario Michael Bryant cho rằng rapper này phải bị khởi tố vì tội thù ghét, cụ thể là ủng hộ bạo hành phụ nữ trong lời bài hát của anh ta.[172] Robert Everett-Green viết trong bài xã luận cho tờ The Globe and Mail, "Chướng tai gai mắt là từ để mô tả công việc của Eminem",[173] trong khi buổi biểu diễn của rapper này tại Toronto vẫn diễn ra bình thường.[174]

Nhân viên vệ sinh DeAngelo Bailey đòi Eminem 1 triệu đô vào năm 2001, buộc tội anh vì xâm phạm quyền riêng tư khi đã đăng thông tin sai về anh ta trong bài "Brain Damage", bài hát miêu tả Bailey là kẻ đầu gấu trường. Dù Bailey thừa nhận đôi xử không phải với Eminem ở trường, anh nói mình chỉ "đụng chạm" và "đẩy nhẹ" cậu ta. Vụ kiện bị bác bỏ vào ngày 20/10/2003; thẩm phán Deborah Servitto, người đọc rap phần phán quyết, khẳng định rằng lời rap chỉ đơn thuần là phóng đại lên.[175]

Ngày 28/6/2001, Eminem bị kết án một năm quản chế và lao động công ích đồng thời bị phạt gần 2.000 đô vì cáo buộc về vũ khí xuất phát từ cuộc tranh cãi với nhân viên của Psychopathic Records.[176]

Ngày 31/3/2002, Nhạc công piano jazz Jacques Loussier đâm đơn kiện đòi 10 triệu đô từ Eminem và Dr. Dre, khi cho rằng nhíp điệu trong bài "Kill You" là từ nhạc phẩm "Pulsion" của ông.[177] Loussier yêu cầu dừng việc bán The Marshall Mathers LP và bất kì bản copy nào còn bày bán phải bị tiêu hủy. Một phiên tòa được dự kiến bắt đầu vào tháng 6/2004, và vụ việc được giải quyết sau đó.[178]

Vào ngày 8 tháng 12 năm 2003, Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ thông báo họ đang "xem xét" các cáo buộc Eminem đã đe dọa Tổng thống Hoa Kỳ.[179] Nguyên nhân là từ lời bài hát "We As Americans" ("Fuck money / I don't rap for dead presidents / I'd rather see the president dead / It's never been said, but I set precedents"). Vụ việc sau đó được chiếu trong video bài hát "Mosh", với hình ảnh một mẩu báo cắt ra được gắn trên bức tường đầy các bài báo về nhưng điều không may trong sự nghiệp của Bush. Bài hát sau đó được phát hành trong CD với bản deluxe của Encore với lời được thay đổi đi.[180]

Năm 2007 công ty phát hành nhạc của Eminem (Eight Mile Style) và Martin Affiliated kiện Apple Inc. và Aftermath Entertainment, khẳng định rằng Aftermath chưa được trao quyền đàm phán hợp đồng tải nhạc số với Apple đối với 93 bài hát của Eminem trên iTunes.[181][182] Vụ kiện Apple nhanh chóng được giải quyết sau khi phiên tòa bắt đầu vào cuối tháng 9 năm 2009.[183]

Tháng 7 năm 2010, Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ khu vực chín phán quyết rằng F.B.T. Productions và Eminem được bồi hoàn 50 phần trăm doanh thu thuần của Aftermath từ việc cấp phép các bản thu của anh cho các công ty như Apple, Sprint Corporation, Nextel Communications, CingularT-Mobile. Vào tháng 3 năm 2011, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ từ chối nghe điều trần.[184]

Năm 2013, Eminem lấy mẫu bản nhạc "Lookin' Boy" của nhóm rap tới từ Chicago Hotstylz, cho đĩa đơn hit "Rap God". Nhóm khẳng định Eminem chưa được phép sử dụng đoạn nhạc mẫu, cũng như không hề nhắc tới công hay trả tiền bồi hường cho họ.[185] Tháng 11 năm 2013, Hotstylz ra một bài hát tỏ ý coi thường Eminem có tên "Rap Fraud", trong đó họ lấy mẫu nhiều bài của anh ta và chỉ trích anh ta vì không kể công của họ.[186][187] Tháng 1 năm 2015, TMZ đưa tin Hotstylz đang đâm đơn kiện rapper này và hãng thu âm Shady Records, đòi bồi hoàn 8 triệu đôla, vì sử dụng 25 giây mẫu của bài "Lookin' Boy" trong bài "Rap God", mà không được họ cho phép.[188][189]

Vấn đề về thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Eminem từng bộc bạch về chứng nghiện các loại thuốc kê đơn, trong đó có Vicodin, AmbienValium.[190] Theo lời thành viên nhóm D12 Proof, mãi tới năm Eminem mới "tỉnh táo trở lại".[191] Trong quá trình làm phim 8 Mile Em mắc chứng mất ngủ do phải làm việc 16 giờ một ngày. Một nhân viên đưa cho anh một viên Ambien, thứ đã "hạ gục" Eminem, dẫn tới việc anh bắt đầu sử dụng đơn thuốc. Đây là trải nghiệm đầu tiên của Eminem về chứng nghiện thuốc, thứ có ảnh hưởng lớn với anh trong nhiều năm. Gần cuối giai đoạn sản xuất Encore, anh toàn "chỉ đi vào trong phòng thu và giết thời gian bằng một túi đầy thuốc viên". Eminem bắt đầu dùng thuốc vì muốn "cảm thấy ổn định", sử dụng "một số lượng [thuốc] khó tin" mà anh "có thể uống ở bất kỳ đâu", cụ thể là từ "40 tới 60 viên Valium [một ngày]", còn "Vicodin, có lẽ là 30". Những thứ thuốc này thường sẽ đưa anh vào một giấc ngủ không quá hai tiếng, sau đó anh tiếp tục uống thêm. Cân nặng của anh tăng tới 230 pound (100 kg) do thường xuyên ăn thức ăn nhanh: "Mấy đứa ở quầy thu ngân biết tôi – họ cũng chẳng cảm thấy phiền phức gì. Hoặc là tôi sẽ ngồi ở quán Denny's hay Big Boy và ăn một hình. Thật đáng buồn". Eminem trở nên không thể nhận ra do tăng cân, và từng nghe thấy hai thiếu niên tranh cãi đó có phải là anh không khi họ thấy anh: "Eminem đâu có béo."[16]

Cuộc đấu tranh với thuốc lên tới đỉnh điểm vào năm 2007 sau khi sử dụng methadone quá liều. Eminem ban đầu mua methadone từ một con buôn nói với anh rằng nó "chỉ như Vicodin, và dễ chịu với gan hơn". Sau đó anh tiếp tục mua nhiều hơn, cho tới khi quỵ ngã trong nhà tắm vào một buổi tối và được đưa tới viện. Các bác sĩ cho biết anh đã tiêu hóa một lượng thuốc tương đương với bốn bịch heroin và "cách cái chết có hai tiếng đồng hồ". Sau khi lỡ Giáng sinh với gia đình, Eminem xuất viện khi vẫn còn yếu ớt và chưa hết hoàn toàn chất độc trong cơ thể. Vì bị rách sụn chêm "sau khi ngủ đúng 10 phút," anh buộc phải làm phẫu thuật. Sau khi về nhà anh gặp triệu chứng co giật và tái phát trong vòng ba tuần. Eminem bắt đầu đi lễ nhà thờ để thanh tẩy, nhưng sau khi được hỏi xin chữ ký, anh lại tìm kiếm sự giúp đỡ từ một người tư vấn phục hồi chức năng. Anh bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục, chủ yếu là chạy, và hồi phục hoàn toàn vào ngày 20 tháng 4, 2008. Elton John là người tư vấn cho Eminem thời gian này khi thường gọi Eminem tuần một lần để kiểm tra.[16]

Cáo buộc phân biệt người đồng tính[sửa | sửa mã nguồn]

Một số ca từ của Eminem được nhiều người xem là kì thị đồng tính luyến ái. Một chính trị gia người Úc từng cố gắng cấm Eminem vào nước ông.[192] Eminem luôn phủ nhận điều này, cho rằng khi anh trưởng thành những từ như "faggot" và "queer" (từ có một trong số các nghĩa của chúng để ám chỉ người đồng tính một cách miệt thị) là từ xúc phạm chung chứ không chỉ riêng người đồng tính. Trong một cuộc phỏng vấn của Em cho chương trình 60 Minutes, nhà báo Anderson Cooper đã khơi lên chủ đề này:[193] Khi Cooper hỏi có phải anh không thích người đồng tính không, Eminem trả lời rằng "Không, tôi không thấy có vấn đề gì với bất kì ai. Anh biết thế nghĩa là gì không? Tôi như tất cả mọi người thôi."

Anh là bạn của Elton John.[194] Khi được hỏi ý kiến về trong cuộc phỏng vấn với tờ The New York Times về hợp pháp hóa hôn nhân đồng giớiMichigan, Eminem trả lời: "Tôi nghĩ nếu hai người yêu nhau, thì làm sao chứ? Tôi nghĩ mọi người nên có cơ hội để được cảm thương như nhau, nếu họ muốn",[195] "ý kiến về mọi thứ" của anh "trưởn thành hơn nhiều so với ngày xưa".[196]

Thành tựu và ghi nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Large graffiti picture of a serious-looking Eminem
Tranh graffiti về Eminem tại Thượng Hải
Tranh vẽ Eminem ở Công viên Southsea

Eminem được coi là một trong những nghệ sĩ hip-hop vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh xếp thứ 83 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại của Rolling Stone[197][198] và thứ 79 trong danh sách tương tự của VH1.[199] Vào năm 2010, MTV Bồ Đào Nha chọn Eminem là biểu tượng lớn thứ 7 trong lịch sử nhạc pop.[200]

Anh là nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất từ năm 2000 tới năm 2010 theo Nielsen SoundScan Hoa Kỳ;[201] với ước tính số album tiêu thụ trên toàn thế giới là 172 triệu bản, Eminem là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất thế giới.[202] Anh có trên 6 tỉ lượt xem trên kênh Vevo YouTube.[203] Vào năm 2010 âm nhạc của Eminem thu hút 94 triệu lượt stream (nhiều hơn bất kì nghệ sĩ nào),[204] và vào tháng 5 năm 2014 Spotify nêu tên anh với tư cách là nghệ sĩ được phát nhiều nhất mọi thời đại. "Love the Way You Lie" (11× bạch kim) và "Not Afraid" (10× bạch kim) là hai bài hát được chứng nhận kim cương từ RIAA giúp anh trở thành nghệ sĩ đàu tiên tại Hoa Kỳ có hai đĩa đơn được chứng nhận này tại Mỹ.[205] Vào tháng 6 năm 2014, Eminem là nghệ sĩ nam bán đĩa chạy thứ hai kỉ nguyên Nielsen SoundScan, nghệ sĩ bán đĩa chạy thứ 6 tại Hoa Kỳ và là nghệ sĩ hip hop bán đĩa chạy nhất, với 45,1 triệu album và 42 triệu bài hát (trong đó có 31 triệu chứng nhận đĩa đơn kĩ thuật số).[206][207][208][209] Eminem có mười album số một Billboard 200: bảy album solo (5 album phòng thu và 2 tuyển tập), hai với D12 và một với Bad Meets Evil.[210] The Eminem Show, The Marshall Mathers LP, và Encore lần lượt là album bán chạy thứ 3, 7 và 40 trong thập niên 2000.[211][212] Anh cũng có 13 single quán quân toàn cầu. Eminem được nhắc tới trong sự thăng tiến của các rapper như 50 Cent, Yelawolf, Stat Quo, Royce da 5'9", Cashis, Obie Trice, Bobby Creekwater, và nhóm rap như D12Slaughterhouse.

Vào tháng 8/2011 Eminem được tạp chí Rolling Stone gọi với cấi tên Ông vua Hip-Hop sau khi phân tích doanh số album, vị trí các bảng xếp hạng R&B, hip-hop và rap, lượt xem YouTube, mạng xã hội, doanh thu biểu diễn, giải thưởng và các đánh giá phê bình của các rapper phát hành nhạc từ năm 2009 tới nửa đầu năm 2011.[213] Album thành công thứ hai của anh, The Marshall Mathers LP, là album solo bán nhanh nhất Hoa Kỳ[30] và được xếp là một trong những album hip-hop hay nhất mọi thời đại theo Rolling Stone, TimeXXL.[214] Rolling Stone xếp đây là album hay thứ 7 của thập niên 2000.[215] Đĩa đơn thứ ba của albumm "Stan", là một trong những ca khúc của Eminem nhận được đánh giá phê bình tích cực nhất, khi Pitchfork Media gọi bài hát này là "một cột mốc văn hóa".[216] Năm 2015, rapper Joe Budden viết một ca khúc có tên "Slaughtermouse" để tỏ lòng mến mộ Eminem.

Nhiều nghệ sĩ pop và hip-hop coi Eminem là niềm cảm hứng trong đó có Crooked I, Tech N9ne, Logic Lil Wayne, Nicki Minaj, T.I., B.o.B Jhené Aiko, 50 Cent,[217] Usher,[218] Earl Sweatshirt, Ab-Soul, Freddie Gibbs, Kendrick Lamar,[219] Ed Sheeran,[220][221] Lana Del Rey,[222] Big Sean,[223] J. Cole,[224] Skylar Grey,[225] Bubba Sparxxx,[226] Asher Roth,[227] Machine Gun Kelly,[228] Yelawolf,[229] Hopsin,[230] Tyler, The Creator,[231] Hollywood Undead,[232] Chris Webby,[233] Chance the Rapper[234] Stalley, Royce da 5'9", Joe Budden, Tony Yayo, và The Game.[235] Các nhân vật đi tiên phong về rap như David Banner,[236] Wiz Khalifa,[237] Talib Kweli,[238] Kool G Rap,[239] Redman,[240] Kurupt, Dr. Dre, N.O.R.E., Rakim, Busta RhymesJay Z đều gọi Eminem là một trong những rapper vĩ đại nhất mọi thời đại.[241]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh
Năm Phim Vai Ghi chú
2000 Da Hip Hop Witch Eminem
2001 The Wash Chris Không được ghi công
2002 8 Mile Jimmy "B-Rabbit" Smith, Jr.
2009 Funny People Eminem Cameo
2014 The Interview Eminem Cameo
Truyền hình
Năm Phim Vai Ghi chú
1999
2000
2002
2004
2010
2013
Saturday Night Live Khách mời hát Mùa 25, Tập 3: "Norm Macdonald/Dr. Dre, Snoop Dogg & Eminem"
Mùa 26, Tập 1: "Rob Lowe/Eminem"
Mùa 27, Tập 19: "Kirsten Dunst/Eminem"
Mùa 30, Tập 4: "Kate Winslet/Eminem"
Mùa 36, Tập 10: "Jeff Bridges/Eminem & Lil Wayne"
Mùa 39, Tập 5: "Kerry Washington/Eminem"
2000 The Slim Shady Show Eminem, Marshall Mathers, Slim Shady, Ken Kaniff Phim trên mạng
2004 Crank Yankers Billy Fletcher Mùa 3, Tập 1: "Eminem & Tracy Morgan"
2010 Entourage Eminem Mùa 7, Tập 10: "Lose Yourself"
2013 Detroit Rubber Eminem Phim trên mạng
Mùa 1, Tập 1: "Pilot”
Ngoài ra còn làm giám đốc sản xuất
Phim tài liệu
Năm Phim Vai Ghi chú
2003 50 Cent: The New Breed Eminem Vai phụ
2012 Something from Nothing: The Art of Rap Vai phụ
How to Make Money Selling Drugs Eminem Vai phụ
2015 Not Afraid: The Shady Records Story Eminem Vai chính
Phim trình diễn hòa nhạc
Năm Phim Vai Ghi chú
2000 The Up In Smoke Tour Chính Phát hành chung với Dr. Dre, Snoop DoggIce Cube
2005 Live from New York City Chính Trình diễn tại Madison Square Garden
Trò chơi video
Năm Phim Vai Ghi chú
2005 50 Cent: Bulletproof Thám tử McVicar Lồng tiếng và dáng điệu

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tên sách Year Trang
Angry Blonde 2000 148
The Way I Am 2008 208

Dự án kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 1 con ruột (Hailie)
    2 con nuôi (Alaina và Whitney)
  2. ^ a ă â b c d Ankeny, Jason; Torreano, Bradley (2006). “Eminem – Biography”. Allmusic. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2008. 
  3. ^ Roberts, David (2006). British Hit Singles & Albums . Luân Đôn: Guinness World Records Limited. tr. 137. ISBN 1-904994-10-5. 
  4. ^ United States Public Record Number 1222170896
  5. ^ United States Public Records Number 292343335
  6. ^ a ă â Nelson, Debbie (2008). My Son Marshall, My Son Eminem. Beverly Hills, CA: Phoenix Books. ISBN 1-59777-596-7. 
  7. ^ “Ancestry of Eminem”. Wargs. 
  8. ^ a ă â b c d đ e Elrick, M.L. (25 tháng 7 năm 2000). “Eminem's dirty secrets”. Salon. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Bozza, Anthony (29 tháng 4 năm 1999). “Eminem Blows Up”. Rolling Stone (Thành phố New York: Wenner Media LLC) (811). ISSN 0035-791X. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ “Eminem's Long-Lost Sister Shocked By Relation”. Contactmusic.com. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2005. 
  11. ^ “Eminem's mom gives her side of the story”. Today.msnbc.msn.com. 6 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  12. ^ Happy days. Spin. Tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011. 
  13. ^ Hilburn, Robert (14 tháng 5 năm 2000). “Has He No Shame?”. The Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  14. ^ Nick Hasted (2011). The Dark Story of Eminem. Music Sales Group. tr. 55. ISBN 9781849384582. 
  15. ^ a ă “Eminem”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  16. ^ a ă â Eells, Josh (25 tháng 11 năm 2010). “Eminem on the Road Back From Hell”. Rolling Stone (Thành phố New York: Wenner Media LLC) (1118). ISSN 0035-791X. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  17. ^ Bozza 2003, tr. 119
  18. ^ a ă “Eminem's Biography”. Fox News. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  19. ^ CBSNewsOnline (10 tháng 10, 2010). "Eminem's Road to Stardom". Trích từ 60 Minutes. YouTube.
  20. ^ Bozza 2003, tr. 15
  21. ^ Bozza 2003, tr. 16
  22. ^ Bozza 2003, tr. 14
  23. ^ a ă Bozza 2003, tr. 81
  24. ^ Bozza, 2003. p. 24
  25. ^ Stubbs, 2006. tr. 58
  26. ^ a ă “Timeline”. Rock on the Net. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  27. ^ Drumming, Neil (14 tháng 2 năm 2001). “Smut Peddlers: Split-Level Raunch”. Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ Dearborn, Matt; Duke (1 tháng 12 năm 2005). “Interview: His name is not Slim Shady”. University Wire. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008. 
  29. ^ “Eminem and his ex-wife remarry”. St. Petersburg Times. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  30. ^ a ă “Eminem Bounces Britney From Top Spot”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  31. ^ a ă "Eminem's criminal record", BBC News, 11/4/2001
  32. ^ Bozza 2003, tr. 60
  33. ^ “150 Greatest Rock Lists Ever”. Rock List Music. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  34. ^ “25 years of Hip-hop”. Top 40 Charts. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  35. ^ “The RS 500 Greatest Songs of All Time”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  36. ^ Basham, David (22 tháng 2 năm 2001). “Eminem, Elton's 'Stan' Duet Proves Anticlimactic”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  37. ^ Basham, David (10 tháng 2 năm 2001). “Eminem, Elton John To Duet At Grammys”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  38. ^ Geier, Thom; Jensen, Jeff; Jordan, Tina; Lyons, Margaret; Markovitz, Adam; Nashawaty, Chris; Pastorek, Whitney; Rice, Lynette; Rottenberg, Josh; Schwartz, Missy; Slezak, Michael; Snierson, Dan; Stack, Tim; Stroup, Kate; Tucker, Ken; Vary, Adam B.; Vozick-Levinson, Simon; Ward, Kate (11/12/2009), "The 100 greatest movies, TV shows, albums, books, characters, scenes, episodes, songs, dresses, music videos and trends that entertained us over the past 10 years". Entertainment Weekly. (1079/1080):74-84
  39. ^ Boone, Christian (21 tháng 2 năm 2001). “Eminem Protesters Few But Passionate”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  40. ^ Pareles, Jon (17 tháng 7 năm 2000). “Four Hours Of Swagger From Dr. Dre And Friends”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008. 
  41. ^ Bozza 2003, tr. 70
  42. ^ Erlewine, Stephen Thomas (2002). "The Eminem Show" – Overview”. AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  43. ^ Bozell, L. Brent III (24 tháng 7 năm 2002). “Eminem – Tasteless, Incoherent, and Tired”. Media Research Center. Creators Syndicate. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  44. ^ [1]. IFPI. (PDF)
  45. ^ a ă “Stevie Wonder has words to say about Eminem”. AllHipHop. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  46. ^ DeLuca, Dan (12 tháng 11 năm 2004). “Eminem's new album doesn't build on previous success.”. The Philadelphia Inquirer. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  47. ^ Thomas, Mike (14 tháng 10 năm 2004). “Is the King of Pop losing it?”. Chicago Sun-Times (Internet Archive Wayback Machine). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2004. 
  48. ^ Donaldson-Evans, Catherine (12 tháng 11 năm 2004). “Jackson Bashes Eminem in Fox Exclusive”. Fox News. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  49. ^ “Michael Jackson buys rights to Eminem tunes and more”. Rolling Stone. 31 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. 
  50. ^ Reid, Shaheem (20 tháng 10 năm 2004). “Eminem Targets Bush on New Track 'Mosh'. MTV News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  51. ^ Reid, Shaheem (25 tháng 10 năm 2004). “Eminem's 'Mosh' Video Hits the Internet”. MTV News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  52. ^ “Race for the White House: Eminem joins fight.(News)”. The Mirror. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  53. ^ Goldberg 2005, tr. 139
  54. ^ Herbert, Bob (29 tháng 1 năm 2001). “In America; A Musical Betrayal”. New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2007. 
  55. ^ Goldberg 2005, tr. 140
  56. ^ “Eminem in rehab”. Australian Broadcasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  57. ^ [2]. RapSearch.Com. Được lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine
  58. ^ Harris, Chris (14 tháng 12, 2005). "Eminem Scores Fourth No.1 Bow With Curtain Call". mtv.com. MTV Networks.
  59. ^ RapBasement.com – Guess Who's Back, Back Again, Shady's Back, Tell A Friend (19/9/2008)”. Rapbasement.com. 19 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  60. ^ Jokesta (19/9/2008). Reps Confirm New Eminem Album May Hit Stores 4th Quarter DefSounds. Được lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2008 tại Wayback Machine
  61. ^ “Exclusive: Eminem Talks New Album, Book”. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  62. ^ “Eminem Gives Details On His Relapse”. Rapbasement.com. 12 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  63. ^ “Eminem Relapses Twice; 2 NEW Albums Coming”. Rapbasement.com. 5 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  64. ^ Kaufman, Gil (2 tháng 11 năm 2009). “– Eminem Rocks New Orleans' Voodoo Fest With First Full Concert of 2009”. MTV. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  65. ^ “Eminem announces 'Relapse: Refill' album featuring five unreleased songs”. NME. IPC Media. 20 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  66. ^ a ă “Eminem Speaks On New Album Recovery”. Rap Radar. 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2010. 
  67. ^ Kaufman, Gil (30 tháng 6 năm 2010). “Eminem Notches Year's Highest Debut With Recovery”. MTV. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  68. ^ Caulfield, Keith (30 tháng 6 năm 2010). “Eminem's 'Recovery' Explodes At No. 1 on Billboard 200 With 741,000”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  69. ^ Kreps, Daniel. “Eminem's 'Recovery' Tops Chart for Fifth Week”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  70. ^ “Eminem Won't Budge From No. 1 On Billboard 200; Lil Wayne Tops Digital Songs”. Billboard. 25 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  71. ^ Caulfield, Keith (5/11/2011). "Eminem's 'Recovery' Is 2010's Best-Selling Album; Katy Perry's 'California Gurls' Top Digital Song". Billboard.com. Prometheus Media Group.
  72. ^ “Chart Watch Extra: Eminem Bumps Off Gaga – Chart Watch”. New.music.yahoo.com. 4 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  73. ^ "Eminem Album & Song Chart History". Billboard. Nielsen Business Media.
  74. ^ Youngs, Ian (December 21, 2010). "Alex Da Kid: The Brit behind 2010's biggest hit". BBC.
  75. ^ Jacobs, Allen (24 tháng 11 năm 2010). “Hip Hop Album Sales: The Week Ending 11/21/2010 | Get The Latest Hip Hop News, Rap News & Hip Hop Album Sales”. HipHopDX. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  76. ^ Jacobs, Allen. “Eminem to perform at 2010 BET awards”. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  77. ^ “Eminem And Jay-z Announce More "Home & Home" Dates”. 
  78. ^ "Top 10 Rappers | Top 10 Rappers: Eminem Extended Interview". BET.com. Truy cập 16/11/2010.
  79. ^ "MTV VMA Recap: Stage Rewind with Eminem, Rihanna, Taylor, Kanye and Bieber". 13/9/2010. Singersroom.com.
  80. ^ Cantor, Paul (24/10/2010). "Eminem Is The Hottest MC In The Game!". MTV Networks.
  81. ^ The 2010 HipHopDX Year End Awards | Discussing Lil' Wayne, Drake & Many More Hip Hop Artists. HipHopDX (13/12/2010).
  82. ^ "Rihanna and Eminem to make a Love the Way You Lie sequel". 19/10/2010. Theboombox.com
  83. ^ The Top 25 Music Moments of 2010 Billboard.com. Truy cập 20/12/2010
  84. ^ Semigran, Aly (14 tháng 2 năm 2011). “Skylar Grey Breaks Out With Dre, Eminem Grammy Performance – Music, Celebrity, Artist News”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2011. 
  85. ^ Rodriguez, Jayson (18 tháng 2 năm 2011). “Eminem Shoots 'Space Bound' Video With Porn Star Sasha Grey”. MTV. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  86. ^ Eminem And Royce Da 5'9" To Drop Bad Meets Evil EP MTV.com (25/4/2011). Truy cập 26/4/2011.
  87. ^ “New Music: Royce Da 5'9" f/ Eminem – 'Writer's Block'. Rap-Up.com. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2011. 
  88. ^ 'Fast Lane' by Bad Meets Evil (Official music video) trên YouTube
  89. ^ Eminem Has 2 Albums Go Diamond RapBasement.com (26/4/2011).
  90. ^ “Top 40/M Future Releases”. All Access Music Group. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011. 
  91. ^ Bain, Becky (22 tháng 8 năm 2011). “Eminem And Royce Da 5′9" Pair Up With Bruno Mars For "Lighters" Video”. Idolator. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2011. 
  92. ^ Levy, Piet (7 tháng 8 năm 2011). “Lollapalooza 2011: Eminem rules Day Two”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  93. ^ “Eminem is working on a new album”. Aftermath Music. 24 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2012. 
  94. ^ “Eminem Announces Eighth Studio Album For 2013”. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2012. 
  95. ^ “6. Eminem, TBA — The 50 Most Anticipated Albums of 2013”. Complex. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013. 
  96. ^ “Eminem's Next Album Coming 'Post-Memorial Day' 2013 | Music News”. Rolling Stone. 8 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  97. ^ “Eminem To Hit The Studio With No I.D. - Music, Celebrity, Artist News”. MTV.com. 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013. 
  98. ^ “Eminem's 'MMLP2' Album Announced At VMAs”. huffingtonpost.com. 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013. 
  99. ^ 'Call of Duty: Ghosts' launch trailer: dogs, destruction, Eminem”. Relaxnews (Yahoo News). 22 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  100. ^ “Eminem's Album Sales Impress As 'MMLP2' Hits No. 1”. Huffingtonpost.com. 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  101. ^ “Eminem's 'Marshall Mathers LP 2' Scores Second-Biggest Debut of Year”. Billboard. 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  102. ^ “Eminem Four Singles in Billboard Hot 100 Top 20”. Complex. 8 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  103. ^ “Eminem Ties Beatles Billboard Record | Hot 96.3”. Indyhiphop.com. 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  104. ^ “Eminem Is First Lead Artist Since Beatles to Score 4 Top 20 Hits - News - Fuse”. Fuse.tv. 8 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  105. ^ “Eminem scores seventh consecutive UK Number 1 album”. Official Charts Company. 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  106. ^ “Eminem bags seventh consecutive UK Number One Album”. NME. 10 tháng 11 năm 2013. 
  107. ^ “Eminem Scores Seventh Consecutive UK Number One Album With 'The Marshall Mathers LP 2'. EntertainmentWise.com. 11 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  108. ^ “Canada’s Digital Music Sales Rise in 2013 Unlike the U.S.; Eminem, Robin Thicke Among Top Selling Artists”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  109. ^ Chris Martins. “YouTube Music Awards: A Charming Mess With Eminem, Macklemore, M.I.A., and More”. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  110. ^ Soren Baker. “Eminem Wins "Global Icon" Award At 2013 MTV EMA Music Awards”. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  111. ^ Gallo, Phil (25 tháng 8 năm 2014). “Eminem Announces 'Shady XV' Compilation With New Track 'Guts Over Fear'. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  112. ^ “SHADYXV Tracklist Revealed”. www.eminem.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2014. 
  113. ^ Grow, Kory. “Hear Eminem's Love Letter to His Hometown, 'Detroit Vs. Everybody'. Rolling Stone. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014. 
  114. ^ Rosenberg, Paul. “SHADYXV out 11/24”. Twitter. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014. 
  115. ^ Tardio, Andres (3 tháng 12 năm 2014). “Hip Hop Album Sales: Eminem, Rick Ross, Beyonce”. HipHop DX. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014. 
  116. ^ Trakin, Roy. “Eminem First to Receive Two Digital RIAA Diamond Certifications”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014. 
  117. ^ “eminem at Wembley”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014. 
  118. ^ Kennedy, Gerrick D. (8 tháng 2 năm 2015). “Grammys 2015: Eminem takes best rap album honors”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015. 
  119. ^ “Eminem takes home Best Rap Album, Best Rap/Sung Collaboration Grammys”. The Times of India. Asian News International. 9 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015. 
  120. ^ Eminem Releases 10-Disc Career-Spanning Vinyl Box Set | Billboard
  121. ^ Eminem to release new song on 'Southpaw' soundtrack | NME.COM
  122. ^ “Eminem Kings Never Die”. Youtube. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2015. 
  123. ^ “Re-Up CD”. Encore. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  124. ^ Bozza 2003, tr. 19
  125. ^ a ă Smith, Kerry (tháng 5 năm 2006). “D12 > Biography”. Allmusic. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  126. ^ “Bizarre: Split Personality”. XXL. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  127. ^ “Lefalaja.com”. Lefalaja.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  128. ^ Elson, Rachel F. “Eminem Naps Through His Oscar Victory”. People. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  129. ^ “VU Games, Eminem, and Dr. Dre debut 50 Cent: Bulletproof”. Xbox Solution. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  130. ^ “Eminem To Star In 'Have Gun, Will Travel'. ustinet news. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  131. ^ “Eminem Almost Had Hayden Christensen's Role In 'Jumper'. MTV News. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  132. ^ “Eminem, Aguilera to Appear on Entourage Season Finale”. TVGuide.com. 29 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  133. ^ Sean Michaels (18 tháng 7 năm 2013). “Eminem and Die Antwoord's Ninja both turned down lead in sci-fi film | Music”. theguardian.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  134. ^ Keneally, Meghan (18 tháng 12 năm 2014). 'The Interview': Best Scenes From the Movie That Won't Be in Theaters”. ABC News. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  135. ^ Eminem, All Grown Up? Rapper to Release Tell-All" TV Guide. 21/10/2008.
  136. ^ Monica Herrera (31 tháng 1 năm 2011). “Eminem to Star in Super Bowl Claymation Ad: Report”. Billboard. 
  137. ^ Kaufmann, Gil (7 tháng 2 năm 2011). “Eminem Praised For Chrysler Super Bowl Commercial”. MTV. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  138. ^ “Eminem's Chrysler Commercial Hailed as One of Top Super Bowl Ads of 2011”. TheCelebrityCafe.com. 7 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  139. ^ “Marshall Mathers Foundation: Celebrity Supporters”. 
  140. ^ Hess, Mickey (2009). “Esham”. Hip Hop in America: A Regional Guide: Volume 1: East Coast and West Coast. ABC-CLIO. tr. 411–413. ISBN 0-313-34323-3. 
  141. ^ a ă â Edwards, 2009, tr. 88.
  142. ^ Eminem; Jenkins, Sacha (2008). The Way I Am. Dutton Adult. tr. 20. 
  143. ^ Edwards, 2009, tr. x.
  144. ^ Edwards, 2009, tr. 5, 38.
  145. ^ Edwards, 2009, tr. 7.
  146. ^ Edwards, 2009, tr. 34.
  147. ^ Edwards, 2009, tr. 66, 107.
  148. ^ Edwards, 2009, tr. 85.
  149. ^ Edwards, 2009, tr. 106.
  150. ^ Edwards, 2009, tr. 120, 129.
  151. ^ Edwards, 2009, tr. 244.
  152. ^ Edwards, 2009, tr. 253.
  153. ^ Edwards, 2009, tr. 257.
  154. ^ Edwards, 2009, tr. 160.
  155. ^ Edwards, 2009, tr. 212.
  156. ^ Tyrangiel, Josh (3 tháng 6 năm 2002). “The Three Faces of Eminem”. TIME. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. 
  157. ^ “Eminem Says 'Slim Shady' Wasn't Right for Recovery”. MTV News. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. 
  158. ^ 50 Things You Didn't Know About Eminem | Complex
  159. ^ Robertson, Jessica (5 tháng 4 năm 2006). “Eminem to Divorce Kim, Again”. Rolling Stone. Wenner. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  160. ^ Eames, Tom (8 tháng 10 năm 2013). “Eminem's daughter Hailie is named Homecoming Queen”. Digital Spy. Hearst Corpordivorce. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  161. ^ Hugo Daniel, Felicity Thistlethwaite (23 tháng 11 năm 2013). “Guess Who's Back (together): Eminem and ex-wife Kim Scott rekindle their romance... seven years after SECOND divorce”. Daily Mail. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  162. ^ Esther Lee (22 tháng 11 năm 2013). “Eminem, Kim Mathers Have "Great Relationship" as Parents; Not Reconciled”. Us Weekly. Wenner Media LLC. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  163. ^ “Eminem & Wife Reunion Denied”. National Ledger. 8 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  164. ^ Vultaggio, Maria (30 tháng 10 năm 2013). “Eminem Apologizes To Mother Debbie Mathers In 'Headlights'. International Business Times. IBT Media. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  165. ^ Jessica Nunez (16 tháng 2 năm 2010). “Eminem's brother Nate 'Nate Kane' Mathers to drop new album, perform at Majestic Theatre”. Mlive.com. Advance Publications. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016. 
  166. ^ “Eminem Finally Apologizes to Mom on 'Headlights'. Rolling Stones. 13 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013. 
  167. ^ Bozza 2003, tr. 69
  168. ^ “Tour tickets available for a price”. The 411 Online. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  169. ^ a ă “Entertainment | Eminem and Kim to divorce again”. BBC News. 6 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  170. ^ “Eminem Gets Two Years' Probation In Weapon Case”. MTV. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  171. ^ “Eminem wife's suicide bid”. BBC News. 10 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2011. 
  172. ^ Mackie, Richard; Marissa Nelson (26 tháng 10 năm 2000). “Ontario wants rap star banned”. Globe and Mail (Toronto). tr. A1, A4. 
  173. ^ Everett-Green, Robert (26 tháng 10 năm 2000). “Bad rap for a rapper”. Globe and Mail (newspaper) (Toronto). tr. A25. 
  174. ^ Zahlaway, Jon (26 tháng 10 năm 2000). “Eminem to play despite Canadian officials concerns”. LiveDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  175. ^ Dansby, Andrew (20 tháng 10 năm 2003). “Judge Drops Eminem Rap”. Rolling Stone. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015. 
  176. ^ van Horn, Teri (28 tháng 6 năm 2001). “Eminem Gets Probation”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2008. 
  177. ^ “Eminem sued by jazz star”. BBC News. 31 tháng 3 năm 2002. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2008. 
  178. ^ Finn, Robin (25 tháng 5 năm 2007). “A Defender of the Controversial, and Now of Imus”. New York Times. 
  179. ^ “Secret Service checks Eminem's 'dead president' lyrics”. CNN. 6 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  180. ^ Erlewine, Stephen Thomas (2004). "Encore" – Overview”. Allmusic. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2007. 
  181. ^ a ă “Crainsdetroit.com”. Crainsdetroit.com. 23 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  182. ^ Stempel, Jonathan, 23/9/2009, reuters.com "Apple, Eminem headed for trial as talks break down"
  183. ^ “Eminem's Music Publisher, Apple Settle Dispute”. Cbsnews.com. 6 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010. 
  184. ^ Petition for writ of certiorari to the United States Court of Appeals for the Ninth Circuit denied., 21/3/2011
  185. ^ Hotstylz claim Eminem's Rap God uses unauthorised sample | Music | The Guardian
  186. ^ Hotstylz Releases Eminem Diss Track “Rap Fraud” - XXL
  187. ^ Hotstylz: Why We Dissed Eminem’s Daughter | Rolling Stone
  188. ^ Eminem Sued By Chicago Rappers Hot Stylz Over 'Rap God' Lyrics | Billboard
  189. ^ Chicago Rappers Hotstylz To Sue Eminem For $8 Million Over Sample In ‘Rap God’
  190. ^ McGee, Tiffany (4 tháng 5 năm 2009). “Eminem Bounces Back from 20-Pill-a-Day Addiction”. People. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  191. ^ “Has Eminem Gone The Way Of Mase And MC Hammer?”. MTV News. 4 tháng 3 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  192. ^ “Australia wants to ban Eminem”. Hollywood.com. 2 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  193. ^ “EMINEM DISCUSSES HOMOPHOBIC LYRICS WITH ANDERSON COOPER”. Towelroad.com. 10 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  194. ^ “Elton John – John Slams Eminem's Homophobic Label”. Contactmusic.com. 8 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  195. ^ “New 'tolerant' Eminem supports gay marriage”. Today.msnbc.msn.com. 17 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  196. ^ Solomon, Deborah (16 tháng 6 năm 2010). “Questions for Eminem – The Real Marshall Mathers”. The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  197. ^ “Rolling Stone, 100 Greatest Artists of All Time”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2012. 
  198. ^ “The Immortals: The First Fifty”. Rolling Stone Issue 946. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2008. 
  199. ^ “Michael Jackson, the Beatles, Bob Dylan, Led Zeppelin, and the Rolling Stones Top... – NEW YORK, August 25 /PRNewswire/”. New York: Prnewswire.com. 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010. 
  200. ^ MTV Top 10 | Ep. 1 | Pop Icons No.07 | Eminem | MTV Top 10 – episode 1deMTV Top 10 | Vídeo | MTV Portugal Được lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine. Mtv.pt. Truy cập 21/12/2010. Được lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine
  201. ^ Montgomery, James (8 tháng 12 năm 2009). “Eminem Is The Best-Selling Artist Of The Decade”. MTV News. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2010. 
  202. ^ Turnbull, John (20 tháng 12 năm 2014). “New Music Through Old Ears: Shady Queen Mark Guy”. Independent Australia. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  203. ^ “Eminem Vevo channel views”. Youtube. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2016. 
  204. ^ “The Nielsen Company & Billboard's 2010 Music Industry Report”. Business Wire. 6 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011. 
  205. ^ Baker, Soren. “Eminem First Artist With Two Digital Diamond Awards”. HipHop DX. Cheri Media Group. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  206. ^ Grein, Paul (11 tháng 6 năm 2014). “Chart Watch: 50 Cent’s Sales Slide”. Yahoo!. 
  207. ^ Business Wire (5 tháng 1 năm 2012). “The Nielsen Company & Billboard's 2011 Music Industry Report”. Business Wire. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  208. ^ “Eminem becomes first double Diamond Digital winner”. 11 tháng 6 năm 2014. 
  209. ^ Grein, Paul (26 tháng 10 năm 2011). “Week Ending October 23, 2011. Albums: Casting Crowns Not Crowned | Chart Watch – Archives – Yahoo! Music”. New.music.yahoo.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  210. ^ “Eminem Will Score Biggest Sales Week of 2010”. Rolling Stone. 24 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  211. ^ “Billboard - Music Charts, Music News, Artist Photo Gallery & Free Video”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014. 
  212. ^ “Billboard - Music Charts, Music News, Artist Photo Gallery & Free Video”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014. 
  213. ^ Chris Molanphy (15 tháng 8 năm 2011). “Introducing the King of Hip-Hop”. Rolling Stone. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  214. ^ “The RS 500 Greatest Albums of All Time: Rolling Stone”. Rolling Stone. 18 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  215. ^ Nigel D. (10 tháng 12 năm 2009). “Rolling Stones Top 100 Albums Of The Decade | RealTalkNY”. Realtalkny.uproxx.com. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  216. ^ Pitchfork: Album Reviews: Eminem: Curtain Call: The Hits Được lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2009 tại Wayback Machine. Pitchfork Media (5.12.2005). truy cập 19.1.2011. Được lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2009 tại Wayback Machine
  217. ^ “50 Cent inspired by Eminem to rap”. Azcentral.com. 20 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  218. ^ Jerzy, DJ YRS. “Usher talks career ups and downs, Eminem, ex-wife, and tour secrets with "Sway In The Morning" [VIDEO]”. Hip Hop Vibe. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  219. ^ “Kendrick Lamar Says Eminem Influenced His Style”. Vladtv.com. 29 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  220. ^ “Ed Sheeran's debut album '+' inspired by Eminem”. Digital Spy. 
  221. ^ “Redhead Redemption: Ed Sheeran”. Interview Magazine. 
  222. ^ “Shades of Cool: 12 of Lana Del Rey's Biggest Influences”. Rolling Stone. 
  223. ^ “Big Sean talks about his past, influences”. Northern Star Online. 
  224. ^ Langhorne, Cyrus (18 tháng 5 năm 2010). “J. Cole Inspired By Eminem & Canibus, "I Used To Hang [Their] Raps On My Wall" Video”. Sohh.Com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  225. ^ “Skylar Grey Reveals Eminem's Influence on Her New Single, "C'mon Let Me Ride". Fuse. 
  226. ^ “Bubba Sparxxx –”. FreakyTrigger. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  227. ^ “ASHER ROTH talks EMINEM Comparisons & Being White - New Song "As I Em". YouTube. 15 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  228. ^ “Machine Gun Kelly Honors Eminem In Detroit”. Under the Gun Review. 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  229. ^ Jones, Biz (23 tháng 12 năm 2011). “Eminem Has Been My Mentor For A Long Time, Says Yelawolf”. Sohh.Com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  230. ^ “Hopsin Talks On Eminem's Influence & "Ill Mind Of Hopsin 5". Hotnewhiphop.com. 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  231. ^ “Tyler, The Creator Meets Eminem”. Complex. 1 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  232. ^ “Interview with Hollywood Undead: Common Misconceptions | The Aquarian Weekly”. Theaquarian.com. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  233. ^ “CHRIS WEBBY | Idol Magazine”. Idolmag.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  234. ^ Tardio, Andres (31 tháng 10 năm 2013). “Chance The Rapper Says He Couldn't Meet Eminem Despite Touring With Him | Get The Latest Hip Hop News, Rap News & Hip Hop Album Sales”. HipHop DX. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  235. ^ “30 Rap Artists Talk About Their Favorite Eminem Song, Album, and Moment”. Complex. 8 tháng 11 năm 2013. 
  236. ^ “David Banner On White Rappers Using The "N" Word”. YouTube. 19 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  237. ^ nandishShady (17 tháng 3 năm 2013), Wiz Khalifa Calls Eminem One of the Greatest Rappers of All Time | Larry King Now, truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016 
  238. ^ “Talib Kweli on "White Male Privilege" & Eminem”. YouTube. 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  239. ^ “Exclusive: The Last MC That Impressed Kool G. Rap Is Eminem”. YouTube. 28 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  240. ^ “Exclusive: Redman Talks About Eminem's 10 Grammy Nominations”. YouTube. 14 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  241. ^ Kuperstein, Slava (9 tháng 10 năm 2009). “Jay-Z Reacts To MTV's "Hottest MC" List | Get The Latest Hip Hop News, Rap News & Hip Hop Album Sales”. HipHop DX. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Giải thưởng
Tiền nhiệm:
"If I Didn't Have You" trong Công ty Quái vật của Randy Newman
Academy Award for Best Original Song
2002
Kế nhiệm:
"Into the West" trong Return of the King của Fran Walsh, Howard ShoreAnnie Lennox
Tiền vị:
Mariah Carey
Billboard Artist of the Decade
2009
Đương nhiệm