Hôn nhân đồng giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Công nhận
quan hệ đồng giới
Hôn nhân
Công nhận
† Chưa có hiệu lực
  1. Hợp pháp ở tất cả 31 bang
  2. Không có luật toàn quốc cho hôn nhân đồng giới; mỗi quận đưa ra biểu quyết hoặc phán quyết của tòa án.
  3. Nếu đăng ký kết hôn ở Hà Lan
Chủ đề LGBT

Hôn nhân đồng giớihôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học. Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn nhân bình đẳng" hay "bình đẳng hôn nhân", thuật ngữ này sử dụng phổ biết nhất từ những người ủng hộ[1][2][3][4][5]. Việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới còn được mô tả bằng thuật ngữ "định nghĩa lại hôn nhân" từ các trường phái có quan điểm đối lập.[6][7][8]

Hôn nhân đồng giới là vấn đề còn tồn tại tranh cãi giữa những người ủng hộ và không ủng hộ. Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới cho rằng việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới là để đảm bảo nhân quyền (quyền con người), đảm bảo sự bình đẳng và quyền lợi giữa những người thuộc các thiên hướng tình dục khác nhau, thể chất và tâm lý tốt của con người được tăng cường bởi hôn nhân đồng thời xã hội sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ việc công nhận hôn nhân đồng giới. Mặt khác, họ cho rằng các cha mẹ đồng tính hoàn toàn có thể chăm sóc và nuôi dạy con cái tốt như những người dị tính, và con cái của các cặp vợ chồng đồng tính được hưởng lợi khi được nuôi dưỡng bởi cha mẹ có tình trạng hôn nhân hợp pháp và nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức, đoàn thể xã hội.[9][10][11][12] Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ của bình đẳng hôn nhân, sau khi đã có quyền bình đẳng của người da màu, quyền bình đẳng của phụ nữ và quyền bình đẳng tôn giáo.[12][13][14][15][16][17][18][19][20][21][22][23][24][25] Ngược lại, những người khác phản đối hôn nhân đồng giới vì họ cho là kiểu gia đình này có những khiếm khuyết (trẻ em thiếu cha hoặc mẹ nên dễ gặp tổn thương tâm lý và lệch lạc hành vi, hôn nhân đồng tính thường không bền vững, không có khả năng duy trì nòi giống, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân...), do vậy nếu chấp thuận và để nó nhân rộng thì sẽ gây hại cho xã hộitrẻ em.[26][27]

Công nhận hôn nhân đồng giới là một vấn đề chính trị, xã hội, nhân quyềnquyền công dân, cũng như vấn đề tôn giáo ở nhiều quốc gia và trên thế giới. Những tranh cãi tiếp tục diễn ra rằng hai người đồng giới có nên được kết hôn, được công nhận một mối quan hệ khác (kết hợp dân sự) hoặc từ chối công nhận những quyền đó.[28][29][30] Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người LGBT, cũng là những người đóng thuế cho chính phủ, được sử dụng những dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giới khác. Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ như quyền thừa kế và quyền thăm nuôi.[31] Những lợi ích hoặc tác hại của việc công nhận hôn nhân đồng tính là chủ đề tranh luận của nhiều tổ chức khoa học.

Hôn nhân đồng giới có thể được thực hiện một cách đơn giản hoặc theo nghi thức tôn giáo. Nhiều cộng đồng tín ngưỡng trên thế giới đã cho phép hai người cùng giới kết hôn hoặc thực hiện hôn lễ cùng giới, ví dụ như: Phật giáo ở Đài Loan, Úc, Nhà thờ ở Thụy Điển, Giáo hội Presbyterian, Do Thái giáo bảo thủ, Giáo hội Thống Nhất Canada...[32][33][34][35]

Trước khi công nhận hôn nhân đồng giới, nhiều nước đã có luật cho các cặp đồng tính đăng ký sống chung gọi là kết hợp dân sự, quy định quyền lợi và bổn phận của họ như Đan mạch từ năm 1989[36],[37] , Na Uy năm 1993[38].

Nghiên cứu

  Hôn nhân cho các cặp đồng giới (vòng tròn = những trường hợp riêng lẻ)
  Công nhận hôn nhân đồng giới ở nền luật pháp khác
  Toàn án cấp cao đã quyết định cho phép, nhưng chưa được thực hiện
  Chính phủ có ý định và có khả năng hợp pháp hóa
  Cho phép kết hợp dân sự và có hầu hết quyền như hôn nhân
  Cho phép đăng ký chung sống và có một số quyền như hôn nhân
  Chung sống không đăng ký
  Hôn nhân đồng giới không hợp pháp
(Màu nằm cao hơn trong danh sách vô hiệu hóa màu thấp hơn. Những vòng tròn thể hiện những trường hợp rải rác; ở châu Phi, đây là hôn nhân đồng giới truyền thống (một dạng nghi lễ) chứ không phải đồng tính luyến ái.)

Tổ chức ủng hộ

Từ ngày 26/06/2014, Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận quyền kết hôn đồng tính với hơn 43.000 nhân viên thuộc tổ chức này trên toàn cầu, bao gồm các hình thức "hôn nhân" và "kết hợp dân sự" đồng tính. Trước kia, tình trạng hôn nhân của nhân viên Liên Hiệp quốc được xác định bởi quốc tịch của họ, tuy nhiên kể từ đây, Liên Hiệp quốc sẽ công nhận pháp lý đối tất cả các cặp vợ chồng đồng tính đã thực hiện kết hôn tại nước mà hôn nhân đồng giới là hợp pháp, không phân biệt quốc tịch của họ. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon tuyên bố: "Quyền con người là sứ mệnh cốt lõi của Liên Hiệp Quốc. Tôi rất tự hào khi đứng lên vì sự bình đẳng của tất cả nhân viên, và tôi cũng kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc hãy đoàn kết lại để loại trừ hội chứng kỳ thị đồng tính và những sự phân biệt đối xử mà chắc chắn nó không thể được chấp nhận tại nơi đây".[39][40][41]

Rainbow flag breeze.jpg
Cờ cầu vồng - biểu tượng của phong trào đấu tranh của cộng đồng LGBT và phong trào "niềm tự hào đồng tính" từ năm 1978, gồm 6 màu: đỏ, cam, vàng, lục, xanh dương, tím. Số lượng sọc được chọn là chẵn để tránh việc sọc chính giữa của cờ bị che khuất bởi cột cờ khi treo thẳng đứng

.

Ngoài ra, Liên Hiệp Quốc đã có nhiều hành động thúc đẩy việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới và các quyền đối với người đồng tính, các xu hướng tình dục thiểu số khác tại các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Vào tháng 4/2011, Liên Hiệp Quốc đã phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xuất bản một tài liệu có tựa đề "Phát ngôn của Liên hiệp quốc về giải quyết vấn đề phân biệt đối xử trên cơ sở thiên hướng tình dục và bản sắc giới"[42][42]. Vào tháng 9/2012, Liên hiệp quốc in một ấn phẩm gồm 60 trang về vấn đề "thiên hướng tình dục và bản sắc giới trong luật nhân quyền quốc tế" như một cẩm nang giúp các quốc gia hiểu rõ hơn bản chất các nghĩa vụ của mình đồng thời hướng dẫn các bước cần thiết để họ thực hiện xây dựng luật và chính sách đảm bảo các quyền cơ bản cho những người đồng tính, song tính và chuyển giới. Vào Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và chuyển giới (ngày 17 tháng 5 hàng năm), hầu hết các cơ quan của Liên Hiệp quốc đều đánh dấu kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể[43][44].

Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association, APA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về tâm lý học lớn nhất thế giới (với hơn 137.000 chuyên gia ngành tâm lý) đã tuyên bố trong Nghị quyết bình đẳng hôn nhân cho người đồng tính ngày 03 tháng 05 năm 2011:

Đồng tính luyến ái là một biểu hiện bình thường của thiên hướng tình dục con người mà không gây trở ngại cố hữu nào để có thể tạo lập một cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh và hiệu quả, gồm cả khả năng tạo lập mối quan hệ bền vững với một người cùng giới, cũng như nuôi dạy con cái tốt. Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ ủng hộ bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho các cặp vợ chồng đồng tính, phản đối các chính sách, pháp luật phân biệt đối xử với họ. Hiệp hội cũng kêu gọi các chính phủ liên bang mở rộng công nhận đầy đủ hôn nhân đồng giới. Hiệp hội khuyến khích các nhà tâm lý học, khoa học và các chuyên gia khác tiến hành nghiên cứu nhằm nâng cao sự hiểu biết của dân chúng về đồng tính và song tính, cũng như đẩy mạnh các biện pháp can thiệp và giáo dục công chúng nhằm giảm bớt thành kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử. Hiệp hội sẽ tiếp tục làm việc với các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội để thúc đẩy nghiên cứu và can thiệp để cải thiện sức khỏe và phúc lợi của người đồng tính và song tính[45]

Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, APA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về tâm thần học lớn nhất thế giới (với hơn 36.000 bác sĩ tâm thần học) đã nêu trong Tuyên bố về hỗ trợ pháp lý công nhận hôn nhân đồng giới vào tháng 5 năm 2005:

Cam kết hôn nhân bền vững và các mối quan hệ gia đình là nền tảng của xã hội hỗ trợ con người trước những thách thức của cuộc sống, bao gồm cả bệnh tật và mất mát. Các cặp đôi đồng tính trải nghiệm nhiều phân biệt đối xử có thể ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của các mối quan hệ và sức khỏe tâm thần của họ. Con cái của các cặp đồng tính chưa được công nhận pháp lý cũng không có sự bảo vệ tương tự như hôn nhân dân sự đã tạo cho con cái của các cặp vợ chồng khác giới. Việc từ chối công nhận pháp lý của hôn nhân dân sự cũng để lại hậu quả ngày càng có nhiều người lớn tuổi trong các mối quan hệ đồng tính đối mặt với các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi và vấn đề tài chính khi về già... Vì lợi ích của việc duy trì và phát huy sức khỏe tâm thần, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ ủng hộ và hỗ trợ công nhận pháp lý hôn nhân cùng giới với tất cả các quyền, lợi ích và trách nhiệm bằng hôn nhân hợp pháp, và phản đối việc hạn chế các quyền, lợi ích, và trách nhiệm tương đương này.[46]

Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ (American Sociological Association, ASA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về xã hội học lớn nhất thế giới (với hơn 14.000 nhà xã hội học) đã tuyên bố trong nghị quyết của mình:

Không có bằng chứng cho thấy con cái của các cha mẹ cùng giới hay khác giới là khác nhau về hạnh phúc. Thật vậy, sự ổn định lớn hơn được cung cấp bởi hôn nhân cho các cặp đồng tính cũng như các bậc cha mẹ khác giới có thể là một tài sản cho các con mình[47]. Sửa đổi hiến pháp định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người phụ nữ là cố tình phân biệt đối xử chống lại người đồng tính nữ và đồng tính nam cũng như con cái của họ bằng cách từ chối truy cập đến các biện pháp bảo vệ, quyền lợi và trách nhiệm mở rộng tự động cho các cặp vợ chồng kết hôn ... Chúng tôi tin rằng sự biện minh chính thức về việc sửa đổi hiến pháp được đề xuất dựa trên thành kiến ​​hơn là nghiên cứu thực nghiệm. Các nghiên cứu xã hội học đã nhiều lần chỉ ra rằng sự bất bình đẳng gây phương hại đến lợi ích xã hội. Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ cực lực phản đối việc sửa đổi hiến pháp được đề xuất định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ[48].

Biểu tình quy mô lớn chống hôn nhân đồng tính tại Pháp năm 2013 để phản đối việc chính phủ Pháp thông qua luật hôn nhân đồng tính vào năm 2013.[49][50][51] Người biểu tình vẽ giọt nước mắt lên khuôn mặt để biểu thị sự đau lòng bởi họ cho rằng hôn nhân đồng tính là sự suy đồi của luân lý gia đình

Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ (American Anthropological Association, AAA) - tổ chức lớn nhất thế giới của các nhà nghiên cứu nhân chủng học với gần 10.000 thành viên, tuyên bố vào tháng 3 năm 2004:[52]

Những kết quả trong hơn một thế kỷ qua của các nghiên cứu nhân chủng học về mô hình gia đình, các mối quan hệ về gia đình, thân tộc và các nền văn hoá qua các thời kỳ, không cung cấp một hỗ trợ nào cho quan điểm rằng sự văn minh và trật tự xã hội bền vững phụ thuộc vào mô hình hôn nhân là một tổ chức độc quyền dành cho tình dục khác giới. Thay vào đó, các nghiên cứu nhân chủng học đã hỗ trợ kết luận rằng một mô hình đa dạng các kiểu gia định, bao gồm cả gia đình xây dựng dựa trên quan hệ đồng giới, có thể đóng góp cho việc xây dựng xã hội vững mạnh và nhân văn. Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ cực lực phản đối hôn nhân hạn chế chỉ dành cho các cặp dị tính.

Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, viết tắt: AAP) kết luận vào năm 2006, trong một bản phân tích công bố trên Tạp chí Nhi khoa:[53][54]

Có nhiều bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với các yếu tố tình cảm, tâm lý và cách cư xử của một đứa trẻ... chứng tỏ không có rủi ro đối với trẻ em lớn lên trong một gia đình với cha/mẹ là đồng tính. Những người lớn tận tâm và biết cách nuôi dạy, cho dù họ là nam hay nữ, đồng tính hay dị tính, đều có thể là những bậc cha mẹ tốt. Quyền lợi và sự bảo vệ của hôn nhân dân sự có thể làm cho những gia đình như vậy thêm vững mạnh.

Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ (American Academy of Child & Adolescent Psychiatry, viết tắt (AACAP) đã nêu trong tuyên bố chính sách của mình:[55]:

Không có bằng chứng cho thấy hoặc hỗ trợ rằng cha mẹ là người đồng tính hay là có nguy cơ cao hoặc thiếu kỹ năng làm cha mẹ hơn khi so sánh với các cặp cha mẹ khác giới. Không có bằng chứng nào đáng tin cậy cho thấy rằng thiên hướng tình dục của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em. Cá nhân những người đồng tính, song tính hay chuyển giới phải đối mặt với sự giám sát chặt chẽ hơn so với những người dị tính liên quan đến các quyền lợi của họ hoặc trở thành cha mẹ. Các nghiên cứu đã chứng minh trẻ em được nuôi dưỡng bởi các cha mẹ đồng tính không có gì khác biệt so với trẻ em của cha mẹ dị tính về việc phát triển các vấn đề tình cảm hoặc hành vi.[56] Học viện trẻ em và tâm thần học Hoa Kỳ phản đối bất kỳ sự phân biệt nào dựa trên khuynh hướng tình dục hoặc giới tính đối với cá nhân liên quan đến quyền lợi của họ như giám hộ, nuôi dưỡng, hoặc cha mẹ nuôi.

Hiệp hội tâm lý học Canada (Canadian Psychological Association, viết tắt: CPA) khẳng định vào năm 2006:[57]

Các tài liệu (bao gồm tài liệu về những yếu tố cơ sở của hôn nhân đồng giới) chỉ ra rằng tình trạng tài chính, tâm lý và thể chất của các bậc cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và trẻ em được hưởng lợi từ cha mẹ có hôn nhân được công nhận pháp lý... Như đã nêu trong báo cáo năm 2013 của CPA, các yếu tố gây stress ở các cặp đồng tính nam, người đồng tính nữ và con cái của họ là kết quả của các cách thức mà xã hội đối xử với họ hơn vì bất kỳ thiếu sót nào về mô hình gia đình. CPA quả quyết rằng trẻ em được hưởng lợi khi mối quan hệ của hai người nuôi dạy chúng được công nhận và ủng hộ bởi những tổ chức xã hội. Các nghiên cứu tâm lý của CPA kết luận rằng con cái của cha mẹ đồng tính không khác biệt với con cái cha mẹ khác giới về phát triển tâm lý, phát triển giới tính cũng như giới tính của họ, trẻ em lớn lên từ các cặp cha mẹ đồng tính không thể hiện bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào so với các cặp cha mẹ khác giới. CPA tiếp tục khẳng định rằng trẻ em được hưởng lợi từ sự hạnh phúc đó kết quả từ khi mối quan hệ của cha mẹ được công nhận và hỗ trợ của các tổ chức xã hội.

Hiệp hội tâm lý - xã hội học Úc (The Australian Psychological Society, APS)[58] - tổ chức của các nhà tâm lý và xã hội học tại Úc với hơn 20.000 thành viên, trong kiến nghị gửi Thượng viện ban hành Luật Bình đẳng Hôn nhân sửa đổi Bill 2010 đã tuyên bố[59][60]:

Không có cơ sở khoa học cho một khẳng định rằng đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, và những người chuyển giới là ít phù hợp để kết hôn hay để trở thành cha mẹ của những trẻ em khỏe mạnh và được nuôi dạy tốt như ở những người dị tính. APS hỗ trợ bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho tất cả mọi người, bất kể giới tính và thiên hướng tình dục, về các khía cạnh quyền con người, sức khỏe và an sinh xã hội... APS đã có các kiến nghị: Chính phủ Úc sửa đổi luật để loại bỏ phân biệt đối xử dựa trên khuynh hướng tình dục và giới tính; Các chính quyền bang và lãnh thổ Úc bãi bỏ tất cả các biện pháp phủ nhận cặp vợ chồng đồng tính, bao gồm cả những người chuyển giới và lưỡng tính đồng thời ban hành luật để cung cấp bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho các cặp vợ chồng đồng tính; Chính phủ Úc mở rộng công nhận đầy đủ quyền kết hôn hợp pháp cặp vợ chồng đồng tính, tương đương tất cả các quyền, lợi ích và trách nhiệm ở các cặp vợ chồng khác giới kết hôn hợp pháp; Nhà nước và chính quyền lãnh thổ Úc tăng cường ban hành Luật chống phân biệt đối xử để bảo vệ tất cả người dân Úc trước phân biệt đối xử trên cơ sở định hướng tình dục và giới tính.

Đại học Tâm thần Hoàng gia Vương quốc Anh tuyên bố:[61]

… người đồng tính là và nên được xem là những thành viên giá trị của xã hội mà họ có những quyền và nghĩa vụ hoàn toàn tương tự như tất cả những công dân khác. Nó bao gồm … những quyền và nghĩa vụ liên quan tới kết hợp dân sự…

Tổ chức phản đối

Nhiều tổ chức khác thì có quan điểm phản đối hôn nhân đồng tính do e ngại các hệ lụy xã hội mà nó gây ra. Ví dụ, như Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ) luôn duy trì lập trường chống lại hôn nhân đồng tính. Năm 2013, Đảng đã bỏ phiếu nhất trí tái khẳng định cam kết sẽ duy trì thể chế hôn nhân giữa một nam và một nữ tại Hoa Kỳ. Tại Nghị quyết năm 2012 của Đảng Cộng hòa khẳng định[62][63]:

Thể chế hôn nhân là nền tảng của xã hội dân sự, nó sẽ quyết định sự thành công của quốc gia. Kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học xã hội luôn cho thấy hôn nhân truyền thống là tốt nhất cho trẻ em: tăng tỷ lệ đỗ đại học, có thể chất và tình cảm lành mạnh, ít nghiện ma túy hoặc rượu, phạm tội hoặc mang thai ngoài hôn nhân. Việc phá vỡ mô hình gia đình sẽ dẫn đến lãng phí tài chính và tăng sự kiểm soát của chính phủ... Chúng tôi tin rằng hôn nhân, sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ phải được tôn trọng như là tiêu chuẩn quốc gia, một mục tiêu để khuyến khích thông qua luật quản lý hôn nhân.

Tranh mô tả Kinh Thánh: Người thành Sodom báng bổ Thiên Chúa vì tội kê gian (quan hệ đồng tính)

Hiệp hội nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ tuyên bố:[64]

Hiệp hội nghiên cứu gia đình cho rằng hành vi tình dục đồng giới là có hại cho những người tham gia vào nó và cho xã hội nói chung, và không bao giờ nên được chấp nhận. Đó là một quan niệm phi tự nhiện, và như vậy sẽ liên quan đến các tác động tiêu cực tới sức khỏe thể chất và tâm lý. Trong khi nguyên nhân của hấp dẫn đồng tính là rất phức tạp, hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng đồng tính là do di truyền hay bẩm sinh. Chúng tôi phản đối những nỗ lực của các nhà hoạt động đồng tính yêu cầu đồng tính luyến ái được chấp nhận là tương đương với tình dục khác giới trong pháp luật, trong các phương tiện truyền thông, và trong các trường học. Việc chấp nhận "hôn nhân" giữa 2 người cùng giới tính sẽ tạo nên sự định nghĩa lại khái niệm căn bản và làm sai lệch mô hình hôn nhân.

Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, một tổ chức chuyên nghiên cứu các chính sách gia đình, tuyên bố[65][66]:

Về phong trào đồng tính, đây chỉ là biểu hiện mới nhất và cơ bản nhất của cuộc cách mạng tình dục trong 40 năm qua và sẽ dẫn đến việc bình thường hóa của nhiều hành vi lệch lạc hơn. Thúc đẩy phong trào hôn nhân đồng tính sẽ làm suy yếu tổ chức gia đình và theo đó là nền tảng của tất cả các xã hội.... Các chương trình đồng tính làm nảy sinh hàng loạt các hệ lụy... AFA phản đối những nỗ lực để đưa phong trào đồng tính hiện diện trong các trường học, chính phủ, doanh nghiệp và nơi làm việc thông qua luật pháp, chính sách công cộng và phương tiện truyền thông."

Thái độ của Tòa thánh Vatican chống lại hôn nhân đồng tính càng ngày càng kiên quyết. Giáo hoàng Benedict XVI, bậc lãnh đạo của gần 2 tỷ tín đồ Thiên Chúa giáo trên toàn cầu, tiếp tục quan điểm này khi cho rằng, hôn nhân đồng tính cấu thành hành vi chống lại sự thật bản chất của con người. Đó là một nỗ lực không mệt mỏi của cả Vatican mà người đứng đầu là Đức giáo hoàng, nhằm cố gắng thức tỉnh Hoa Kỳ và một loạt các nước châu Âu đang đòi hỏi công nhận hôn nhân đồng tính trong thời gian qua. Giáo hoàng Benedict XVI đã lên tiếng bày tỏ quan điểm rằng: hôn nhân đồng tính là phi tự nhiên và có thể gây nhiều phẫn nộ ảnh hưởng tới hòa bình và công lý trên thế giới. Giáo hoàng Benedict XVI kêu gọi[67][68]:

Chúng ta cần phải phổ cập và lan truyền kiến thức về hôn nhân tự nhiên trong sự giao hòa giữa phái nam và phái nữ nhằm gia tăng nỗ lực chống lại mọi sự dị biến hôn nhân. Những dị biến như thế làm mất ổn định tính tự nhiên của hôn nhân, che lấp bản chất vốn có của hôn nhân và làm phai nhạt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội. Nguyên tắc hôn nhân này không phải là chân lý đức tin mà đơn giản là hệ quả tất yếu của quyền tự do tôn giáo, thể hiện bản chất của con người và là một thành quả phát triển của nhân loại.
Hãy biết thêm về giá trị của gia đình và hôn nhân, là tín đồ Kitô, chúng ta có bổn phận trọng đại bảo vệ nguyên tính và nhất thống của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ trước bất kỳ hình thức diễn dịch lệch lạc nào
.

năm 2013, tại Đài Loan đã diễn ra cuộc biểu tình của hàng chục ngàn người phản đối hôn nhân đồng giới. Họ cho rằng động thái này sẽ đẩy xã hội rơi vào tình trạng hỗn loạn. Nhóm “Vì hạnh phúc của thế hệ mai sau” - một trong những nhóm tổ chức cuộc biểu tình - tuyên bố rằng việc cho phép đồng tính kết hôn và nhận con nuôi sẽ khuyến khích “tình dục thiếu kiểm soát”, làm suy yếu giá trị gia đình truyền thống và gây ra vấn đề dễ nhầm lẫn giới tính ở trẻ em. Nhà lập pháp Lai Shyh-bao của Quốc Dân Đảng nói trước đám đông:"Chúng ta phải đứng lên nói "không" để bảo vệ giá trị gia đình, chính sách này có thể tạo ra một tác động cực kỳ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến dân số cũng như công cuộc giáo dục con cái chúng ta.” Một đại diện khác cũng của Quốc Dân Đảng là Ting Shou-chung nói rằng ông tôn trọng người đồng tính nhưng “gia đình được xây dựng từ một người nam với một người nữ vẫn là một yếu tố quan trọng cho sự ổn định của xã hội và không nên thay đổi điều này.” Nhiều diễn giả tại cuộc biểu tình không ngừng cáo buộc rằng đề xuất hợp thức hóa hôn nhân đồng giới là để mở đường cho tình dục tự do, loạn luânquan hệ tình dục tập thể.[69]

Năm 2013, Tòa án tối cao Ấn Độ tuyên bố tái áp dụng Điều luật 377, theo đó sẽ phạt những hành vi thú dâm và đồng tính lên tới 10 năm tù giam. Phán quyết này nhận được sự ủng hộ từ nhiều tổ chức Ấn Độ. Tờ Daily new nhận định "các tổ chức tôn giáo thường chia rẽ với nhau, nhưng họ đều đồng loạt chỉ trích đồng tính luyến ái và bày tỏ tình đoàn kết với phán quyết này". Lãnh đạo giáo hội Hindu Ấn Độ phát biểu: "Đây là một quyết định đúng đắn. Đồng tính luyến ái là chống lại nền văn minh Ấn Độ. Nó khiến chúng ta suy đồi và trở lại gần giống như động vật. Hôm nay họ nói về quan hệ tình dục đồng tính; ngày mai họ sẽ nói về quan hệ tình dục với động vật. Tòa án tối cao đã bảo vệ nền văn hóa của chúng ta." Để biện luận cho phán quyết tái hình sự hóa đồng tính, thông cáo của Hội đồng tòa án tối cao ghi:

Tòa án tối cao đã từng loại bỏ đạo đức như là một nguồn của pháp luật, bỏ qua thực tế rằng các thử nghiệm về tính hợp lý của pháp luật phải bao gồm cả giá trị về đạo đức và luân lý[70][71]

Năm 2013, Croatia đã thông qua Hiến pháp mới, theo đó quy định cấm hôn nhân đồng tính đã được thông qua với tỷ lệ 65,87% cử tri ủng hộ[72]. Đảng Dân chủ Nhân dân Thiên Chúa giáo Hungary (KDNP) đã hoan nghênh kết quả trên. Theo KDNP, đó là chiến thắng của "giá trị Kitô giáo châu Âu". Vlado Košić đã nhấn mạnh rằng người Croatia là những người Công giáo biết trân quý truyền thống mà họ đã sống trong nhiều thế kỷ[73][74].

Năm 2013, Quốc hội Nga đã thông qua Đạo luật Chống tuyên truyền đồng tính với sự ủng hộ của đại đa số thành viên (trừ duy nhất 1 phiếu trắng). Đạo luật được thông qua nhằm "bảo vệ trẻ em khỏi những thông tin mang tính phá hoại các giá trị gia đình truyền thống"[75][76] Dự luật, được sự ủng hộ của điện KremlinGiáo hội Chính thống giáo Nga, quy định việc cung cấp những thông tin “tuyên truyền việc thú dâm, giới đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới” cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, việc tổ chức những sự kiện cổ vũ cho đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực nhằm cổ vũ những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây, mà Chính phủ và Giáo hội Nga tin rằng đang làm băng hoại giới trẻ[77]

Tổ chức quốc gia về hôn nhân (Hoa Kỳ) (National Organization for Marriage) đã giúp chính phủ Nga thông qua Đạo luật chống tuyên truyền đồng tính năm 2013. Chủ tịch tổ chức là Brian Brown tin rằng những người LGBT nên dừng ngay việc nhận con nuôi và ngay sau đó, Nga đã ban hành một đạo luật người đồng tính cấm nhận con nuôi. Brian Brown tiết lộ ông đã vận động hành lang chống lại dự luật hôn nhân bình đẳng tại Pháp (nơi các cuộc biểu tình bạo lực nổ ra). Brown gọi Nga là một ví dụ tiên phong, và ông hi vọng phong trào này phát triển trên toàn thế giới. Brown đã gom các lập luận của mình vào một nhu cầu phải bảo vệ trẻ em, và là luật "chống tuyên truyền đồng tính" của Nga cũng được đóng khung theo cách đó, khiến cho bất kỳ ai trao đổi về đồng tính luyến ái với một trẻ vị thành niên cũng trở thành bất hợp pháp. Trước Quốc hội Nga, Brian Brown phát biểu[78]

Ngay bây giờ các bạn đang có cuộc chiến về nhận con nuôi, nhưng vấn đề nhận con nuôi không thể tách rời từ các vấn đề hôn nhân. Nếu các bạn không bảo vệ các giá trị văn hóa của đất nước mình, tôi e rằng chúng ta sẽ nhìn thấy sự phát triển rất tiêu cực trên toàn thế giới. Trong một số trường học Hoa Kỳ, trẻ em đang nói chuyện với nhau về tình dục đồng tính, nhưng trong thực tế, các em không nên tìm hiểu về điều đó cho đến một độ tuổi nhất định. Chúng ta cần đoàn kết với nhau, chúng ta cần bảo vệ con em chúng ta. Mọi trẻ em đều có quyền có cha mẹ bình thường: Một người cha và một người mẹ đúng nghĩa

Quan điểm khác của một số cá nhân

Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng và đảm bảo quyền con người, và việc công nhận hôn nhân đồng giới mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Ngược lại, những người phản đối hôn nhân đồng tính thì lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội.

Ủng hộ

Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban ki-moon đã phát biểu: "Văn hóa truyền thống không nên là một trở lực đối với việc thực hiện nhân quyền cho mọi người trên cơ sở xu hướng tình dục. Vì vậy người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng nên có quyền được kết hôn như người dị tính và không thể sử dụng văn hóa, truyền thống làm lý do từ chối quyền cơ bản này đối với những người thiểu số tính dục".[79]

Ngày 06/3/2015, Chính Quyền của tổng thống Obama đã chính thức ủng hộ hôn nhân đồng giới bằng việc gửi kiến nghị ủng hộ vấn đề này lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Luật sư Donald B. Verrilli - đại diện cho chính quyền ông Obama, đã phát biểu việc cấm đoán hôn nhân đồng giới ở một số bang là vi phạm hiến pháp nước Mỹ, và không có lý do thỏa đáng nào để biện minh cho sự phân biệt đó. Bộ trưởng Bộ tư pháp Mỹ cũng cho rằng sự bình đẳng trong vấn đề hôn nhân là ý tưởng đã tới lúc chín muồi. Bản thân Ông Omaba trong cuộc phỏng vấn với ABC News, đã tuyên bố ủng hộ hôn nhân đồng tính: "Tôi cho rằng từ góc độ cá nhân, một việc rất quan trọng với tôi là xúc tiến và khẳng định việc những cặp đôi đồng giới nên được phép kết hôn". Trong một bài diễn văn khác năm 2013, ông khẳng định người đồng giới cũng cần được đối xử giống như những người khác theo pháp luật[80]. Sự vận động để hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ là một nỗ lực thực hiện trong quá trình kéo dài trong suốt gần 3 thập kỷ, từ năm 1996 của Ông Obama[81]. Bà Hillary Clinton, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ phát biểu ngày 18/1/2013: Những người Mỹ LGBT là những công dân đầy đủ và bình đẳng, và xứng đáng được hưởng các quyền công dân, bao gồm cả kết hôn. Đó là lý do tại sao tôi ủng hộ hôn nhân cho các cặp vợ chồng đồng tính, nam cũng như nữ. Cá nhân tôi ủng hộ vấn đề này, và như là một vấn đề của chính sách và pháp luật, trong bối cảnh nỗ lực ngày càng rộng rãi để thúc đẩy bình đẳng và cơ hội cho những người Mỹ LGBT và tất cả người Mỹ.[82][83]

Tiến sĩ Nguyễn Thu Nam (Viện Chiến lược và chính sách y tế) cho rằng hôn nhân đồng giới có tính bình đẳng cao vì hai người ít có sự phân công lao động hay trách nhiệm theo giới. Nghiên cứu trong thời gian ba năm ở Vermont, Mỹ về chất lượng cuộc sống ở các cặp đồng tính sống chung có đăng ký và các cặp kết hôn dị tính cho thấy, các cặp đồng tính sống chung có đăng ký có mối quan hệ hài hòa hơn, gần gũi nhau và ít xảy ra xung đột hơn so với các cặp kết hôn thông thường.[84]

Thị trưởng thành phố New York Michael Bloomberg nhận định: "Bình đẳng Hôn nhân đã làm thành phố của chúng ta cởi mở hơn, toàn diện hơn và tự do hơn. Nó cũng đã giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm và hỗ trợ nền kinh tế của chúng ta."[85] Thị trưởng thành phố San Francisco Gavin Newsom khẳng định: "Bình đẳng hôn nhân là vấn đề về phẩm giá của con người, quyền của con người. Bạn thích hay không thích cũng vậy thôi". "Chúng ta chưa thể dừng lại cho đến khi mọi người Mỹ đều có quyền bình đẳng như nhau và được tôn trọng như nhau."[86][87][88]

Phản đối

Tiến sĩ David Blankenhorn cho rằng: để phát triển tốt về tâm lý, trẻ em cần phải có một gia đình với một người mẹ và một người cha.[89][90] Trong cuốn sách Tương lai của hôn nhân, ông viết:

Luật pháp là một giáo viên tuyệt vời, và nếu những người ủng hộ hôn nhân đồng tính thành công, trẻ em sẽ bị trục xuất khỏi bài học về hôn nhân. Chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến cho các thế hệ tương lai nghĩ rằng hôn nhân không phải là vì trẻ em mà chỉ vì sự gắn kết quan hệ. Khi hôn nhân không còn gì nhiều hơn sự gắn kết quan hệ, ít người sẽ kết hôn để có con... Người dân vẫn sẽ sinh con, tất nhiên, nhưng rất nhiều trong số trẻ em là con ngoài giá thú. Đó là một thảm họa cho tất cả mọi người. Trẻ em bị tổn thương vì thiếu sự nuôi nấng của cha hoặc mẹ. Xã hội bị tổn thương vì sẽ bắt đầu một chuỗi các tác động tiêu cực dẫn đến nghèo đói, tội phạm, các chi phí phúc lợi cao hơn dẫn đến bộ máy nhà nước phình to hơn, thuế cao hơn, và một nền kinh tế trì trệ hơn.[89]

Tiến sĩ Richard Kay dẫn số liệu tại Bắc Âu cho biết:

Hệ quả của hôn nhân đồng tính thể hiện rõ ở các nước Bắc Âu. Ở Na Uy, nơi hợp pháp hôn nhân đồng tính kể từ đầu thập niên 1990. Trên toàn Na Uy, số trẻ em ngoài giá thú đã tăng khoảng 50% trong thập kỷ đầu tiên của hôn nhân đồng tính.[91]

Nhà nhân chủng học Stanley Kurtz viết:

Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân và dẫn đến tình hình hiện nay tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa. Việc chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống luôn song hành ở các quốc gia, truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp
Hôn nhân đồng tính không thể đem lại cho trẻ em cả cha lẫn mẹ. Nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.[92]

Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), nhấn mạnh rằng sự bất ổn định gia đình là một "dấu hiệu đặc trưng" của hôn nhân đồng tính. Kết quả là chính phủ cần chi nhiều trợ cấp hơn, chi phí tòa án để xử ly hôn cao hơn, trẻ em phạm tội phổ biến hơn, và ngày càng nhiều thanh niên bị kích thích và chấp nhận thử nghiệm hành vi tình dục đồng tính. Ông cho rằng:

(Hôn nhân đồng tính) sẽ ảnh hưởng lớn nhất lên vai trẻ em. Đó là những nạn nhân vô tội của một thử nghiệm xã hội khiến đạo đức và thậm chí là cả thể chất (của trẻ em) đã bị phá vỡ trong cái gọi là "Tự do, bình đẳng và tiến bộ". Từ năm 1994, số người đồng tính nam đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, nó làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh"... Với cùng những cách thức, hôn nhân đồng tính không khác hơn chế độ đa thê và không mang lại lợi ích gì cho trẻ em hoặc xã hội giống như hôn nhân truyền thống mang lại.".[93]

Nhà nghiên cứu Dana Mack cho rằng: "Hôn nhân không nên được mở rộng cho các cặp đồng tính bởi quan hệ đồng tính không thể giúp sinh sản. Hôn nhân là cách thức của nhân loại mà mục đích cốt lõi là để đoàn kết các thành phần sinh học, xã hội và pháp lý của cha mẹ vào cam kết lâu dài. Hôn nhân nói với một đứa trẻ rằng: một người đàn ông và một người phụ nữ sẽ ở đó để yêu thương và dạy dỗ bạn. Trong ý nghĩa này, hôn nhân là một món quà mà xã hội ban cho đứa trẻ. Cho phép hôn nhân đồng tính sẽ làm chuyển đổi mục đích của hôn nhân: từ nghĩa vụ sinh đẻ và nuôi dưỡng trẻ em trở thành ham muốn ích kỷ của người lớn."[94]

Thomas Peters, giám đốc văn hóa tại Cơ Quan Hôn Nhân Quốc Gia Hoa Kỳ, cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm hôn nhân suy yếu:

"Khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó, thì chẳng còn gì để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Các hậu quả phụ này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Tại BrazilHà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được hợp thức hóa. Ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản là lý do chính đòi hôn nhân dân sự phải được giới hạn giữa hai người. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa.[95]

Trong khi đó, tiến sỹ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu từ 4 quốc gia khác nhau cho thấy rằng hành vi đồng giới không phải là cố định về mặt di truyền. Hành vi tình dục là dễ biến đổi, và môi trường xã hội (chuẩn mực văn hóa, pháp luật) có thể tác động vào nó... Khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác ngày càng ủng hộ người đồng tính - cả về xã hội, chính trị, và luật pháp; thì có xu hướng ngày càng tăng về việc các cá nhân tham gia vào hành vi đồng tính. Xu hướng này sẽ tiếp tục nếu chúng ta chính thức hợp thức hóa hôn nhân đồng tính." Bà cho rằng:

"Hai người phụ nữ có thể là người mẹ tốt nhưng không ai có thể là một người cha hoàn hảo". Cha và mẹ, mỗi người một giới tính sẽ giúp cho trẻ em có cái nhìn toàn diện hơn về giới tính của bản thân, từ đó có suy nghĩ và hành động lành mạnh và cân bằng trong các mối quan hệ sau này, đó là điều được nhân loại đúc rút qua 5.000 năm. Hôn nhân đồng tính sẽ làm cho trẻ em bối rối về biểu hiện giới tính và vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về giới tính ở trẻ vị thành niên. Mặc dù đồng cảm với những người đồng tính nhưng không nên vì sự đồng cảm đó mà biến trẻ em thành "chuột bạch" để rồi gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội.[90]

Tính bền vững so với hôn nhân thông thường

Trong một nghiên cứu năm 2014, Đại học Mở của Anh đã khảo sát 5.000 người để tìm hiểu về tình hình sống chung của các cặp đôi hiện đại và phương thức giữ gìn mối quan hệ. Theo đó, các cặp đôi đồng tính hầu hết đều có mối quan hệ tình cảm hạnh phúc hơn các cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, họ lại ít khi bày tỏ những cử chỉ thân mật ở nơi công cộng và ngại công khai mối quan hệ. Tiến sĩ Jacqui Gibb cho biết: "Các cặp đôi đồng tính tham gia luôn có suy nghĩ tích cực và hạnh phúc với mối quan hệ của họ".[96][97][98][99]

Tuy nhiên, về bạo lực gia đình, khảo sát được tiến hành bởi Bộ Tư pháp Mỹ xác nhận rằng người đồng tính và các mối quan hệ đồng tính nữ có một tỷ lệ lớn hơn của bạo lực gia đình so với các mối quan hệ khác giới. Trong cuốn sách vềbạo lực gia đình trong những cặp đồng tính nam, Island và Letellier khẳng định rằng "bạo lực gia đình trong số những người đàn ông đồng tính cao gần gấp đôi so với nam giới dị tính." Khảo sát của Trung tâm quốc gia chống bạo lưc phụ nữ, được tài trợ bởi Viện Tư pháp, cho thấy rằng "chung sống đồng tính có mức bạo lực với bạn tình cao hơn đáng kể so với chung sống khác giới. 39% số cuộc chung sống đồng tính nữ đã xảy ra hãm hiếp, hành hung thể chất, so với 21,7% chung ống khác giới. Đối với đàn ông, các con số tương đương là 23,1% và 7,4%"[100]

Về tính bền vững, Khảo sát năm 2004 ở Na UyThụy Điển đối với các cặp đồng tính đã đăng ký kết hợp dân sự cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường.[101] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[102]

Một nghiên cứu về đồng tính namHà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm[103] Điều tra năm 2004 ở Mỹ về lối sống của 7862 người đồng tính cho thấy: chỉ có 15% đã gắn bó với bạn tình đồng giới được 12 năm hoặc lâu hơn, chỉ có 5% kéo dài hơn 20 năm. Trong khi đó, Trung tâm Sức khỏe Quốc gia năm 2001 thống kê rằng 66% các cuộc hôn nhân nam-nữ đã kéo dài được 10 năm hoặc lâu hơn, 50% kéo dài được 20 năm hoặc lâu hơn. Điều này cho thấy rằng chỉ một số ít mối quan hệ đồng tính đạt được tuổi thọ lâu dài về hôn nhân[100].

Về mức độ chung thủy, nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% các nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% các cặp nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ[104]. Theo Báo cáo Mendola, chỉ 26% người đồng tính tin rằng chung thủy là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc hôn nhân[100].

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[105] Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất "khác biệt" so với xã hội. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đôi đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ. Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường.[106]

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết trong hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[107]

Cặp đồng giới nuôi dạy con

Các nghiên cứu khoa học luôn cho thấy rằng cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ có tâm lý khỏe mạnh và cũng được điều chỉnh như những người nuôi bởi cha mẹ khác giới.[24][108][109] Kết quả nghiên cứu từ những hiệp hội chủ yếu về sức khỏe tâm thần của các chuyên gia ở Mỹ, Canada, Úc và chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm đáng tin cậy cho kết quả khác.[109][25][54][110][111]

Sự đồng thuận

Các nghiên cứu khoa học đã so sánh trực tiếp kết quả đối với trẻ em của cha mẹ đồng tính với cha mẹ dị tính và đã thống nhất trong việc khẳng định cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, đồng thời con cái của họ phát triển tâm lý lành mạnh và tốt như con cái nuôi bởi cha mẹ dị tính[112][108][109]. Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng các yếu tố tài chính, tâm lý và thể chất hạnh phúc của cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc nuôi dưỡng bởi cha mẹ khi hôn nhân được công nhận về mặt pháp lý.[109][25][113][112], mặc dù trên thực tế sự phân biệt pháp lý và bất bình đẳng vẫn là thách thức đáng kể đối với các gia đình đồng tính.[108] Các hiệp hội chủ yếu của các chuyên gia sức khỏe tâm thần ở Mỹ, Canada, và Australia cho biết chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm nào đáng tin cậy cho kết quả khác.[109][25][54][110][111] Kết quả các thống kê cho thấy việc chăm sóc trẻ em và những công việc khác trong các gia đình đồng tính được phân chia đồng đều hơn giữa hai người hơn[114], và rằng không có sự khác biệt về lợi ích và sở thích của trẻ em có cha mẹ đồng tính so với trẻ em có cha mẹ dị tính.[115]

Từ những năm 1970, các kết quả đã ngày càng rõ ràng rằng phương pháp và quá trình phát triển của gia đình (chẳng hạn như "chất lượng" của cha mẹ, trạng thái tâm lý xã hội hạnh phúc của cha mẹ, chất lượng và sự hài lòng với các mối quan hệ trong gia đình, mức độ hợp tác và hòa hợp giữa cha mẹ) góp phần vào việc tạo nên hạnh phúc của trẻ em chứ không phải là cấu trúc gia đình (chẳng hạn như tình trạng số lượng, giới tính hay khuynh hướng tình dục của cha mẹ).[108][113].

Giáo sư Judith Stacey thuộc Đại học New York cho biết: "Hiếm khi có càng nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như trong trường hợp của cha mẹ đồng tính, đó là lý do Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ ".[116] Các tổ chức này bao gồm Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Học viện nghiên cứu tâm lý trẻ em và vị thành niên, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, các hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, các hiệp hội vì hôn nhân và gGia đình trị liệu Hoa Kỳ, các hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, các hiệp hội quốc gia người lao động xã hội, các liên đoàn phúc lợi trẻ em Hoa Kỳ, các Hội đồng về nhận nuôi trẻ em Bắc Mỹ và Hiệp hội tâm lý học Canada. Năm 2006, giáo sư Gregory M. Herek viết trong tạp chí Tâm lý học Mỹ (của hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ): "Nếu đồng tính nam, đồng tính nữ có ít hơn khả năng nếu so sánh với các bậc cha mẹ khác giới thì chúng tôi sẽ phát hiện và chứng minh được vấn đề khi phân biệt các loại mẫu, tuy nhiên mô hình này rõ ràng đã không quan sát được. Với sự thất bại nhất quán trong các kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ các giả thuyết của những người tranh luận rằng con cái của cha mẹ tình dục thiểu số là tồi tệ hơn so với những con cái của cha mẹ khác giới.""[54]

Các nghiên cứu và phân tích bao gồm các phân tích Bridget Fitzgerald năm 1999 về đồng tính và cha mẹ đồng tính nữ được công bố trong Tạp chí Hôn nhân và Gia đình đã chỉ ra rằng "Các nghiên cứu hiện có nói chung kết luận rằng: khuynh hướng tình dục của cha mẹ không phải là một yếu tố dự báo hiệu quả và quan trọng nhất tới sự phát triển thành công ở trẻ em" [117]. Giáo sư tâm lý học Gregory M. Herek phân tích trong tạp chí Nhà tâm lý học Mỹ (American Psychologist) năm 2006 đã cho biết: "Mặc dù có sự thay đổi đáng kể về chất lượng của các mẫu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp đo lường và kỹ thuật phân tích dữ liệu, các phát hiện đến nay đã có sự nhất quán đáng kể. Các nghiên cứu thực nghiệm so sánh trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ có xu hướng tình dục thiểu số với những người lớn lên bởi cha mẹ dị tính đã không tìm thấy sự chênh lệch đáng tin cậy về sức khỏe tâm thần hoặc và điều chỉnh hành vi xã hội. Sự khác biệt đã không được tìm thấy trong khả năng nuôi dạy con cái giữa các bà mẹ đồng tính nữ và các bà mẹ khác giới. Các nghiên cứu về những người cha đồng tính tuy ít về số lượng nhưng không cho thấy những người đàn ông đồng tính có bất kỳ sự ít phù hợp nào về làm cha mẹ nào so với đàn ông dị tính.[54]

Trong tháng 6 năm 2010, kết quả của 25 năm nghiên cứu đang diễn ra theo chiều dọc của tiến sĩ, bác sĩ, nhà nghiên cứu Nanette Gartrell thuộc Đại học California và Phó giáo sư, tiến sĩ Henny Bos thuộc Đại học Amsterdam đã được phát hành. Gartrell và Bos đã nghiên cứu 78 trẻ em được sinh ra nhờ hỗ trợ thụ tinh nhân tạo và nuôi dưỡng bởi các bà mẹ đồng tính nữ. Các bà mẹ được phỏng vấn và đưa ra câu hỏi lâm sàng trong thời kỳ mang thai và khi con cái của họ được 2, 5, 10, và 17 tuổi. Trong bản tóm tắt của báo cáo, các tác giả cho biết: "Theo báo cáo, các cô con gái và người con trai của bà mẹ đồng tính nữ được đánh giá cao hơn đáng kể trong thành tích học tập ở trường học và trong xã hội cũng như tổng các năng lực nói chung, và thấp hơn đáng kể trong các vấn đề xã hội, sự phá bỏ các quy tắc, sự hung hăng, và biểu lộ các hành vi tiêu cực so với con cái các bà mẹ dị tính tương đương về tuổi." [118]

Tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội khoa học chuyên nghiệp lớn: Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:[119]

"Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng các chiều tâm lý và xã hội của mối quan hệ và cam kết giữa các đối tác đồng tính là giống với các đối tác dị tính. Các cặp vợ chồng đồng tính hình thành tình cảm sâu sắc và kèm theo là các mối quan hệ gắn kết, với mức độ hài lòng của mối quan hệ là tương đương hoặc cao hơn so với các cặp vợ chồng dị tính. Họ cũng trải qua các quá trình tương tự như sự thân mật, tình yêu, sự công bằng, và các vấn đề khác của mối quan hệ[120].

Các nghiên cứu về đồng tính, đồng tính nữ, lưỡng tính làm cha mẹ bao gồm hàng chục nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước kia sử dụng các mẫu đại diện nhỏ không xác định được, nhưng những nghiên cứu gần đây đã sử dụng các mẫu xác suất quốc gia. Phát hiện của họ được tóm tắt trong ý kiến ​​của nghiên cứu thực nghiệm được công bố trong sự tôn trọng, được các tạp chí đồng đẳng xem xét và đăng tải tại các sách, ấn phẩm khoa học. Phần lớn nghiên cứu khoa học đã trực tiếp so sánh giữa các nhóm và đã phát hiện ra rằng các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ cha mẹ là phù hợp và có khả năng giống như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ thể hiện sự phát triển tâm lý lành mạnh và cũng được nuôi dạy tương tự. Các công trình nghiên cứu gần đây bao gồm "Cha mẹ đồng tính nam nữ và con cái của họ" (Patterson, AE Goldberg năm 2010), "Cuộc sống gia đình của người đồng tính nam và nữ" của CJ Patterson, "Sổ tay hôn nhân và Gia đình" (GW Peterson & KR Bush eds, 2013), "Trẻ em của cha mẹ Lesbian và Gay" của CJ Patterson (tạp chí Nhà tâm lý học, 2009), "Báo cáo kỹ thuật: Nhận con nuôi của cha mẹ đồng tính" (CJ Patterson), "Mối quan hệ gia đình của người đồng tính nữ và đồng tính nam" (J. Hôn nhân & Fam năm 2000, N. Anderssen), "Kết quả cho trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính" (Scand. J. Psychol), "Viễn cảnh đương đại về Lesbian, Gay", Hội nghị chuyên đề về Động lực phát triển(Nebraska, 2009), "Trẻ vị thành niên của cha mẹ đồng tính nam và nữ" (CJ Telingator & CJ Patterson), "Trẻ em vị thành niên và tâm thần học" (J. Am. Acad, 2008), "Điều chỉnh tâm lý của xã hội, trường học, mối quan hệ của thanh thiếu niên với cha mẹ đồng tính(JL Wainright), "Thiên hướng tình dục ở trẻ em trong gia đình đồng tính và đồng tính nữ"(H. Bos & TGM Sandfort, 2010), "Lesbian & Tình dục khác giới" (H. Bos), "Nuôi dạy và phát triển trẻ em trong các gia đình nhận con nuôi" (J. Child. & Fam. Stud, 2014), "Trẻ em với cha mẹ đồng tính nữ" (S. Golombok, tạp chí Tâm lý học quá trình phá triển 2003), "Chức năng tâm lý xã hội Trong số trẻ em của các cặp vợ chồng đồng tính và dị tính ở Vương quốc Anh (JL Wainright & CJ Patterson, Tạp chí tâm lý học phát triển, 2008), "Tình trạng phạm tội và sử dụng chất cấm trong thanh thiếu niên liên hệ với gia đình đồng tính" (J. Fam. Psychol, 2006)... đã đều kết luận rằng con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nam và nữ được điều chỉnh tốt và mặt phát triển tương tự như con cái của các bậc cha mẹ khác giới[121].

Quan điểm rằng các cặp cha mẹ dị tính là tốt hơn hơn những cặp đồng tính, hoặc là con của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính nam tồi tệ hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới, không được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học thực nghiệm được tích lũy"[122].

Ý kiến khác

Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây, ngay cả ở những nước công nhận hôn nhân đồng tính, bởi việc công nhận hôn nhân đồng tính đồng nghĩa với việc công nhận việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Những lo ngại chủ yếu là về tác động của nó đối với tâm lý trẻ em (nhất là những trẻ lớn lên trong gia đình đồng tính) khi thiếu vắng một người cha/mẹ theo đúng nghĩa, đồng thời với đó là sự sụp đổ các quan niệm về giá trị của hôn nhân trong cách nghĩ của các thế hệ sau.[123]

Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng hôn nhân sẽ cải thiện tình hình tài chính, tâm lý và thể chất của người cha/mẹ đồng tính và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc được nuôi dạy bởi song thân có kết hôn được pháp luật công nhận (đối với cả song thân là cùng giới hoặc khác giới). Do đó, nhiều hiệp hội khoa học chuyên môn đã tranh luận để yêu cầu hôn nhân đồng giới được công nhận hợp pháp bởi vì nó có lợi cho con cái của người đồng tính.[23][24][113][124][125][25] Nhìn chung có những nghiên cứu khoa học chỉ ra kết quả rằng người đồng tính làm cha/mẹ thì cũng phù hợp và có khả năng như người cha/mẹ dị tính và con cái của họ cũng khỏe mạnh về tâm lý và thể chất như con cái của người cha/mẹ dị tính.[24][124][108][109] Theo một số tài liệu nghiên cứu, không có bằng chứng cho thấy những lập luận ngược lại là đúng.[53][54][126][111]

Trong một nghiên cứu, giáo sư Susan Golombok, Đại học Cambridge, đưa ra những kết quả có sự tương đồng lớn với những nghiến cứu trước đó về gia đình của cặp đồng tính nữ. Những nghiên cứu thấy rằng mối quan hệ giữa mẹ và con là tích cực và con cái được điều chỉnh tốt. Không có sự khác nhau đáng kể giữa người mẹ đồng tính và người mẹ dị tính trong hầu hết các khía cạnh nuôi dạy mặc dù có báo cáo rằng người mẹ đồng tính đánh con ít hơn và tham gia nhiều hơn vào những hoạt động vui chơi mang mang tính tưởng tượng và trong gia đình với con cái nhiều hơn người mẹ dị tính.[127]

Theo một cuộc nghiên cứu từ Đại học Melbourne của Úc, trẻ em được nuôi nấng bởi các gia đình đồng tính khỏe mạnh,hạnh phúc phúc hơn so với con của các cặp đôi khác giới.Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 500 trẻ em và 315 cặp đôi phụ huynh đồng tính và phát hiện số điểm của họ cao hơn 6% so với gia đình dị tính thông thường.Trưởng nhóm nghiên cứu - Tiến sĩ Simon Crouch giải thích: "Có vẻ như mối quan hệ giữa phụ huynh và con cái trong các gia đình đồng tính thường rất tốt cho nên đã tạo ra những tác động tích cực đối với sức khỏe trẻ em".[128][129][130][131][132]

Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi cặp đồng tính nữ và 73 bởi cặp đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể[133]:

Vấn đề gặp phải Con nuôi đồng tính nữ Con nuôi đồng tính nam Gia đình thông thường
Thất nghiệp 28% 20% 15%
Có ý định tự tử 12% 24% 9%
Phải điều trị tâm lý gần đây 19% 19% 9%
Có quan hệ đồng tính 7% 12% 2%
Bị cưỡng ép quan hệ tình dục 31% 25% 11%

Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em. Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính[134]

Mark Regnerus tin rằng còn quá sớm đưa ra các kết luận sâu rộng về ảnh hưởng đối với con cái của các cặp đồng tính, và hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng con cái của cặp đồng tính sẽ không khác biệt so với những đứa trẻ có đủ cha mẹ. Trước khi có nhiều bằng chứng hơn, Nhà nước nên thận trọng giữ lại hôn nhân trong phạm vi truyền thống (1 nam và 1 nữ), Regnerus tin rằng đó là điều tốt nhất dành cho trẻ em[135]

Sau khi Mark Regnerus công bố nghiên cứu của mình trên một tạp chí, hơn 200 nhà khoa học đã cùng ký tên và gửi một bức thư cho tạp chí này bày tỏ "những mối lo ngại đáng kể về giá trị của bài báo này". Các nhà nghiên cứu đã cùng chỉ ra nhiều bất ổn, không phù hợp thực tế, không chính xác trong phương pháp luận của Regnerus, cũng như đặt nghi vấn về quá trình mà tạp chí này đã tiếp nhận, xem xét, chấp nhận nghiên cứu của Regnerus và cho phép xuất bản không đảm bảo thời gian yêu cầu[136]. Đại học Texas (nơi Mark Regnerus làm việc) đã đưa ra tuyên bố: "Nghiên cứu này của Mark Regnerus là của riêng ông, không phản ánh quan điểm của Đại học Texas hay Hiệp hội Xã hội học Mỹ", "những kết luận rút ra từ nghiên cứu của ông về người đồng tính làm cha mẹ là cơ bản không hoàn thiện trên cơ sở khái niệm và phương pháp luận", đồng thời các kết quả nghên cứu của Regnerus "đã được trích dẫn trong các nỗ lực không phù hợp nhằm hạn chế các quyền dân sự và chính đáng của các đối tác LBGTQ và gia đình của họ"[137]. Đồng thời, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ (ASA) đã nêu ra 5 sai sót cơ bản không trong phương pháp luận nghiên cứu của Mark Regnerus và kết luận: "Tóm lại, do sự đánh đồng con cái của cha mẹ đồng tính với các cá nhân tự nhận rằng họ có cha hoặc mẹ tham gia vào mối quan hệ yêu đương đồng tính, đánh đồng các cá nhân đó như con cái của người mẹ hay người cha đồng tính, nghiên cứu của Regnerus đã che lấp thực tế là nó đã không kiểm tra và xác thực con cái của hai bố mẹ đồng tính. Theo đó, nó không thể bàn luận về các tác động của kết quả việc nuôi dạy của cha mẹ đồng tính lên con cái". [138][139].

Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.[140]

Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[141]

Tiến sĩ xã hội học Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."[142]

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[143]

Một nghiên cứu lớn tiến hành trên 3.826 cặp sinh đôi cùng giới (7.652 cá nhân) ở Thuỵ Điển đã cho thấy, những yếu tố thuộc về bẩm sinh như yếu tố di truyền và môi trường xung quanh sự hình thành và phát triển của bào thai (môi trường tử cung sớm) trước khi đứa trẻ ra đời (trong đó bao gồm quá trình sinh học như tiếp xúc hormone khác nhau trong bụng mẹ) chiếm chủ yếu trong việc hình thành thiên hướng tình dục đồng giới. Trong khi đó, các tác nhân như môi trường gia đình, xã hội, giáo dục con cái không ảnh hưởng hoặc hoặc ảnh hưởng không đáng kể tới sự hình thành thiên hướng tình dục đồng tính. Nghiên cứu này đưa ra các số liệu: yếu tố gen di truyền có ảnh hưởng khoảng 35% ở nam và 18% ở nữ, yếu tố môi trường phát triển thai nhi trong bụng mẹ (môi trường không chia sẻ) chiếm tỷ lệ chủ yếu tới 64% ở cả nam và nữ. Trong khi đó, yếu tố môi trường gia đình, xã hội, giáo dục (môi trường chia sẻ) chỉ giải thích 16% trong sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nữ và không có ảnh hưởng (phương sai ảnh hưởng 0%) tới sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nam.[144][145].

Trong tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:[146]

Có một số ít các nguồn gợi ý rằng cha mẹ đồng tính có thể có tác động tiêu cực đối với trẻ em thì các nguồn này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ những sai sót về phương pháp luận và không phản ánh tình trạng của kiến thức khoa học hiện tại. Cụ thể, kết luận tiêu cực của ba nhà nghiên cứu thường được trích dẫn bởi các đối thủ của hôn nhân đồng giới là Sarantakos, Regnerus và Allen - đã tạo ra một chấn động lớn khi bị bác bỏ, từ chối bởi các cộng đồng khoa học chính thống. Những sai sót trong phương pháp luận nghiên cứu của Sarantakos, Regnerus và Allen đã làm cho công việc của họ "Không liên quan đến các cuộc thảo luận thực nghiệm về nuôi dạy con và khuynh hướng tình dục. Kiểm toán viên độc lập được bổ nhiệm bởi các tạp chí đó được đăng bài Regnerus của mô tả nó như là "một nghiên cứu không khoa học" và kết luận nó không nên đã được công bố. Những sai sót trong nghiên cứu của Regnerus đã được chỉ ra trong bản kiến nghị của 200 nhà nghiên cứu. MJ Rosenfeld trả lời Allen trong Dân số học năm 2012 rằng phát hiện tồi tệ của Allen về kết quả học tập là do sai sót về phương pháp luận, bao gồm không kiểm soát đối với tác động của ly hôn và các yếu tố khác. Các tài liệu công bố gần đây của Donald Paul Sullins cho thấy tất cả các báo cáo phân tích thứ cấp của dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn y tế quốc gia Khảo sát (NHIS) của Sullins - có sai sót về phương pháp luận tương tự...

Trong nghị quyết về "Định hướng tình dục, cha mẹ và trẻ em" thông qua năm 2004, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã phân tích [147]:

"Nhiều người đồng tính nữ và đồng tính nam làm cha mẹ. Có ba mối quan tâm lớn về người đồng tính làm cha mẹ thường được nêu ra. Chúng bao gồm các mối quan ngại rằng đồng tính luyến ái là bị bệnh tâm thần, rằng đồng tính nữ có ít thiên chức làm mẹ hơn so với phụ nữ dị tính, và rằng các cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có rất ít thời gian cho các mối quan hệ của họ với con cái của họ. Nói chung, các nghiên cứu đã không cung cấp một cơ sở nào cho bất kỳ các mối quan tâm trên. Đầu tiên, đồng tính luyến ái không phải là một bệnh hay rối loạn tâm lý, không có bằng chứng đáng tin cậy rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái làm suy yếu chức các năng tâm lý. Thứ hai, niềm tin mà người đồng tính nữ và đồng tính nam không phải phù hợp làm cha mẹ phù hợp không có nền tảng nghiên cứu thực nghiệm. Các thành viên trong cặp vợ chồng đồng tính đã được phát hiện sự phân chia các công việc gia đình và chăm sóc con cái một cách đồng đều hơn, và sự hài lòng với mối quan hệ với đối tác của họ. Không có cơ sở khoa học để kết luận rằng các bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính làm cha mẹ là không thích hợp trên cơ sở định hướng tình dục của họ. Ngược lại, các kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có đầy đủ khả năng làm cha mẹ như các cặp dôi khác giới để cung cấp môi trường hỗ trợ nuôi dưỡng lành mạnh cho con cái của họ.

Có ba mối quan tâm lớn về sự ảnh hưởng của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính trên trẻ em đã được thường được nêu ra. Một là, con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ được trải nghiệm nhiều khó khăn trong lĩnh vực nhận dạng giới tính hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới. Ví dụ, trẻ em được của các cặp đồng tính sẽ hiển thị rối loạn nhận dạng giới tính và/hoặc hành vi-vai trò giới tính. Loại thứ hai của mối quan tâm liên quan đến các khía cạnh của phát triển của trẻ em với bản sắc tính dục bản thân. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em dưới sự giám sát của cha mẹ đồng tính dễ bị suy sụp tinh thần, sẽ hiển thị nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh các vấn đề hành vi, hoặc sẽ không khỏe mạnh về tâm lý như những đứa trẻ khác. Một loại thứ ba của mối quan tâm là con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ gặp khó khăn trong các mối quan hệ xã hội. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em sống với bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính sẽ bị kỳ thị, trêu chọc, hay nói cách khác là nạn nhân của các đồng nghiệp. Một nỗi sợ hãi phổ biến là trẻ em sống chung với cha mẹ đồng tính nam hoặc đồng tính nữ sẽ có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục bởi cha mẹ hoặc bạn bè của cha mẹ hoặc người quen. Kết quả của nghiên cứu khoa học xã hội đã không xác nhận bất kỳ mối quan tâm về con cái của cha mẹ đồng tính nào nêu trên.

Các nghiên cứu đều cho thấy rằng bản sắc tình dục (bao gồm cả bản sắc giới tính, hành vi giới tính, vai trò của xu hướng tình dục) phát triển giống nhau ở con cái các bậc cha mẹ đồng tính và con cái của các bậc cha mẹ khác giới. Các bằng chứng cũng cho thấy rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có mối quan hệ xã hội bình thường với các bạn bè và người lớn. Những lo ngại về con cái của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính bị lạm dụng tình dục bởi người lớn, bị tẩy chay bởi các đồng nghiệp, hoặc bị cô lập trong cộng đồng... đã không nhận được sự hỗ trợ nào từ khoa học. Nhìn chung, kết quả các nghiên cứu cho thấy sự phát triển, điều chỉnh, và hạnh phúc của con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam không có sự khác biệt so với những trẻ em của cha mẹ khác giới."
Lễ kết hôn của một cặp đôi đồng tính nữ tại Cộng hòa Nam Phi năm 2007

Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ (AACAP), đại diện cho hơn 8.500 bác sĩ tâm thần về trẻ em và thanh thiếu niên đã khẳng định năm 2013[148]:

"Đôi khi mọi người đang lo ngại rằng trẻ em được nuôi dưỡng bởi cha mẹ đồng tính sẽ cần hỗ trợ tinh thần thêm hoặc phải đối mặt với những căng thẳng xã hội. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy trẻ em của các cha mẹ đồng tính không khác với trẻ em của cha mẹ khác giới trong việc phát triển tâm lý, tình cảm của họ hoặc các mối quan hệ của họ với những bạn bè đồng lứa và người lớn xung quanh. Nó là quan trọng cho các cha mẹ hiểu rằng, đó là các yếu tố như chất lượng cặp cha mẹcác mối quan hệ của cha mẹ với con cái chứ không phải thiên hướng tình dục của cha mẹ có ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trái ngược với niềm tin phổ biến thì con cái của các cha mẹ đồng tính nam, đồng tính nữ và người chuyển giới:

Không có khả năng trở thành đồng tính hơn trẻ em của cha mẹ khác giới.
Không có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục.
Không thấy sự khác biệt trong việc họ tự cho rằng mình là nam hay nữ (đồng giới).
Không thấy sự khác biệt ở các hành vi, vai trò đặc trưng của các giới tính nam và nữ."

Theo Hiệp hội tâm lý học Canada (CPA)[111]:

"Vào mùa thu năm 2003, CPA đã ban hành một thông cáo báo chí bác bỏ các tuyên bố về năng lực làm cha mẹ thấp của người đồng tính và những tác động của hôn nhân đồng giới trên trẻ em đã được thực hiện bởi các cá nhân và các nhóm chống đối hôn nhân đồng tính. Các bằng chứng khoa học có sẵn đã chỉ ra rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nam và nữ không có sự khác biệt đáng kể so với con của cha mẹ khác giới đối với sự phát triển tâm lý xã hội cũng như hình thành bản sắc giới tính. Các nghiên cứu đã cho thấy:

Người đồng tính nam và đồng tính nữ coi trọng mối quan hệ gắn kết.
Các cặp vợ chồng đồng tính tương đương các cặp khác giới về chất lượng mối quan hệ.
Cha mẹ đồng tinh nam và nữ có khả năng như cha mẹ khác giới để cung cấp môi trường nuôi dưỡng tốt, hỗ trợ lành mạnh cho con cái của họ.
Khuynh hướng tình dục, tính cách và các mối quan hệ xã hội ở trẻ em ở các vợ chồng đồng tính phát triển tương tự như trẻ em của các cha mẹ khác giới.

Niềm tin rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ người lớn không phù hợp với các bậc cha mẹ, hoặc sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính bị tổn thương là không có căn cứ khoa học. Tuyên bố của chúng tôi dựa trên việc xem xét đại diện cho khoảng 50 nghiên cứu thực nghiệm và ít nhất thêm 50 bài báo và chương sách và đã thực hiện không ngừng nghỉ trên các kết quả của bất kỳ một nghiên cứu. Những bài viết này xuất hiện trên các tạp chí như: Tạp chí Tâm lý học phát triển, Tạp chí Tâm lý trẻ em và tâm thần học, Tạp chí tâm lý học Mỹ, Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, Tạp chí tâm thần học hành vi và các tạp chí về quan hệ gia đình, vai trò giới tính - tình dục và công tác xã hội đã khẳng định:

Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ là ít phù hợp làm cha mẹ hơn các cặp khác giới.
Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ quan điểm sự phát triển tâm lý xã hội, bản sắc giới của trẻ em bị tổn hại bởi khuynh hướng tình dục của cha mẹ."

Trong một tuyên bố năm 2006, Hiệp hội Tâm lý học Canada phát hành một báo cáo cập nhật về kết luận năm 2003 và 2005 và nói rằng: "Các CPA công nhận và đánh giá cao việc các cá nhân và tổ chức được quyền ý kiến ​​và nêu quan điểm về vấn đề này. Tuy nhiên, CPA lo ngại rằng một số người và các tổ chức là chống đối tiêu cực, đã giải thích sai lệch những phát hiện của nghiên cứu tâm lý để hỗ trợ cho địa vị - vị trí của họ, khi vị trí của họ chính xác hơn là dựa trên hệ thống khác của niềm tin - tín ngưỡng và các giá trị[24]." Các tổ chức khoa học chuyên nghiệp đã lưu ý rằng những nghiên cứu mà các tổ chức chống đối đã sử dụng như bằng chứng rằng các cặp vợ chồng đồng tính làm cha mẹ không thích hợp đã không tiếp cận chính xác vào các cặp cha mẹ đồng tính, và do đó không cho phép bất kỳ kết luận nào được rút ra về những ảnh hưởng của giới tính hoặc khuynh hướng tình dục của cha mẹ lên con cái. Thay vào đó, những nghiên cứu này chỉ lấy mẫu cha mẹ khác giới, thấy rằng nó là tốt hơn cho trẻ em được nuôi dưỡng bởi hai cha mẹ thay vì một, và/hoặc ảnh hưởng của ly hôn hoặc cái chết của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em.[24][149]

Các nước công nhận

Sau cuộc trưng cầu dân ý ở Ireland 2015, hiện có 20 quốc gia đồng ý hôn nhân đồng giới.[150]
Liệt kê dưới đây theo thứ tự thời gian.

Hà Lan

Hà Lan là nước đầu tiên mở rộng luật hôn nhân cho các cặp đồng tính, theo sự đề nghị của một ủy ban đặc biệt được Quốc hội chỉ định để xem xét vấn đề này từ năm 1995. Dự luật Hôn nhân đồng giới năm 2010 trình qua Quốc hội Hà Lan thảo luận, đã được Hạ viện thông qua với 103 phiếu thuận/33 phiếu chống.[151][152][153]. Sau đó Dự luật được Thượng viện phê chuẩn với 49 phiếu thuận/26 phiếu chống. Toàn bộ 26 phiếu chống lại dự luật ở thượng viện là của các nghị sĩ Kito giáo, chiếm 26/75 chỗ ngồi tại thời điểm đó.[154][155]

Luật hôn nhân đồng giới tại Hà Lan chính thức có hiệu lực từ ngày 04 tháng 01 năm 2001.[156][157]

Bỉ

Thị trưởng thành phố Liège, Willy Demeyer, cử hành lễ hôn nhân của một cặp đồng tính.

Bỉ là nước thứ 2 trên thế giới chính thức công nhận hôn nhân đồng giới, có hiệu lực từ 1 tháng 6 2003. Ban đầu, Bỉ chỉ cho phép đám cưới của các cặp đồng tính ngoại quốc, nếu quốc gia họ cũng chấp nhận hôn thú này. Tuy nhiên luật pháp có hiệu lực vào tháng 10 năm 2004, cho phép bất cứ cặp nào làm đám cưới, nếu một trong 2 người đã sống ở đó ít nhất 3 tháng. Năm 2006, các cặp vợ chồng đồng giới được phép nhận con nuôi.[158][159]

Tây Ban Nha

Tây Ban Nha là nước thứ 3 trên thế giới đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, luật có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 7 năm 2005, được ủng hộ bởi đa số người dân.[160][161]. Vào năm 2004, khi chính quyền của Đảng công nhân Xã hội chủ nghĩa mới được bầu, đã bắt đầu chiến dịch hợp pháp hóa hôn nhân cùng với quyền được nhận con nuôi của các cặp đồng tính.[162] Sau nhiều cuộc tranh luận, luật cho phép hôn nhân đồng tính đã được quốc hội Tây Ban Nha thông qua ngày 30 tháng 6 năm 2005. Nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos, mặc dù có 30 ngày để quyết định sự chấp thuận của hoàng gia, đã gián tiếp cho thấy sự tán thành bằng cách ký tên vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Luật đã được công bố một ngày sau đó.[163]

Canada

Ngày 20 tháng 7 năm 2005, Canada trở thành nước thứ 4 trên thế giới, và là nước đầu tiên ngoài Âu Châu, hợp thức hóa toàn quốc. Các quyết định của tòa án, bắt đầu từ năm 2003, đã hợp thức hóa Hôn nhân đồng giới trong 8 của 10 vùng, mà số dân tổng cộng là 90% dân số Canada. Trước khi đạo luật được ra đời, đã có hơn 3.000 cặp đồng tính đã làm hôn thú trong những khu vực này.[164] Những quyền lợi về pháp lý mà có liên quan tới hôn nhân đã được mở rộng ra cho những cặp đồng tính sống chung với nhau từ năm 1999.

Nam Phi

Cônng nhận chính thức Hôn nhân đồng giới ở Nam Phi là do kết quả của quyết định tòa án hiến pháp vào ngày 1 tháng 12 năm 2005, theo đó luật hôn nhân hiện tại đã vi phạm chương 9 về quyền bình đẳng trong hiến pháp, bởi vì nó phân biệt căn bản về định hướng tình dục. Tòa án đã cho quốc hội một năm để chỉnh sửa sự bất công.[165][166] Luật mới đã được quốc hội thông qua vào ngày 14 tháng 12 2006, với số phiếu thuận là 230 so với 41. Nó bắt đầu có hiệu luật vào ngày 30 tháng 11 2006.[167] Nam Phi là nước thứ 5, cũng là nước đầu tiên ở Phi Châu, hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới.

Na Uy

Na Uy trở thành quốc gia thứ 6 công nhận hôn nhân đồng giới. Luật hôn nhân đồng giới hợp pháp có hiệu lực tại Na Uy kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, khi một Dự luật về "hôn nhân trung tính" được ban hành sau khi được thông qua bởi cơ quan lập pháp Na Uy vào tháng 6 năm 2008[168][169].

Luật mới về hôn nhân thay thế cho hình thức quan hệ đối tác đăng ký áp dụng cho các cặp vợ chồng đồng tính đã tồn tại từ năm 1993. Luật mới trao cho các cặp vợ chồng đồng tính có đầy đủ các quyền như người dị tính, bao gồm cả quyền tổ chức tiệc cưới tại nhà thờ, quyền nhận con nuôi và hỗ trợ mang thai. Ngoài ra, luật mới cũng sửa đổi lại định nghĩa của hôn nhân dân sự để nó mang tính "trung lập".[170][171][172] Các cặp vợ chồng trong quan hệ đối tác đăng ký có thể giữ lại tình trạng đó hoặc chuyển đổi sang hình thức hôn nhân[173].

Argentina

Ngày 15 tháng 7 2010, thượng viện Argentina đã chấp thuận dự luật mở rộng quyền hôn nhân cho các cặp đồng tính, mà được ủng hộ bởi chính quyền của nữ tổng thống Cristina Fernández de Kirchner, tuy nhiên bị chống đối bởi nhà thờ công giáo.[174] Luật mới có hiệu lực từ ngày 22.7.2010. Các cuộc trưng cầu dân ý cho thấy 70% người Argentina ủng hộ cho các cặp đồng tính cùng quyền hôn nhân như các cặp khác giới tính.[175] Argentina là nước đầu tiên ở Châu Mỹ Latin, nước thứ hai ở Châu Mỹ sau Canada, và nước thứ 10 trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới.[176],[177]

Ireland

Ireland những người đồng tính chưa chính thức được phép làm hôn nhân đồng giới.

Vào tháng 1 2015, chính phủ đã đưa một dự luật để cải tổ hiến pháp ra quốc hội để biểu quyết. Theo dự luật, câu này sẽ được thêm vào hiến pháp: " "Một cuộc hôn nhân giữa 2 người, không phân biệt giới tính, có thể được thực hiện theo quy định của luật pháp."[178] Sau khi hạ viện đã đồng ý vào ngày 11 tháng 3 2015, thượng viện cũng đã cho qua vào ngày 27 tháng 3 2015 với tỉ số 29/3.[179] Những cải tổ hiến pháp cần ngoài sự chấp thuận của quốc hội còn phải được sự đồng ý của người dân. Cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức vào ngày 22 tháng 5 2015, với 62,1% số phiếu đồng ý cho cải tổ hiến pháp.[180] Ireland trở thành nước đầu tiên chấp thuận hôn nhân đồng giới qua một cuộc trưng cầu dân ý.[181] Hồng y Pietro Parolin, bí thư nhà thờ Vatican và cũng là một người thân tín của Giáo hoàng Phanxicô, theo như đài phát thanh Vatican cho sự lựa chọn này là "một thất bại cho nhân loại"[182]. Cho tới 1993, tình dục đồng tính ở Ái Nhĩ Lan là một tội phạm.[178]

Chính phủ Ireland hiện thời đang sửa soạn một dự luật để cải tổ luật hôn nhân, có lẽ sẽ được quốc hội biểu quyết vào tháng 7 năm 2015.

Châu Âu

Châu Âu là lục địa có nhiều nước công nhận hôn nhân đồng giới sớm nhất (2001) và nhiều nhất (13 nước). Các nước công nhân hôn nhân đồng giới là các nước Tây và Bắc Âu như Hà Lan (2001), Bỉ(2003), Tây Ban Nha (2005), Na Uy (2009), Thụy Điển (2009), Bồ Đào Nha (2010), Iceland(2010), Đan Mạch (2012), Pháp (2013), Vương Quốc Anh (2014), Luxemburg (2015). 2 nước Phần Lan (công nhận 2014) và Ireland (công nhận 2015) chưa có luật chính thức.

Châu Mỹ

Hiện tại tổng cộng có 4 nước tại châu Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới (Canada (2005), Argentina (2010), Brasil (2013) và Uruguay (2013) cũng như đa số các tiểu bang tại Hoa Kỳ (36 trong số 50) và một số bang tại Mexico.

Biên niên sự kiện trên thế giới

Thời điểm các quốc gia hay các bang công nhận hôn nhân đồng giới.

2001 Hà Lan (1 Tháng 4)
2002 (không có)
2003 Bỉ (1 Tháng 6), Ontario (10 Tháng 6), British Columbia (8 Tháng 7)
2004 Quebec (19 Tháng 3), Massachusetts (17 Tháng 5), Yukon (14 Tháng 7), Manitoba (16 Tháng 9), Nova Scotia (24 Tháng 9), Saskatchewan (5 Tháng 11), Newfoundland (21 Tháng 12)
2005 New Brunswick (23 Tháng 6), Tây Ban Nha (3 Tháng 7), Canada (20 Tháng 7)
2006 Nam Phi (30 Tháng 11)
2007 (không có)
2008 California (16 Tháng 6, gián đoạn, 5 Tháng 11; reinstated 28 Tháng 6 2013), Connecticut (12 Tháng 11)
2009 Na Uy (1 Tháng 1), Iowa (27 Tháng 4), Sweden (1 Tháng 5), Coquille Indian Tribe (Oregon) (Tháng 5), Vermont (1 Tháng 9)
2010 New Hampshire (1 Tháng 1), District of Columbia (3 Tháng 3), Mexican Federal District (4 Tháng 3), Bồ Đào Nha (5 Tháng 6), Iceland (27 Tháng 6), Argentina (22 Tháng 7)
2011 New York (24 Tháng 7), Suquamish tribe (Washington) (1 Tháng 8)
2012 Alagoas (6 Tháng 1), Quintana Roo (Tháng 5), Đan Mạch (15 Tháng 6), Sergipe (15 Tháng 7), Espírito Santo (15 Tháng 8), Caribbean Netherlands (10 Tháng 10), Bahia (26 Tháng 11), Brazilian Federal District (1 Tháng 12), Washington (6 Tháng 12), Piauí (15 Tháng 12), Maine (29 Tháng 12)
2013 Maryland (1 Tháng 1), São Paulo (16 Tháng 2), Ceará & Little Traverse Bay Bands of Odawa Indians (Michigan) (15 Tháng 3), Paraná (26 Tháng 3), Mato Grosso do Sul (2 Tháng 4), Rondônia (26 Tháng 4), Santa Catarina & Paraíba (29 Tháng 4), Pokagon Band of Potawatomi Indians (Michigan) (8 Tháng 5), Brazil [national] (16 Tháng 5), Pháp (18 Tháng 5), Santa Ysabel Tribe (California) (24 Tháng 6), California (28 Tháng 6), US military bases (??), Delaware (1 Tháng 7), Minnesota & Rhode Island (1 Tháng 8), Uruguay (5 Tháng 8), New Zealand (19 Tháng 8), New Mexico (eight counties, 21 Tháng 8 – 4 Tháng 9),[183][184] Confederated Tribes of the Colville Reservation (Washington) (5 Tháng 9), New Jersey (21 Tháng 10), Australian Capital Territory [185] (8 Tháng 12)
2014 Anh và xứ Wales (giữa 2014)
Đang thảo luận Hawaii, Luxembourg
  • Những tên được tô đậm là quốc gia, những tên không được tô đậm là các tiểu bang/tỉnh của một quốc gia nào đó.

Những điều luật đầu tiên trong thời kỳ hiện đại cho phép hôn nhân đồng giới được thông qua vào thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Cho đến thời điểm cuối năm 2014, trên thế giới có các nước gồm:[186] Luxembourg,[187] Pháp, Đan Mạch,[nb 1] Hà Lan, Bỉ, Iceland, Vương Quốc Anh, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, New Zealand,[nb 2] Nam Phi, Argentina, Uruguay, Brazil, Canada, 34/50 bang ở Hoa Kỳ, nhiều bang ở Mexico đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và luật hóa các quyền của người đồng tính. Nhiều quốc gia tuy chưa cho phép kết hôn đồng tính nhưng đã thông qua luật về quyền của người đồng tính như: Đức (năm 2001), Phần Lan (năm 2002), Cộng hòa Czech (năm 2006), Thụy Sĩ (năm 2007), Colombia và Ireland (năm 2011).[186] Một điều luật đã được Vương quốc Anh thông qua, có hiệu lực ở Anh và xứ Wales, sẽ có hiệu lực vào năm 2014.[188] Luxembourg là quốc gia mới nhất công nhận hôn nhân đồng tính. Vào ngày 19/06/2014, Luxembourg đã chính thức thông qua đạo luật thừa nhận hôn nhân đồng giới và đạo luật này sẽ bắt đầu có hiệu lực vào năm 2015.[187] Ngày 26/10/2014, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố bổ sung thêm 6 bang hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính[189] và ngày 19/11/2014 thêm một bang nữa (Montana),[190] nâng tổng số bang công nhận hôn nhân đồng tính ở Hoa Kỳ lên thành 34/50 bang (bao gồm thủ đô Washinton D.C. và 33 bang khác) và số lượng dự kiến sẽ tiếp tục tăng. Thăm dò ở nhiều quốc gia khác nhau cho thấy sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở các chủng tộc, dân tộc, độ tuổi, tôn giáo, tổ chức chính trị và điều kiện kinh tế ngày càng tăng lên.[191] Tuy nhiên, nhiều nước theo đạo Hồi vẫn phản đối người đồng tính và hôn nhân đồng tính.[192][193][194] Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở những nền luật pháp khác nhau trải qua các quá trình khác nhau, một tòa án quyết định dựa trên những đảm bảo hiến pháp hoặc tổ chức bỏ phiếu trực tiếp hoặc trưng cầu dân ý.

Những vấn đề liên quan

Thăm dò ý kiến

Biểu tình chống hôn nhân đồng tính tại San Francisco năm 2008

Nhiều thăm dò và nghiên cứu được thực hiện, bao gồm những công trình được hoàn tất trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Nhiều khảo sát thực hiện ở những nước phát triển trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cho thấy việc ủng hộ hôn nhân đồng giới có xu hướng tăng ở mọi lứa tuổi, quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và tôn giáo.[195][196][197][198][199]

Thăm dò dư luận tháng 6/2013 tại 16 nước ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương cho thấy tỉ lệ ủng hộ việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng tính khá cao (73%). Cả 16 nước đều có đa phần người dân ủng hộ việc công nhận này. 72% người được hỏi nói rằng hôn nhân đồng giới không có hại gì cho xã hội, 59% ủng hộ các cặp vợ chồng đồng tính nhận con nuôi và 64% cho rằng những cặp vợ chồng đồng tính cũng có khả năng nuôi dạy con tốt như các cặp vợ chồng khác. Chỉ 14% phản đối việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng giới.[200][201]

Châu Âu

Tại Đức, thăm dò dư luận của Ifop tháng 5 năm 2013 cho thấy 74% người Đức ủng hộ các cặp đồng tính được quyền kết hôn và nhận con nuôi.[202] Tại Pháp, 3/4 người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.[49][50][51]

Thăm dò dư luận Ipsos tháng 5/2013 cho thấy 78% người Na Uy ủng hộ hôn nhân đồng tính.[203] Tại Thụy Điển, 81% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính và thêm 9% ủng hộ một hình thức công nhận các cặp đôi đồng tính khác.[203]

Thăm dò dư luận YouGov tháng 1/2013 cho thấy 79% người Đan Mạch ủng hộ hôn nhân đồng tính và 16% phản đối.[204] Thăm dò dư luận Ifop tháng 5/2013 tại Thụy Sĩ cho thấy 63% người Thụy Sĩ ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi chung của người đồng tính.[202]

Tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới tại Phần Lan tăng mạnh trong thập kỷ trước, từ 45% (2006), 54 % (2010), 57% (2013) cho đến 65% vào đầu năm nay.[205][206]

Thăm dò dư luận tháng 10/2014 tại Italia cho thấy 55% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.[207]

Thăm dò dư luận tháng 4/2013 tại Luxembourg cho thấy 83% người dân ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới. Luật thừa nhân hôn nhân giữa những người cùng giới tính cũng như quyền nhận con nuôi của họ được Quốc hội Luxembourg thông qua ngày 19/06/2014 với tỉ lệ ủng hộ áp đảo 56 phiếu thuận và 4 phiếu chống.[187][208]

76% người Tây ban Nha ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới, 18% phản đối.[209]

Thăm dò dư luận tháng 11/2013 cho thấy 61% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng tính.[210] Thăm dò dư luận tháng 5/2014, 73% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng giới.[211][212]

85% người Hà Lan ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi của người đồng tính.[202]

Thăm dò dư luận tháng 2/2015 tại Slovenia cho thấy 59% người dân ủng hộ hôn nhân đồng giới.[213]

Thăm dò dư luận tháng 2/2014, 76% người Ireland ủng hộ bình đẳng hôn nhân.[214] Tại Scotland, thăm dò dư luận năm 2010 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 61% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, 19% phản đối.[215] Trong cuộc thăm dò dư luận tháng 6/2012 của Ipsos MORI, 64% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính.[216] Thăm dò dư luận vào tháng 12/2014 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 68% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 17% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người dân ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính.[217]

Năm 2014, Thủ tướng Anh David Cameron gửi lời đến toàn thể người dân nhân sự kiện các cặp đôi đồng tính tại nước này đã có thể kết hôn như những cặp đôi dị tính khác: "Cuối tuần này đánh dấu một thời điểm quan trọng cho đất nước của chúng ta. Lần đầu tiên, các cặp đôi được phép kết hôn sẽ không chỉ bao gồm đàn ông và phụ nữ nữa mà còn là giữa cặp nam-nam và nữ-nữ với nhau. Sau tất cả các cuộc vận động, cuối cùng chúng ta cũng đã đi đến cái đích là hôn nhân bình đẳng. Nói đơn giản hơn, tại Anh, việc bạn là đồng tính hay dị tính sẽ chẳng còn là vấn đề nữa. Nhà nước công nhận mối quan hệ của bạn đều bình đẳng như nhau."[218][219] Lesley Carig, Đại sứ Anh tại Việt Nam, phát biểu tại 1 lễ cưới đồng tính được tổ chức ở Đại sứ quán Anh: "Thật tuyệt vời khi có thể chứng kiến lễ cưới đồng tính đầu tiên tại Việt Nam. Ngày hôm nay, chúng ta không chỉ ăn mừng cho cặp đôi hạnh phúc này mà còn vì sự bình đẳng cho tất cả mọi người, cho những giá trị mà nước Anh tin tưởng!".[220]

Trong khi đó, tại các quốc gia Đông Âu như Nga, Ucraina, Belarus... tỷ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lại rất cao. 74% người dân Nga cho rằng đồng tính không nên được xã hội chấp nhận[221] Tại Lithuania và Ucraina, chỉ có 28% người dân chấp nhận sự hiện diện của người đồng tính trong xã hội[222]

Châu Mỹ

Hoa Kỳ

Thăm dò ý kiến về vấn đề Hôn nhân đồng giới tại Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Cơ quan thăm dò Ngày tháng Đồng ý Chống lại
Gallup 17.03.1996[223] 27 % 68 %
Gallup 09.02.1999[223] 35 % 62%
Gallup 04.05.2004[223] 42 % 55 %
Gallup 25.08.2005[223] 37 % 59 %
Gallup 11.05.2006[223] 39 % 58 %
Gallup 13.05.2007[223] 46 % 53 %
Gallup 11.05.2008[223] 40 % 56 %
Gallup 10.05.2009[223] 40 % 57 %
Gallup 06.05.2010[223] 44 % 53 %
Gallup 08.05.2011[223] 53 % 44 %
Gallup 18.12.2011[223] 48 % 48 %
Gallup 06.05.2012[223] 50 % 48 %
Gallup 29.11.2012[223] 53 % 46 %
Washington Post/ABC 10.03.2013[224] 58 % 36 %
Gallup 07.05.2013[223] 53 % 45 %
Gallup 14.07.2013[223] 54 % 43 %

Một thăm dò gần đây ở Hoa Kỳ cho thấy có sự gia tăng trong cộng đồng người Mỹ việc ủng hộ hôn nhân đồng giới. Khi những người lớn tuổi được hỏi vào năm 2005 là họ có nghĩ "hôn nhân giữa cho người đồng tính có nên hoặc không nên được luật pháp công nhận và có quyền lợi như hôn nhân truyền thống khác", 28% đồng ý trong khi 68% không đồng ý (4% còn lại không chắc chắn). Khi được hỏi vào tháng 3, 2013, 50% ủng hộ trong khi 41% chống đối và 9% không chắc chắn.[225] Nhiều thăm dò và nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy ủng người có trình độ học vấn cao hơn có sự ủng hộ tăng, người trẻ hơn thường ủng hộ hơn người già hơn.[226][227][228][229][230]

Một cuộc biểu tình ở nhà thờ Unitarian church để ủng hộ bình đẳng hôn nhân tại bang New Jersey, Hoa Kỳ.

83% người Do Thái ở Mỹ ủng hộ hôn nhân đồng tính, tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm sắc tộc ở Mỹ.[231] Khảo sát những người theo Đạo Thiên chúa ở Mỹ của The Pew Research Centre vào năm 2014 cho thấy tỷ lệ ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính rất cao: 85% người Công giáo từ 18-29 tuổi chấp nhận người đồng tính và 75% ủng hộ hôn nhân đồng tính.[232]

Thăm dò dư luận tháng 2/2015 cho thấy tỷ lệ người Mỹ ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới cao kỷ lục là 60%, 46% người Mỹ có quen biết một cặp đồng tính đã kết hôn.[233][234] Thế hệ trẻ của Mỹ có tỷ lệ ủng hộ bình đẳng hôn nhân rất cao: Thăm dò dư luận của ABC News/Washington Post cho thấy 81% người Mỹ dưới 30 tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính.[235][236] Tuy nhiên, cũng theo thăm dò của ABC News, số người Mỹ phản đối hôn nhân đồng tính vẫn chiếm đa số với tỷ lệ là 55%, trong khi số ủng hộ là 37%.[237]

Tuy nhiên, khi phỏng vấn về tác động của hôn nhân đồng tính với xã hội (tích cực hay tiêu cực), công chúng Mỹ lại thiên về xu hướng tiêu cực:

  • Một điều tra của tờ USA Today và viện Gallup năm 2009 cho biết: 48% cho rằng hôn nhân đồng tính sẽ làm xã hội tồi tệ hơn, 38% cho rằng không ảnh hưởng, và chỉ 12% cho rằng xã hội sẽ tốt hơn. 57% số người phản đối hôn nhân đồng tính trong khi số ủng hộ là 40%[238].
  • Một điều tra của Đại học Quinnipiac trong tháng 4/2013 cho biết: 55% cử tri họ sẽ chống lại luật công nhận hôn nhân đồng tính, 38% ủng hộ, và 7% là không chắc chắn.[239]
  • Đại học Quinnipiac cũng đã hỏi liệu cử tri nghĩ rằng xã hội sẽ phải hy sinh bao nhiêu để quan tâm đến nhu cầu của người đồng tính nam và đồng tính nữ. Kết quả: 49% cho rằng quá nhiều, 21% cho rằng quá ít, và 22% không rõ[239]

Các nước khác

Thăm dò dư luận năm 2012 tại Canada cho thấy 66,4% người dân ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất ở Quebec (72%) và British Columbia (70.2%), thấp nhất ở Alberta (45.6%).[240]

Đông đảo người ủng hộ thông qua hôn nhân đồng giới ở Buenos Aires, thủ đô Argentina

Thăm dò dư luận tháng 8 năm 2012 tại Chile cho thấy 54,9% người Chile ủng hộ hôn nhân đồng tính và 40,7% không ủng hộ. Tân Tổng thống Chile Michelle Bachelet từng hứa sẽ công nhận hôn nhân đồng tính trong chiến dịch tranh cử của mình.[241]

Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2013 tại Mexico cho thấy 52% người Mexico ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, trong đó tỷ lệ ủng hộ của người theo đạo Công giáo là 52% và người không theo tôn giáo là 62%.[242]

Châu Á

Quốc gia Ủng hộ Phản đối
Trung Đông
Israel 47% 40%
Liban 18% 80%
Thổ Nhĩ Kỳ 9% 78%
Palestine 4% 93%
Ai Cập 3% 95%
Jordan 3% 97%
Tunisia 2% 94%
Đông và Nam Á
Philippines 73% 26%
Nhật bản 54% 36%
Hàn Quốc 39% 59%
Trung Quốc 21% 57%
Malaysia 9% 86%
Indonesia 3% 93%
Pakistan 2% 87%

Năm 2013, Trung tâm nghiên cứu Pew đã khảo sát một số nước tại châu Á, họ đề nghị người được phỏng vấn chọn 1 trong 2 đáp án:

  1. Đồng tính nên được xã hội chấp nhận
  2. Đồng tính không nên được chấp nhận trong xã hội.

Hầu hết các nước đều có đa số người dân chọn đáp án 2, kết quả như sau:[194]

Đa số các nước theo đạo Hồi tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính rất cao. Ở Đông Nam Á, Malaysia và Indonesia có tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lần lượt là 86% và 93%. Ở Trung Đông, đa số các nước phản đối hôn nhân đồng tính với tỉ lệ rất cao từ 78% ở Thổ Nhĩ Kỳ cho đến 97% ở Jordan.[194]

Đài Loan là nước có tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính cao nhất Châu Á với 68% người dân ủng hộ.[243][244][245][246]

59% người dân Israel ủng hộ hôn nhân đồng tính. 89% người Do Thái thế tục ủng hộ quyền bình đẳng đầy đủ của người đồng tính.[247] Tổng thống Israel Shimon Peres cũng ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính.[248][249][250]

Việt Nam

Ngày 21/11/2013, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Quốc Hội Việt Nam cần sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình để bảo đảm cho các cặp đồng tính cũng được hưởng đầy đủ tất cả các quyền như mọi cặp vợ chồng khác, trong đó có quyền kết hôn, thủ tục đăng ký và được pháp luật bảo hộ đầy đủ về tài sản và con cái. Ông Brad Adams, Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói:" Việt Nam đang tăng cường các quyền cho những cặp đồng tính, nhưng vẫn cần đạt tới bước cuối cùng để đảm bảo công bằng cho tất cả mọi người. Những điều luật có nội dung mập mờ có thể gây kỳ thị đối với những người có quan hệ đồng giới, song giới và chuyển đổi giới. Giới chức chính quyền cần có can đảm xác lập sự công bằng về hôn nhân trong luật pháp Việt Nam."[251]

Đại diện tổ chức Phụ nữ Liên Hợp Quốc, bà Shoko Ishikawa phát biểu:" Việt Nam cũng có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực chính sách và lập pháp. Các khái niệm về bình đẳng, tự do và không phân biệt đối xử được bảo đảm trong bản Hiến pháp sửa đổi... Trong quá trình xem xét sửa đổi luật hôn nhân và gia đình hiện nay, dường như việc cấm hôn nhân đồng giới sẽ được bãi bỏ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn mong muốn bộ luật này đi xa hơn nữa để bảo đảm quyền của các cặp đôi đồng giới được tương tự như các cuộc hôn nhân khác."[252]

Theo kết quả điều tra quốc gia về "Quan điểm xã hội với hôn nhân cùng giới" được Viện Xã hội học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) công bố ngày 26 tháng 03 năm 2014, khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, TP.HCM, An Giang, Sóc Trăng với sự tham gia của 5.300 người dân, có tới 90% người dân biết về đồng tính và việc sống chung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính (62%). Một tỷ lệ lớn (30%) người dân có quen ai đó là người đồng tính (họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…), 33,7% ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, số còn lại không đồng ý. Về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, số người ủng hộ là 41,2%. Hình thức sống chung cùng giới nên được hợp pháp hóa theo dạng “kết hợp dân sự” hoặc “đăng ký sống chung như vợ chồng”.[253]

Ngày 1 tháng 1 năm 2015, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000. Tuy nhiên, theo Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” có ghi "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống[254][255]

Châu Úc

Thăm dò dư luận tháng 12 năm 2012 tại New Zealand cho thấy 59% người New Zealand ủng hộ hôn nhân đồng tính.[256] Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2014 tại Australia cho thấy 72% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 21% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người Úc ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất là ở những người đã có con cái với 85% ủng hộ.Tất cả các bang đều có phần lớn người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.[257][258][259]

Nhận con nuôi

Tình hình về hợp pháp hóa việc nhận con nuôi của cặp đôi đồng giới trên thế giới.
  Cùng nhận con nuôi
  Second-parent adoption: xem giải thích trong bài.
  Cá nhân LGBT được cho phép nhận con nuôi
Quyền nhận con nuôi ở Campuchia và Phillippines chưa được xác nhận. Hai nước này có thể chỉ cho phép người nước ngoài nhận con nuôi. Trong nhiều quốc gia hoặc tiểu bang, nhiều chánh án có thể cho phép người LGBT nhận con nuôi trong từng trường hợp riêng lẻ vì ở đó nó không bị cấm như thế.

Hầu hết các quốc gia hoặc tiểu bang cho phép hôn nhân đồng giới thì cũng cho phép cặp đôi đồng giới nhận con nuôi (ngoại trừ ngoại lệ đã có từ lâu là Bồ Đào Nha[cần dẫn nguồn]). Hơn nữa, nhiều quốc gia hoặc tiểu bang không cho phép hôn nhân đồng giới nhưng lại cho phép cặp đôi đồng giới (không kết hôn) nhân con nuôi như: Vương quốc Anh, tiểu bang Tây Úc, New South Wales và Tasmania ở Úc, tiểu bang Coahuilla và Chihuahua ở Mexico, một số tiểu bang của Hoa Kỳ (Colorado, Indiana, Nevada, Oregon) và ít nhất trong một vài trường hợp ở Israel. [cần dẫn nguồn] Nhiều quốc gia hoặc tiểu bang khác cho phép second-parent: người cặp đôi (không kết hôn) với người đồng tính nhận con của người đồng tính mà mình cặp đôi làm con nuôi (xem như cha mẹ kế).

Mang thai hộ và thụ tinh trong ống nghiệm

Bài chi tiết: Hỗ trợ sinh sản

Một người đồng tính hoặc song tính nam có thể có con với một người phụ nữ, một quá trình trong đó một người phụ nữ sử dụng tinh trùng của người đồng tính nam hoặc mang thai trứng đã thụ tinh. Một người đồng tính hoặc song tính nữ có thể sinh con nhờ thụ tinh nhân tạo từ tinh trùng được hiến tặng trong ngân hàng tinh trùng.[260][261]

Người hoán tính và lưỡng tính

Theo pháp luật, giới tính có thể được xác định dựa trên một trong những đặc điểm: hệ thống xác định giới tính XY, kiểu tuyến sinh dục, kiểu cơ quan sinh dục ngoài hoặc nhận thực xã hội của đối tượng. Vấn đề xác định giới tính dựa vào tuyến sinh dục hoặc đặc điểm sinh dục nào đó thì phức tạp bởi vì có những phương pháp giải phẫu có thể làm thay đổi những đặc điểm này.

Ly dị

Bài chi tiết: Ly dị đồng giới

Bỉ, năm 2009, có 158 nam và 213 nữ đồng tính đăng ký ly dị trong khi 1133 nam và 999 nữ đồng tính đăng ký kết hôn.[262]

Đan Mạch, năm 1997, tỉ lệ ly dị ở người đăng ký cặp đôi đồng giới (17%) thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ ly dị ở cặp đôi khác giới (43%). Phần đông hôn nhân đồng giới ở Đan Mạch là cặp nam-nam và chỉ 14% trong số này ly dị so với 23% ở cặp đôi nữ-nữ. Tỉ lệ ly dị cao ở người đồng tính nữ phù hợp với dữ liệu cho thấy phụ nữ là bên chủ động ly dị trong hầu hết vụ ly dị của cặp đôi khác giới ở Đan Mạch.[263]

Hà Lan, nữ đồng tính đăng ký kết hôn nhiều hơn nam đồng tính một ít: từ 2006 tới 2011, có trung bình 690 nữ và 610 nam đồng tính đăng ký mỗi năm. Số ly dị đồng giới ở nữ cao hơn ở nam nhiều: trung bình có 100 nữ và 45 nam ly dị đồng giới mỗi năm.[264]

Na UyThụy Điển, một nghiên cứu về đăng ký cặp đôi đồng giới ngắn hạn cho thấy tỉ lệ ly dị đồng giới cao hơn ly dị khác giới là 50-167% và những cặp đôi đồng giới nữ được coi là ít bền vững, hoặc dễ thay đổi, hơn những cặp đôi đồng giới nam.[265]

Vương quốc Anh, tỉ lệ ly dị đồng giới trong 30 tháng đầu tiên của luật đăng ký cặp đôi dân sự thấp hơn 1% một ít.[266]

Hoa Kỳ, năm 2011, đối với những tiểu bang có số liệu, tỉ lệ chia tay ở cặp đôi đồng giới là bằng một nửa tỉ lệ chia tay ở cặp đôi khác giới. Tỉ lệ chia tay ở những cặp đôi đồng giới có đăng ký theo pháp luật là 1,1% trong khi 2% cặp đôi khác giới có kết hôn ly dị mỗi năm.[267]

Nghiên cứu tháng 12 năm 2014 của The Williams Institute cho thấy các cặp đồng tính kết hôn có tỷ lệ ly dị thấp hơn (1%) so với các cặp khác giới (2%).[268]

Sức khỏe

Một đám cưới đồng giới vào tháng 6 năm 2006.

Năm 2010, Trường Mailman Đại học Columbia về Sức khỏe Cộng đồng nghiên cứu về tác động của sự kỳ thị có tổ chức lên tinh thần của người đồng tính, song tính cho thấy rằng có sự tăng lên về rối loạn tâm thần bao gồm những rối loạn lo lắng tăng gấp hai lần, ở những người đồng tính, song tính sống ở những bang mà hôn nhân đồng tính bị cấm. Theo tác giả, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc loại bỏ những dạng kỳ thị có tổ chức. Sự kỳ thị có tổ chức có đặc trưng bởi điều kiện xã hội giới hạn cơ hội và sự tiếp cận tài nguyên của những nhóm bất lợi về mặt xã hội.[269][270]

Nhà hoạt động vì quyền đồng tính, Jonathan Rauch, cho rằng hôn nhân tốt cho tất cả mọi người, cho dù là đồng tính hay dị tính, bởi vì tham gia vào những vai trò xã hội của hôn nhân sẽ làm giảm sự hung hăng và lang chạ.[271][272] Nghiên cứu của Stephanie Pappas cho thấy việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng.[273] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy các cặp đôi kết hôn đồng tính có cuộc sống hạnh phúc hơn những người độc thân.[274] Số liệu của những nghiên cứu tâm lý và khoa học xã hội khác về hôn nhân đồng giới so sánh với hôn nhân khác giới cho thấy quan hệ đồng giới và khác giới không khác nhau trên những khía cạnh tâm lý cơ bản; thiên hướng tình dục của một người làm cha/mẹ không liên quan tới khả năng xây dựng một môi trường gia đình khỏe mạnh và nuôi dạy tốt; hôn nhân đem đến những lợi ích tâm lý, xã hội và sức khỏe cơ bản. Những cặp đồng giới và con của họ được hưởng lợi từ việc hợp pháp hóa gia đình của họ, sự công nhận hôn nhân mang đến nhiều lợi ích hơn kết hợp dân sự hoặc kết hợp cặp đôi.[53][275]

Năm 2009, hai nhà kinh tế học ở Đại học Emory cho rằng việc thông qua luật tiểu bang cấm hôn nhân đồng giới ở Hoa Kỳ đi đôi với việc làm tăng tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm này.[276][277] Nghiên cứu cho thấy sự liên kết giữa luật cấm hôn nhân đồng giới ở một bang và việc tăng tỉ lệ nhiễm HIV hằng năm ở bang đó thêm 4 ca trong 100.000 dân.[278]

Một nghiên cứu tại California (Mỹ) vào năm 2009 cho thấy các cặp đôi đồng tính có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn tâm thần, nghiện ma túy, nghiện rượu và lạm dụng thuốc an thần cao hơn khoảng 2-2,5 lần so với mức trung bình.[279]

Trên thế giới, năm 2014, tỷ lệ nhiễm HIV ở các cặp đồng tính được ước tính trong khoảng 2-5%. Tỷ lệ lây nhiễm HIV khi quan hệ tình dục đồng tính được ước tính là cao hơn 18 lần so với quan hệ tình dục khác giới.[280]. Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới.[281] Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc lưỡng tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.[282]

Theo báo cáo năm 2011, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm đồng tính nam ở Đồng Nai cao gấp 20 lần so với đối tượng ma túymại dâm. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục, cũng có một vài đồng tính nam nhận thức được nguy cơ bị lây nhiễm HIV cao, nhưng họ không có biện pháp bảo vệ vì sợ bị bạn tình bạo hành.[283]

Các khía cạnh kinh tế

Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người LGBT, cũng là những người đóng thuế cho chính phủ, được sử dụng những dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giới khác. Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ như quyền thừa kế và quyền thăm nuôi.[31]

Một nghiên cứu ở Australia năm 2013 cho biết các cặp đồng tính có thu nhập cao hơn 29% so với các cặp khác giới do họ có thể làm toàn thời gian mà không cần lo chăm sóc con cái.[284][285] Theo điều tra của Cục Thống Kê Australia, 59% cặp đồng tính nữ (les) và 57% đôi đồng tính nam (gay) chia sẻ những việc chung trong gia đình với nhau. Trong khi đó, chỉ 38% vợ chồng nam - nữ làm được điều này. Ngoài ra, theo một thống kê vào cuối năm 2011, hơn một nửa cặp đồng tính ở Australia có bằng cử nhân và đang làm việc với những chức vụ khá cao như quản lý hoặc chuyên gia trong một số lĩnh vực. Con số này ở những cặp đôi dị tính bình thường là 40%. Về thu nhập, khoảng 50% các cặp đồng tính ở Australia kiếm được hơn 1.000 USD trong một tuần. Thống kê này còn ghi nhận, nước này hiện có khoảng 33.700 cặp vợ chồng đồng giới và 6.300 đứa trẻ đang được nuôi dưỡng trong những gia đình ấy. Gần một nửa cặp đồng tính không theo tôn giáo nào, 18% theo đạo Công giáo, 13% theo Anh giáo và 4% là tín đồ Phật giáo.[286][287]

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tại Việt Nam, 29% các cặp đôi đồng tính sở hữu chung các tài sản có giá trị lớn như ô tô, sổ tiết kiệm, 18,4% có vốn đầu tư kinh doanh chung, 16% có nhà đất chung (chỉ đứng tên 1 trong hai người)… Việc không công nhận hôn nhân đồng giới sẽ gây ra những rắc rối khi phân chia tài sản và gây thiệt thòi về quyền thừa kế khi có một người đột ngột qua đời.[288]

Theo nhà kinh tế học Adam Stevenson từ Đại học Michigan, việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính sẽ đem lại 20-40 triệu USD tiền thuế mỗi năm cho bang.[289] Theo trang CNNMoney, trong năm đầu tiên kết hôn đồng tính được hợp pháp hóa tại New York, thành phố thu được 259 triệu USD nhờ chi phí đăng ký kết hôn và các dịch vụ cưới hỏi và 16 triệu USD tiền thuế từ các cặp kết hôn đồng tính trong một năm.[85] Báo cáo của The William Institute cho biết việc mở rộng quyền kết hôn cho các cặp đồng tính mang lại 42 triệu USD cho bang Minnesota từ dịch vụ cưới hỏi, du lịch và 3 triệu USD tiền thuế.[290] Ước tính tổng sức mua của cộng đồng LGBT ở Mỹ năm 2012 là 790 tỉ USD[291][292]

Tuy nhiên, các nhà kinh tế học khác cũng dẫn ra việc Chính phủ sẽ phải tăng chi tiêu ngân sách (trợ cấp, bảo hiểm y tế, xử ly dị...) nếu hôn nhân đồng tính được công nhận. Thống kê của hãng Prudential ở Mỹ năm 2011 với 1.000 người cho thấy người đồng tính kiếm được nhiều tiền hơn và ít nợ nần hơn so với người dị tính, nhưng một cuộc thăm dò quy mô lớn do Viện Gallup với hơn 120.000 người thực sự cho thấy rằng các cá nhân LGBT thường có thu nhập thấp và ít giáo dục so với dân số nói chung.[293] Vào ngày 17/12/2009, Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ ước tính rằng chi phí mà chính phủ Mỹ phải trả nếu công nhận bạn tình đồng tính của nhân viên liên bang có quyền lợi giống như vợ chồng khác giới (chưa tính đến chi phí bổ sung như an sinh xã hội và thuế thừa kế) sẽ là 596 triệu USD bắt buộc và 302 triệu USD chi tiêu tùy ý từ năm 2010 tới 2019[294].

Viện William, một tổ chức ở Mỹ nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân biệt đối xử và mối quan hệ, tác động của luật pháp, chính sách công tới các nhóm xã hội, trong một cuộc khảo sát vào tháng 6/2013 cho thấy có sự thấp hơn về điều kiện kinh tế giữa các cặp vợ chồng đồng tính so với dị tính nói chung và các chủng tộc khác nhau nói riêng[295]:

  • 7,6% các cặp vợ chồng đồng tính nữ, so với 5,7% của các cặp vợ chồng kết hôn khác giới, đang sống trong cảnh nghèo đói.
  • Các cặp đồng tính người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ nghèo cao hơn gấp đôi tỷ lệ của các cặp vợ chồng gốc Phi khác.
  • 1/3 các cặp vợ chồng đồng tính nữ và 20,1% các cặp nam đồng tính mà không có một bằng tốt nghiệp trung học đang sống nghèo đói, so với tỉ lệ 18,8% của các cặp vợ chồng nói chung.
  • cặp đồng giới nữ ở khu vực nông thôn đang có nhiều khả năng là người nghèo (14,1%), so với 4,5% của đồng tính nữ cùng ở các thành phố lớn. 10,2% các cặp đồng tính nam đang sống trong khu vực đô thị nhỏ là người nghèo, so với 3,3% của đàn ông đồng tính nam trong khu vực đô thị lớn.
  • Gần 1/4 trẻ em sống với một cặp đồng tính nam và 19,2% trẻ em sống chung với một nữ cặp đồng tính đang sống trong cảnh nghèo đói, so với 12,1% trẻ em của các cặp vợ chồng khác giới. Trẻ em người Mỹ gốc Phi trong các hộ gia đình đồng tính nam có tỷ lệ nghèo cao nhất (52,3%) của bất kỳ trẻ em trong bất kỳ loại hộ gia đình.
  • 14,1% các cặp đồng tính nữ và 7,7% các cặp đồng tính nam phải nhận trợ cấp thực phẩm, so với 6,5% của các cặp vợ chồng thông thường.

Ngoài ra, viện William cũng nhận xét: "Thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo là thấp hơn trong các cặp đồng tính nữ ở các tiểu bang có luật chống phân biệt đối xử. Ngược lại, tỷ lệ nghèo cao hơn ở các bang mà không có luật phân biệt đối xử đối, và khoảng cách giàu nghèo là rõ ràng đối với cặp đồng tính nữ... Chính sách công cộng có tác dụng giảm nghèo là chính sách làm giảm phân biệt đối xử trong việc làm dựa trên khuynh hướng tình dục và giới tính. Hiện nay pháp luật liên bang, cũng như các luật hầu hết các bang, không bảo vệ người LGBT từ kỳ thị việc làm. Việc thực thi pháp luật công bằng, không phân biệt có thể giúp ngăn ngừa nghèo bằng cách giảm nguy cơ thất nghiệp hoặc mất lương"[296].

Một số nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ nghèo đói đặc biệt cao ở cộng đồng người đồng tính không phải là người da trắng, già và sinh sống tại các vùng nông thôn.[297]

Ghi chú

  1. ^ Excluding the Faroe Islands and Greenland.
  2. ^ Including Ross Dependency, but excluding Tokelau, Niue and the Cook Islands.

Tham khảo

  1. ^ Pratt, Patricia (29 tháng 5 năm 2012). “Albany area real estate and the Marriage Equality Act”. Albany Examiner. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. “On ngày 24 tháng 7 năm 2011 the Marriage Equality Act became a law in New York State forever changing the state's legal view of what a married couple is.” 
  2. ^ “Vote on Illinois marriage equality bill coming in January: sponsors”. Chicago Phoenix. 13 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ “Commission endorses marriage and adoption equality”. Human Right Commission New Zealand. 3 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ Mulholland, Helene (ngày 27 tháng 9 năm 2012). “Ed Miliband calls for gay marriage equality”. The Guardian (London). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  5. ^ Ring, Trudy (ngày 20 tháng 12 năm 2012). “Newt Gingrich: Marriage Equality Inevitable, OK”. The Advocate (Los Angeles). “He [Newt Gingrich] noted to HuffPo that he not only has a lesbian half-sister, LGBT rights activist Candace Gingrich, but has gay friends who've gotten married in Iowa, where their unions are legal. Public opinion has shifted in favor of marriage equality, he said, and the Republican Party could end up on the wrong side of history if it continues to go against the tide.” 
  6. ^ Byron Babione (ngày 10 tháng 5 năm 2012). “Opposing view: You can't redefine marriage”. USA Today. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. 
  7. ^ “State lacks authority to redefine marriage, says bishop”. Catholic News Agency. CNA. Ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. 
  8. ^ Will Rabbe (ngày 18 tháng 7 năm 2013). “Redefining marriage, one dictionary at a time”. MSNBC. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. 
  9. ^ “Vote on Illinois marriage equality bill coming in January: sponsors: Chicago Phoenix”. Chicago Phoenix. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “Commission endorses marriage and adoption equality”. Human Right Commission New Zealand. No date. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  11. ^ “Ed Miliband calls for gay marriage equality”. the Guardian. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ a ă “Newt Gingrich Accepts Marriage Equality as Inevitable”. Advocate.com. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  13. ^ “Students For Liberty - Alexander McCobin: “Gay Marriage is The Civil Rights Issue of 21st Century.””. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  14. ^ “Gay Marriage - The 21st Century Revolution?”. The Huffington Post UK. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ “Gay Marriage: The 21 Century's Most Successful Pro-Family Policy”. The Atlantic. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  16. ^ “ABC on Gay Marriage: '21st Century Social Movement' Vs. Old, 'Downright Perplexed' Justices”. NewsBusters. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  17. ^ “Shep Smith: 'The President Of The United States, Now In The 21st Century'”. The Huffington Post. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  18. ^ “Same”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  19. ^ “21st Century Issues in America”. Google Books. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  20. ^ “Legalizing Same”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ American Psychological Association (2004). “Resolution on Sexual Orientation and Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  22. ^ American Sociological Association. “American Sociological Association Member Resolution on Proposed U.S. Constitutional Amendment Regarding Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  23. ^ a ă “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, the American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as amici curiae in support of plaintiff-appellees – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  24. ^ a ă â b c d “Marriage of Same-Sex Couples  – 2006 Position Statement”. Canadian Psychological Association. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ a ă â b c Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM, et al. (tháng 7 năm 2006). “The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children”. Pediatrics 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585.  available online: http://pediatrics.aappublications.org/cgi/content/full/118/1/349
  26. ^ Ten Arguments From Social Science Against Same-Sex Marriage
  27. ^ “Gay marriage should not be made legal”. 
  28. ^ “Pamela K. Taylor - OnFaith”. OnFaith. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  29. ^ “Susan K. Smith - OnFaith”. OnFaith. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  30. ^ “Decision in Perry v. Schwarzenegger”. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  31. ^ a ă Handbook of Gay, Lesbian, Bisexual, and Transgender Administration and Policy — Page 13, Wallace Swan - 2004
  32. ^ “Đám cưới đồng tính đầu tiên theo nghi thức Phật giáo”. Giác Ngộ Online. Truy cập 27 tháng 12 năm 2014. 
  33. ^ Lễ cưới đồng tính nữ theo nghi thức Phật giáo đầu tiên ở Đài Loan
  34. ^ “UNITED CHURCH OF CANADA AND HOMOSEXUALITY”. Truy cập 27 tháng 12 năm 2014. 
  35. ^ “Presbyterian Church Makes Landmark Decision On Gay Marriage”. The Huffington Post. Truy cập 27 tháng 12 năm 2014. 
  36. ^ The Registered Partnership Act
  37. ^ Sheila Rule: Rights for Gay Couples in Denmark - New York Times. đăng: ngày 2 tháng 10 năm 1989. Truy cặp: ngày 7 tháng 6 năm 2012
  38. ^ (tiếng Na Uy) Lov om endringer i ekteskapsloven, barnelova, adopsjonsloven, bioteknologiloven mv. (felles ekteskapslov for heterofile og homofile par)
  39. ^ “Liên Hiệp Quốc công nhận hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  40. ^ “United Nations recognizes gay marriages for staffers”. 7 tháng 7 năm 2014. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  41. ^ “http://www.reuters.com/article/2014/07/07/us-un-gaymarriage-idUSKBN0FC1VU20140707”. 7 tháng 7 năm 2014. Truy cập 7 tháng 7 năm 2014. 
  42. ^ a ă Tackling Discrimination on Grounds of Sexual Orientation and Gender Identity
  43. ^ [showUid=19095&cHash=975c172684 International Day Against Homophobia and Transphobia]
  44. ^ UN High Commissioner for Human Rights
  45. ^ Resolution on Marriage Equality for Same-Sex Couples
  46. ^ Position Statement on Support of Legal. Recognition of Same-Sex Civil Marriage
  47. ^ ASA Files Amicus Brief With US Supreme Court In Same-Sex Marriage Cases
  48. ^ ASA Statement Against The Proposed Constitutional Amendment Prohibiting Same-Sex Marriage
  49. ^ a ă “UBQG về phòng, chống HIV/AIDS và ma túy, mại dâm”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  50. ^ a ă “Mariage pour tous: 56% des sympathisants UMP opposés à sa suppression”. leparisien.fr. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  51. ^ a ă “68% des Français désormais favorables au mariage pour tous et 53% à l'adoption par les couples homosexuels”. Atlantico.fr. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  52. ^ “Statement on Marriage and the Family from the American Anthropological Association”. 2005. 
  53. ^ a ă â doi:10.1542/peds.2006-1279
    Hoàn thành chú thích này
  54. ^ a ă â b c d Herek GM (September năm 2006). “Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective”. The American Psychologist 61 (6): 607–21. doi:10.1037/0003-066X.61.6.607. PMID 16953748.  Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (gợi ý |date=) (trợ giúp)
  55. ^ Gay, Lesbian, Bisexual, or Transgender Parents
  56. ^ Children with Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Parents
  57. ^ Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association
  58. ^ APS
  59. ^ Constitutional Affairs Committee Inquiry into Recognition of Foreign Marriages Bill
  60. ^ [1]
  61. ^ Royal College of Psychiatrists. “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation”. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  62. ^ “Republican Party Says No to Same-Sex Marriage TIME.com”. TIME.com. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  63. ^ “Renewing American Values”. GOP. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  64. ^ “Family Research Council”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  65. ^ “The American Family Association agenda in its founder's own words”. GLAAD. 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015. 
  66. ^ “Defining the Gay Agenda”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  67. ^ http://www.nguoiduatin.vn/nuoc-phap-chia-re-vi-du-luat-hon-nhan-dong-tinh-a65410.html
  68. ^ http://yume.vn/cungvo/article/pope-keu-goi-doan-ket-chong-hon-nhan-dong-tinh-35CC7CC2.htm
  69. ^ http://motthegioi.vn/cau-vong-luc-sac/lgbt-biz/dai-loan-hang-ngan-nguoi-bieu-tinh-chong-doi-hon-nhan-dong-gioi-28285.html
  70. ^ “Rare unity: Religious leaders come out in support of Section 377”. DNA India. Ngày 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  71. ^ “India's Supreme Court turns the clock back with gay sex ban”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  72. ^ http://www.izbori.hr/2013Referendum/rezult/rezultati.html
  73. ^ Biskup Vlado Košić: Ova vlast nije uz narod! [Bishop Vlado Košić: This government is not of the people!], Slobodna Dalmacija, 8 tháng 12 năm 2013, truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013 
  74. ^ Ünnepelnek Semjénék a melegházasságról szóló horvát népszavazás után (Hungarian) 
  75. ^ “Russian 'Anti-Gay' Bill Passes With Overwhelming Majority”. RIA Novosti. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  76. ^ “Russia passes anti-gay-law”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014. 
  77. ^ “Nga xem xét luật chống người đồng tính - Thế giới - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 22 tháng 1 năm 2013. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  78. ^ “National Organization for Marriage Caught Helping Russia Pass Antigay Laws”. Advocate.com. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  79. ^ VN muốn chấp nhận hôn nhân đồng tính
  80. ^ Chính quyền ông Obama chính thức ủng hộ hôn nhân đồng tính
  81. ^ The evolution of the nation's 'first gay president'. CNN online
  82. ^ “Bà Hillary Clinton ủng hộ hôn nhân đồng tính”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  83. ^ “Bà Clinton ủng hộ hôn nhân đồng tính”. Báo Phụ Nữ Thành Phố Hồ Chí Minh. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  84. ^ “Một số quan điểm về kết hôn cùng giới tại Việt Nam hiện nay”. Truy cập 23 tháng 12 năm 2014. 
  85. ^ a ă “Gay marriage boosts NYC's economy by $259 million in first year”. CNNMoney. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  86. ^ “California cho phép hôn nhân đồng tính”. Người Lao Động. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  87. ^ “Lieutenant Governor Gavin Newsom”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  88. ^ “Lieutenant Governor Gavin Newsom”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  89. ^ a ă Future of Marriage. David Blankenhorn. Encounter Books Publishing 2009. ISBN 978-1-594032-41-7. P 178
  90. ^ a ă “Trayce Hansen, PhD”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  91. ^ Reasoning with the Unreasonable: 23 Controversial Essays on Current Tragedies of Ignoring Foundational Principals. Richard Kay. Author House, 2008. ISBN 978-1-4343-7159-1. P 201-202
  92. ^ Stanley Kurtz, "The End of Marriage in Scandinavia: The ‘conservative case’ for same-sex marriage collapses," The Weekly Standard 9, No. 20 (ngày 2 tháng 2 năm 2004): 26-33.
  93. ^ Andrew Harrer/Bloomberg. “Opinion: Gay marriage is a social experiment that will cause serious harm to children”. NJ.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015. 
  94. ^ Dana Mack, "Now What for Marriage?," www.wsj.com, Aug. 6, 2010
  95. ^ Laugesen, Wayne (17 tháng 9 năm 2012). “Sowing Dissent on Marriage”. NCRegister. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015. 
  96. ^ “Các cặp đôi đồng tính hạnh phúc hơn các cặp đôi dị tính?”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  97. ^ “The key to a happy relationship? Be gay. Or childless. Or make tea”. The Independent. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  98. ^ “Same-Sex Couples Happier Than Straight Couples: Study”. The Bilerico Project. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  99. ^ “Married Same-Sex Couples Are Happier”. LiveScience.com. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  100. ^ a ă â Comparing the Lifestyles of Homosexual Couples to Married Couples. By Timothy J. Dailey, Ph. D. Senior Fellow
  101. ^ Gunnar Andersson, "Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden". 2004.
  102. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
  103. ^ The Contribution of Steady and Casual Partnerships to the Incidence of HIV Infection among Homosexual Men in Amsterdam," AIDS 17 (2003): 1031.
  104. ^ "Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings Sondra E. Solomon". Esther D. Sex Roles, Vol. 52, Nos. 9/10, 2005. DOI: 10.1007/s11199-005-3725-7. P 569
  105. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (ngày 22 tháng 8 năm 2003): 18
  106. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34 (1997): 354
  107. ^ “AC21DOJ.org”. 
  108. ^ a ă â b c “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society” (PDF). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  109. ^ a ă â b c d Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in support of plaintiff-appellees
  110. ^ a ă How Does the Gender of Parents Matter
  111. ^ a ă â b Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 by the Canadian Psychological Association – June 2, 2005.
  112. ^ a ă Canadian Psychological Association: Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association
  113. ^ a ă â Michael Lamb, Affidavit – United States District Court for the District of Massachusetts (2009)
  114. ^ Escobar, Samantha (27 tháng 7 năm 2013). “Children of Gay Couples Impacted By Parents' Relationship But Not Sexual Orientation: Study”. Huffington Post. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  115. ^ “Gay and Lesbian Parents”. American Academy Of Pediatrics. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  116. ^ cited in Cooper & Cates, 2006, p. 36; citation available on http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf
  117. ^ Bridget Fitzgerald, "Children of lesbian and gay parents: A review of the literature," Marriage and Family Review, 1999, Volume 29, Number 1.
  118. ^ Gartrell N, Bos H (2010). “US National Longitudinal Lesbian Family Study: Psychological Adjustment of 17-Year-Old Adolescents”. Pediatrics 126 (1): 28–36. doi:10.1542/peds.2009-3153. 
  119. ^ [2]
  120. ^ [3]
  121. ^ [4]
  122. ^ [5]
  123. ^ “Hollande calls for calm as gay marriage opponents vow to fight on in France”. Euronews. Ngày 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  124. ^ a ă “Pediatricians: Gay Marriage Good for Kids' Health”. news.discovery.com. Ngày 22 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  125. ^ “Pediatricians group backs gay marriage”. lansingstateournal.com. Ngày 22 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  126. ^ Biblarz, Timothy J.; Stacey, Judith (February năm 2010). “How Does the Gender of Parents Matter?”. Journal of Marriage and Family 72 (1): 3–22. doi:10.1111/j.1741-3737.2009.00678.x.  Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (gợi ý |date=) (trợ giúp)
  127. ^ Golombok, Susan. “Children with lesbian parents: A community study”. Developmental Psychology 39 (1): 20–33. doi:10.1037/0012-1649.39.1.20.  (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  128. ^ “Children of same-sex couples happier than traditional families: study”. Mail Online. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  129. ^ “Children of same-sex couples are happier and healthier than peers, research shows”. Washington Post. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  130. ^ “Các gia đình đồng giới nuôi con khỏe mạnh hơn”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  131. ^ “Trẻ em trong các gia đình đồng tính khỏe mạnh và hạnh phúc hơn”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  132. ^ “Children of same-sex parents healthier and happier: study”. ABC News. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  133. ^ http://www.baylorisr.org/wp-content/uploads/Regnerus.pdf
  134. ^ “Family Research Council”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  135. ^ “Why Is The Author Of Disputed Gay Parenting Study Testifying On Same-Sex Marriage?”. The Huffington Post. Truy cập 23 tháng 3 năm 2015. 
  136. ^ 200 researchers respond to Regnerus paper
  137. ^ Statement from the Chair Regarding Professor
  138. ^ American Sociological Association calls out, obliterates anti-gay parenting study
  139. ^ http://www.asanet.org/documents/ASA/pdfs/12-144_307_Amicus_ (C_ Gottlieb)_ASA_Same-Sex_Marriage.pdf Amicus Brief - American Sociological Association]
  140. ^ Eminent Psychiatrist Says Homosexuality is a Disorder that Can be Cured
  141. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111
  142. ^ Love Isn’t Enough: 5 Reasons Why Same-Sex Marriage Will Harm Children. P. 3
  143. ^ Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171
  144. ^ doi:10.1007/s10508-008-9386-1
    Hoàn thành chú thích này
  145. ^ “Homosexual Behavior Largely Shaped By Genetics And Random Environmental Factors”. ScienceDaily. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  146. ^ [6]
  147. ^ Adopted by the APA Council of Representatives July 28 & 30, 2004.
  148. ^ American Academy of Child & Adolescent Psychiatry (tháng 8 năm 2013). “Children with Lesbian, Gay, Bisexual, and Transgender Parents”. Facts For Families. No. 92. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  149. ^ Case No. S147999 in the Supreme Court of the State of California, In re Marriage Cases Judicial Council Coordination Proceeding No. 4365, Application for leave to file brief amici curiae in support of the parties challenging the marriage exclusion, and brief amici curiae of the American Psychological Association, California Psychological Association, American Psychiatric Association, National Association of Social Workers, and National Association of Social Workers, California Chapter in support of the parties challenging the marriage exclusion
  150. ^ “Irland: 62,1 Prozent stimmen für die Ehe für alle”. queer.de. 23 tháng 5 2015. Truy cập 24 tháng 5 2015. 
  151. ^ “Dutch Legislators Approve Full Marriage Rights for Gays”. Nytimes.com. 13 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  152. ^ “Netherlands legalizes gay marriage”. BBC News. 12 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  153. ^ “Dutch legalise gay marriage”. BBC News. 12 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  154. ^ “Same-Sex Dutch Couples Gain Marriage and Adoption Rights”. Nytimes.com. 20 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  155. ^ “Dutch gays allowed to marry”. BBC News. 19 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  156. ^ “World's first legal gay weddings”. TVNZ. 1 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  157. ^ “Dutch gay couples exchange vows”. BBC News. 1 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  158. ^ “Belgium legalizes gay marriage”. UPI. Ngày 31 tháng 1 năm 2003. 
  159. ^ “Belgium backs gay adoption plans”. BBC News. Ngày 2 tháng 12 năm 2005. 
  160. ^ “Spain approves liberal gay marriage law”. St. Petersburg Times. Ngày 1 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007. 
  161. ^ Giles, Ciaran (ngày 21 tháng 4 năm 2005). “Spain: Gay marriage bill clears hurdle”. Planetout.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2006. 
  162. ^ “Spain's new government to legalize gay marriage”. SignonSanDiego.com. Reuters. Ngày 15 tháng 4 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  163. ^ “Disposiciones Generales” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Boletin Oficial del Estado. Ngày 2 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007. 
  164. ^ “Canada passes bill to legalize gay marriage”. The New York Times. Ngày 29 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  165. ^ “Media Summary: Minister of Home Affairs and Another v Fourie and Another, Lesbian and Gay Equality Project and Eighteen Others v Minister of Home Affairs and Others”. Constitutional Court of South Africa. Ngày 1 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011. 
  166. ^ Bản mẫu:Cite SAFLII
  167. ^ “South Africa Gay Marriage Bill Goes To President”. 365Gay. Ngày 28 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2009. 
  168. ^ [7][liên kết hỏng]
  169. ^ “New law in Norway grants gay couples marriage rights”. Usatoday.com. 17 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  170. ^ “Norway moves to legalise gay marriage · PinkNews”. Pinknews.co.uk. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  171. ^ [8][liên kết hỏng]
  172. ^ Ravndal, Dennis; Gjermund Glesnes and Øystein Eian (11 tháng 6 năm 2008). “Tårer da ekteskapsloven ble vedtatt” (bằng tiếng Na Uy). Verdens Gang. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  173. ^ “New law in Norway grants gay couples marriage rights”. Usatoday.com. 17 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  174. ^ Barrionuevo, Alexei (ngày 16 tháng 7 năm 2010). “Argentina Approves Gay Marriage, in a First for Region”. The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012. 
  175. ^ Barrionuevo, Alexei (ngày 13 tháng 7 năm 2010). “Argentina Senate to Vote on Gay Marriage”. The New York Times. 
  176. ^ Forero, Juan (ngày 15 tháng 7 năm 2010). “Argentina becomes second nation in Americas to legalize gay marriage”. seattletimes.nwsource.com. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  177. ^ Fastenberg, Dan (ngày 22 tháng 7 năm 2010). “International Gay Marriage”. Time. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2011. 
  178. ^ a ă “Passt das noch unter einen Hut?”. zeit.de. 27 tháng 5 2015. Truy cập 27 tháng 5 2015. 
  179. ^ Thirty-fourth Amendment of the Constitution (Marriage Equality) Bill 2015
  180. ^ [9]
  181. ^ “Ireland says Yes to same-sex marriage”. RTE. 23 tháng 5 năm 2015. 
  182. ^ “Vatikan nennt Homo-Ehe "Niederlage für die Menschheit"”. spiegel.de. 27 Mai 2015. Truy cập 27 Mai 2015. 
  183. ^ “NM Supreme Court hears arguments on same-sex marriage”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  184. ^ “Judge Upholds County's Gay Marriage Ruling”. The Huffington Post. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  185. ^ “Australian capital gives go-ahead to gay marriage - Telegraph”. Telegraph.co.uk. 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  186. ^ a ă “Những nước hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính”. Thanh Niên Online. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  187. ^ a ă â “Quốc gia thứ 17 thừa nhận hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  188. ^ “Same-sex marriage gets Royal Assent”. BBC News. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  189. ^ “33 bang nước Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới”. Báo Phụ Nữ Thành Phố Hồ Chí Minh. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  190. ^ “Tiểu bang thứ 34 của Hoa Kỳ chấp nhận hôn nhân đồng tính”. congly.com.vn. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  191. ^ Xem:
  192. ^ Jakim: Civil law needed to curb gay marriage
  193. ^ Janell Carroll (2015). Sexuality Now: Embracing Diversity. Publisher Cengage Learning. ISBN 1305446038. Trang 271.
  194. ^ a ă â The Global Divide on Homosexuality
  195. ^ Newport, Frank. “For First Time, Majority of Americans Favor Legal Gay Marriage”. Gallup. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  196. ^ “Public Opinion: Nationally”. australianmarriageequality.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  197. ^ “Gay Life in Estonia”. globalgayz.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  198. ^ Jowit, Juliette (ngày 12 tháng 6 năm 2012). “Gay marriage gets ministerial approval”. The Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  199. ^ “Most Irish people support gay marriage, poll says”. PinkNews.co.uk. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  200. ^ “Support for gay marriage high in developed nations: poll”. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  201. ^ “Strong International Support (73%) Among Developed Nations for Legal Recognition of Same-Sex Couples: Majorities in All 16 Countries Support Recognition Ipsos”. Ipsos. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  202. ^ a ă â Enquête sur la droitisation des opinions publiques européennes
  203. ^ a ă Same-Sex Marriage
  204. ^ YouGov / EMEA Survey Results
  205. ^ “Phần Lan chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  206. ^ “Tahdon2013-kysely: Samaa sukupuolta olevien avioliiton kannatus noussut”. Yle Uutiset. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  207. ^ Cronaca. “Nozze gay, per la prima volta oltre la metà degli italiani dice sì”. Repubblica.it. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  208. ^ “Luxemburger Wort”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  209. ^ Detailed tables.
  210. ^ http://derstandard.at/1381370702708/Mehrheit-will-Ehe-und-Adoption-fuer-Homosexuelle. “Umfrage: Mehrheit will Ehe und Adoptionsrecht für Homosexuelle”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  211. ^ Österreich, ein Hafen der Ehe
  212. ^ Einstellung zur gleichgeschlechtlichen Ehe
  213. ^ Večina podpira istospolne poroke, do posvojitev je zadržana
  214. ^ Poll finds strong support for same-sex marriage
  215. ^ “61 per cent of Scots support gay marriage”. PinkNews. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  216. ^ “Ipsos MORI”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  217. ^ “Record Support for Same-Sex Marriage in Scotland”. Equality Network. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  218. ^ “Thủ tướng David Cameron: “Hôn nhân đồng giới sẽ thúc đẩy nước Anh phát triển“”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 23 tháng 12 năm 2014. 
  219. ^ “David Cameron welcomes first gay marriages - Telegraph”. Telegraph.co.uk. 28 tháng 3 năm 2014. Truy cập 23 tháng 12 năm 2014. 
  220. ^ “Đại sứ quán Anh tại Việt Nam tổ chức lễ cưới đồng tính đầu tiên”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 23 tháng 12 năm 2014. 
  221. ^ “Russia’s anti”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  222. ^ “Eastern and Western Europe divided over gay marriage, homosexuality”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  223. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “Marriage”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  224. ^ “Gay marriage support hits new high in Post-ABC poll”. Washington Post. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  225. ^ “Law and Civil Rights”. PollingReport.com. POLLING REPORT, INC. 2013. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  226. ^ “Survey – Generations at Odds: The Millennial Generation and the Future of Gay and Lesbian Rights”. Public Religion Research Institute. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  227. ^ “Pew Forum: Part 2: Gay Marriage”. Pew Research Center. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  228. ^ Poirier, Justine. “Same-Sex Marriage: Let's Make a Change”. Montréalités Justice. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  229. ^ “Chart: Support for Legal Same”. Truy cập 25.  Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày truy cập=|accessdate= (trợ giúp)
  230. ^ “Support for Same‐Sex Marriage in Latin America”. Vanderbilt University. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  231. ^ “83% of American Jews Support 'Gay Marriage'”. Arutz Sheva. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  232. ^ “Young U.S. Catholics overwhelmingly accepting of homosexuality”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  233. ^ New Poll Shows Record Support for Marriage Equality
  234. ^ US: Support for same-sex marriage hits record high
  235. ^ Poll shows growing support for gay marriage.
  236. ^ Poll Tracks Dramatic Rise In Support for Gay Marriage
  237. ^ analysisby dalia sussman. “Poll: Most Oppose Same-Sex Marriage”. ABC News. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  238. ^ “Majority of Americans Continue to Oppose Gay Marriage”. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  239. ^ a ă “Civil Rights”. 
  240. ^ “One twentieth of Canadians claim to be LGBT”. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  241. ^ “Chile expected to legalize gay marriage”. Gay Star News. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  242. ^ “Matrimonio gay a debate: 52% de los mexicanos apoya legalización”. Terra. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  243. ^ “Đài Loan: 68% người dân ủng hộ hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  244. ^ “Taiwan: Survey reveals 68% support same-sex marriage”. PinkNews.co.uk. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  245. ^ “68% of Taiwan backs gay marriage”. Gay Star News. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  246. ^ “Taiwan Poll: 68% Back Marriage Equality - Marriage Equality Watch”. Marriage Equality Watch. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  247. ^ “Haaretz poll finds 70% of Israelis support equality for gay community - National”. Haaretz.com. 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  248. ^ “Israeli president backs same-sex marriage”. Washington Blade: Gay News, Politics, LGBT Rights. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  249. ^ “Israeli President Backs Gay Marriage”. The Huffington Post. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  250. ^ “Tổng thống Israel công khai ủng hộ hôn nhân đồng giới”. Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  251. ^ “Việt Nam: Hãy trao quyền kết hôn cho các cặp đồng tính”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  252. ^ “Phát biểu của Đại diện tổ chức Phụ nữ Liên hợp quốc, bà Shoko Ishikawa tại buổi đối thoại nhân Ngày Quốc tế Chống kỳ thị người Đồng tính, Song tính và Chuyển giới (IDAHOT)”. The United Nations in Viet Nam. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  253. ^ “Gần 50% người được hỏi ủng hộ quyền chung sống của người đồng tính”. Thanh Niên Online. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  254. ^ “Người đồng giới được tổ chức đám cưới và chung sống - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 3 tháng 1 năm 2015. 
  255. ^ “Từ 1-1-2015: Không xử phạt kết hôn đồng giới - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 27 tháng 12 năm 2014. Truy cập 3 tháng 1 năm 2015. 
  256. ^ “Generations divided over gay marriage”. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  257. ^ “Poll shows growing support for same-sex marriage”. The Sydney Morning Herald. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  258. ^ “Record support for same”. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  259. ^ “Poll shows growing support for same-sex marriage”. The Age. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  260. ^ The Fertility Sourcebook, Third Edition – Page 245, M. Sara Rosenthal – 2002
  261. ^ An Introduction to Family Social Work – Page 348, Donald Collins, Catheleen Jordan, Heather Coleman – 2009
  262. ^ “Homohuwelijken in dalende lijn en steeds meer scheidingen”. Gazet van Antwerpen (bằng tiếng Hà Lan). Ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  263. ^ Marian Jones (ngày 1 tháng 5 năm 1997). “Lessons from a Gay Marriage: Despite stereotypes of gay relationships as short-lived, gay unions highlight the keys to success”. Psychology Today. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  264. ^ “Lesbiennes scheiden veel meer dan homo's (Lesbians divorce much more than gays)”. Nu.nl]] (bằng tiếng Hà Lan). Ngày 24 tháng 1 năm 2012). 
  265. ^ Andersson, Gunnar (February năm 2006). The Demographics of Same-Sex "Marriages" in Norway and Sweden (PDF) 43 (1). Demography. tr. 79–98.  Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (gợi ý |date=) (trợ giúp) Text version.
  266. ^ Tony Grew (ngày 7 tháng 8 năm 2008). “Less than 1% of civil partnerships end in ‘divorce’”. Pink News. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  267. ^ Badgett, M.V. Lee; Herman, Jody L. (November năm 2011). Patterns of Relationship Recognition by Same-Sex Couples in the United States (PDF). The Williams Institute, UCLA School of Law.  Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (gợi ý |date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (trợ giúp)
  268. ^ “New Data from Marriage Licenses for Same-Sex Couples”. Williams Institute. Truy cập 16 tháng 12 năm 2014. 
  269. ^ Hasin, Deborah. “Lesbian, gay, bisexual individuals risk psychiatric disorders from discriminatory policies”. Columbia University Mailman School of Public Health. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  270. ^ Dr. Brian Mustanski (ngày 22 tháng 3 năm 2010). “New study suggests bans on gay marriage hurt mental health of LGB people”. Psychology Today. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. 
  271. ^ Rauch, Jonathan. “For Better or Worse? The Case for Gay (and Straight) Marriage”. The New Republic via jonathanrauch.com. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  272. ^ Rauch, Jonathan (2004). Gay Marriage: Why It Is Good for Gays, Good for Straights, and Good for America. New York, NY: Henry Holt and Company, LLC.
  273. ^ “Legalizing Same-Sex Marriage May Improve Public Health”. LiveScience.com. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  274. ^ “Married Same-Sex Couples Are Happier”. LiveScience.com. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  275. ^ Herek, Gregory M. "Legal recognition of same-sex relationships in the United States: A social science perspective." American Psychologist, Vol 61(6), September 2006, 607–621.
  276. ^ Contact: Elaine Justice: 404.727.0643. “Study Links Gay Marriage Bans to Rise in HIV infections”. Emory University. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  277. ^ Peng, Handie. “The Effect of Same-Sex Marriage Laws on Public Health and Welfare”. academia.edu. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  278. ^ Francis, AM; Mialon, HM (tháng 3 năm 2010). “Tolerance and HIV”. Journal of Health Economics 29 (2): 250–267. doi:10.1016/j.jhealeco.2009.11.016. PMID 20036431. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  279. ^ “BMC Psychiatry”. Truy cập 4 tháng 12 năm 2014. 
  280. ^ “Why Are Gay Men More Likely to Get HIV?”. About.com Health. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  281. ^ NATIONAL HIV/AIDS STRATEGY FOR THE UNITED STATES. P 14
  282. ^ Prejean J, Song R, Hernandez A, Ziebell R, Green T, et al. (2011) Estimated HIV Incidence in the United States, 2006-2009. PLoS ONE 6(8): e17502. doi:10.1371/journal.pone.0017502
  283. ^ “Nguy cơ nhiễm HIV cao từ quan hệ đồng tính nam”. Báo Đồng Nai. Truy cập 20 tháng 3 năm 2015. 
  284. ^ “Christian party claims heterosexual Australians oppressed because gays earn more”. Gay Star News. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  285. ^ “FactCheck: do same-sex couples earn 29% more?”. The Conversation. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  286. ^ “Ưu điểm của gia đình cặp đôi đồng tính - VnExpress Đời sống”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  287. ^ Same-Sex Couples
  288. ^ 94,7% người đồng tính mong muốn được kết hôn hợp pháp
  289. ^ THE LABOR SUPPLY AND TAX REVENUE CONSEQUENCES OF FEDERAL SAME-SEX MARRIAGE LEGALIZATION
  290. ^ “Estimating the Economic Boost of Marriage Equality in Minnesota”. Williams Institute. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  291. ^ “America’s LGBT 2012 Buying Power Projected at $790 Billion”. Witeck Communications. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  292. ^ “LGBT Marketing and Advertising”. Human Rights Campaign. Truy cập 24 tháng 12 năm 2014. 
  293. ^ “Gay people earn more, owe less”. CNNMoney. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  294. ^ http://gaymarriage.procon.org/sourcefiles/cbo-same-sex-benefits.pdf
  295. ^ “New Patterns of Poverty in the Lesbian, Gay, and Bisexual Community”. Williams Institute. Truy cập 22 tháng 3 năm 2015. 
  296. ^ New Patterns of Poverty in the Lesbian, Gay, and Bisexual Community
  297. ^ Peter Drucker. Warped: Gay Normality and Queer Anti-Capitalism Historical Materialism Book Series. BRILL, 2015. ISBN 9004288112. Trang 259.

Liên kết ngoài