Mang thai hộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tình trạng hợp pháp của việc mang thai hộ:
  Mang thai hộ vì thương mại và nhân đạo đều hợp pháp
  Chưa có luật
  Chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
  Cho phép nhưng chỉ trong phạm vi họ hàng cách tối đa hai thế hệ
  Bị cấm
  Chưa có luật, chưa có thông tin

Mang thai hộ (tiếng Anh: surrogacy) là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con thay cho người khác. Người nhận con là cha mẹ của đứa trẻ, chứ không phải người mang thai hộ. Cha mẹ có thể vì nhiều lý do, như điều kiện sức khỏe không cho phép, mà phải thuê người khác để sinh con hộ mình. Nhiều ca mang thai hộ thực hiện bằng cách cấy trứng đã thụ tinh của cặp cha mẹ vào tử cung của người mang thai hộ. Thông thường việc này cần phải có sự dàn xếp và thỏa thuận giữa người thuê và người được thuê.[1][2]

Trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Việc mang thai hộ có thể dẫn tới những tranh chấp phức tạp về quyền nuôi con, cũng như gây ra nhiều vấn đề về đạo đức. Đặc biệt, nếu thủ tục và điều kiện mang thai hộ không chặt chẽ, việc này có thể bị lợi dụng để kiếm lợi nhuận, biến phụ nữ và trẻ em thành món hàng để mua bán, thiên chức làm mẹ và giá trị về tình mẫu tử của con người sẽ bị chà đạp.

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, Thái Lan cho phép mang thai hộ, nhưng các nhà làm luật Thái Lan lại không lường trước mặt trái của vấn đề, họ không đề ra các quy định chặt chẽ về điều kiện mang thai hộ. Do vậy, trong nhiều năm, Thái Lan này đã trở thành điểm đến của những đường dây mang thai hộ để kiếm lợi nhuận.

Tuy nhiên, năm 2014, nhiều vụ việc phụ nữ bị buôn bán để mang thai hộ hoặc những trường hợp từ chối nhận con bị phát hiện, gây phẫn nộ dư luận Thái Lan. Trong đó, có vụ việc 1 người đàn ông Nhật đã thuê một đường dây bố trí hàng chục phụ nữ Thái Lan mang thai hộ, kết quả là ông ta đã có tới 13 đứa con chỉ trong 1 thời gian ngắn[3]. Một vụ việc khác là 1 cặp vợ chồng Úc đã thuê 1 phụ nữ Thái Lan để mang thai hộ cho họ, nhưng khi đứa trẻ sinh ra bị dị tật thì họ đã bỏ đi, khiến người phụ nữ Thái Lan phải tự nuôi đứa trẻ. Dư luận Thái Lan rất phẫn nộ khi phụ nữ Thái Lan đã bị đem ra để mua bán, bị coi như một chiếc "máy đẻ", trong khi đất nước bị coi là một "nông trại thu hoạch trẻ em".

Do đó, từ đầu năm 2015, Thái Lan đã ra luật cấm việc mang thai hộ vì thương mại. Theo đó, việc mang thai hộ chỉ được phép thực hiện với họ hàng trong phạm vi 3 đời (để tránh việc dùng tiền thuê phụ nữ mang thai hộ), và không được phép thực hiện cho người nước ngoài. Chỉ có các cặp vợ chồng có ít nhất 1 người là công dân Thái Lan, có xác nhận về tình trạng vô sinh không thể chữa được thì mới được sử dụng biện pháp này. Nếu không có giấy đăng ký kết hôn, không bị vô sinh không thể chữa được, hoặc không có ai là công dân Thái Lan thì không được thực hiện. Các cặp đồng tính, chuyển giới cũng bị cấm thực hiện mang thai hộ để tránh việc mua bán trứng, tinh trùng.

Việc mang thai hộ vì thương mại hiện nay ở Thái Lan là bất hợp pháp, sẽ bị truy tố theo bộ luật hình sự, với mức án có thể lên tới 10 năm tù.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19/6/2014, Quốc hội Việt Nam chính thức cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo. Luật quy định việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên sự tự nguyện của các bên, có văn bản công chứng và tuân theo các quy định trong pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.[4]

Tại Việt Nam, người mang thai hộ và nhờ mang thai hộ phải là người thân thích trong phạm vi 3 đời (nhằm tránh việc lợi dụng mang thai hộ vì lợi nhuận) và phải là người thân cùng thế hệ (để tránh những việc trái đạo đức như mẹ mang thai hộ cho con, bà mang thai hộ cho cháu)

Việc mang thai hộ vì mục đích thương mại bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm. Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ bị truy tố theo bộ luật hình sự.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Using a Surrogate Mother: What You Need to Know”. WebMD. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014. 
  2. ^ Imrie, Susan; Jadva, Vasanti (4 tháng 7 năm 2014). “The long-term experiences of surrogates: relationships and contact with surrogacy families in genetic and gestational surrogacy arrangements”. Reproductive BioMedicine Online 29 (4): 424–435. doi:10.1016/j.rbmo.2014.06.004. 
  3. ^ https://www.bbc.com/news/world-asia-43169974
  4. ^ “Được phép mang thai hộ từ 2015”. vnexpress.net. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]