Andorra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thân vương quốc Andorra
Principat d'Andorra
Flag of Andorra.svg Coat of arms of Andorra.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Andorra
Tiêu ngữ
Virtus Unita Fortior
(tiếng Latinh: "Đức hạnh là mạnh hơn)
Quốc ca
El Gran Carlemany, Mon Pare
Hành chính
Chính phủ Quân chủ nghị viện
Đồng thân vương Joan Enric Vives Sicília
Emmanuel Macron
Đại diện Josep Maria Mauri
Patrick Strzoda
Thủ tướng Antoni Martí
Ngôn ngữ chính thức tiếng Catalunya
Thủ đô Andorra la Vella
Thành phố lớn nhất Andorra la Vella
Địa lý
Diện tích 467,63 km² (hạng 179)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ CET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập
1278 Từ Aragón
1814 Từ Đế quốc Pháp
1993 Hiến pháp
Dân cư
Dân số ước lượng (2014) 85.470 người (hạng 194)
Mật độ 179,8 người/km² (hạng 71)
GDP (danh nghĩa) (2014) Tổng số: 3,3 tỷ USD
Bình quân đầu người: 45.000 USD
Đơn vị tiền tệ Euro (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ad

Andorra (phiên âm tiếng Việt: An-đô-ra; Catalunya: [ənˈdorə], địa phương: [anˈdɔra]), gọi chính thức là Thân vương quốc Andorra (tiếng Catalunya: Principat d'Andorra), cũng dịch thành Công quốc Andorra, là một quốc gia nội lục có diện tích nhỏ tại Tây Nam Âu. Andorra nằm tại phần phía đông của dãy núi Pyrénées, có biên giới với Tây Ban NhaPháp. Quốc gia này được thành lập theo một hiến chương vào năm 988, chính thể thân vương quốc hiện nay được thành lập vào năm 1278. Quốc gia này do hai đồng thân vương cùng cai trị: Giám mục của giáo xứ Urgell tại Tây Ban Nha và Tổng thống Pháp.

Andorra là quốc gia nhỏ thứ sáu tại châu Âu, diện tích 468 km2 và dân số khoảng 85.000. Andorra là quốc gia nhỏ thứ 16 trên thế giới về diện tích đất và nhỏ thứ 11 thế giới về dân số.[1] Thủ đô Andorra la Vella là thủ đô cao nhất tại châu Âu, với cao độ 1.023 m trên mực nước biển.[2] Ngôn ngữ chính thức là tiếng Catalunya, song tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Pháp cũng được nói phổ biến.[3]

Ngành dịch vụ du lịch của Andorra ước tính tiếp đón 10,2 triệu du khách mỗi năm.[4] Andorra không phải là một thành viên của Liên minh châu Âu, song euro là tiền tệ chính thức. Andorra trở thành một thành viên Liên Hiệp Quốc vào năm 1993.[5] Năm 2013, nhân dân Andorra có tuổi thọ dự tính cao nhất thế giới với 81 năm, theo The Lancet.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Andorra

Theo truyền thuyết thì Charles Đại đế (Charlemagne) công nhận một đặc quyền cho người Andorra đền đáp việc họ chiến đấu chống người Maroc. Chúa tể của vùng Urgell trở thành người đứng đầu Andorra và sau đó vùng đất lại được dâng cho Giám mục của Urgell. Vào thế kỷ 11, một cuộc tranh chấp nảy sinh giữa Giám mục và vùng đất phía bắc Andorra.

Cuộc tranh chấp được giải quyết năm 1278 bằng một paréage, chia sẻ quyền cai trị Andorra giữa bá tước Foix (sau đó chuyển thành người đứng đầu nước Pháp) và Giám mục của La Seu d'Urgell, ở Catalonia, Tây Ban Nha.

Andorra được xác nhập vào Aragon hai lần, vào 1396 và 1512.

Sau khi Henry xứ Navarre trở thành vua Henry IV của Pháp, ông ta ban hành một sắc lệnh (1607) theo đó người đứng đầu nhà nước Pháp và Giám mục xứ Urgell là đồng vương Andorra.

Ngày nay các Tổng thống dân cử của Pháp vẫn nhận danh vị là Đồng vương Andorra.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị Andorra

Mới đây, hệ thống chính trị của Andorra còn chưa có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các cơ quan hành pháp, lập pháptư pháp. Bản Hiến pháp được công nhận và chấp thuận vào năm 1993 đã lập nên một nhà nước Andorra dân chủ đại nghị có chủ quyền, tuy vẫn chịu sự cai quản của hai đồng quốc vương, nhưng người đứng đầu Chính phủ có quyền hành pháp. Các đồng quốc vương được trao một số quyền nhất định nhưng không có quyền phủ quyết các hoạt động của Chính phủ. Họ cử đại diện thường trực tại Andorra, chủ yếu mang tính chất lễ tân. Hội đồng toàn dân gồm 28 thành viên, được bầu thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm. Từ năm 1981, Hội đồng toàn dân bầu ra Hội đồng hành pháp, tức là Chính phủ. Hai đồng quốc vương hiện nay của Andorra là Tổng thống PhápTổng Giám mục xứ Catalan Tây Ban Nha. Thủ tướng Chính phủ hiện nay là ông Antoni Martí (thuộc đảng Dân chủ). Đảng Xã hội Dân chủ là đảng đối lập.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Andorra được chia thành 7 giáo xứ là:

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhân khẩu Andorra

Dân số của Andorra được ước tính là 85.082 người (tháng 7 năm 2011).[7] Dân số đã tăng từ 5.000 người trong năm 1900. Andorra là một nước đa sắc tộc gồm 31.363 người Andorra bản xứ chiếm 33% dân số, 27.300 người Tây Ban Nha chiếm 23% dân số, người Bồ Đào Nha 13,794 (21%), người Pháp 5213 (17%), 1085 người Anhngười Ý.[8] Người thuộc các sắc tộc khác không có quyền biểu quyết (bỏ phiếu) trong cuộc bầu cử xã. Hơn nữa, họ không được phép để được bầu làm thủ tướng hay sở hữu hơn 33% vốn cổ phần của một công ty tư nhân.[9]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cảnh dãy núi Andorran
Bài chi tiết: Địa lý Andorra

Andorra là thân vương quốc nhỏ ở Tây Âu, nằm ở phía sườn Nam của dãy Pyrénées, giữa biên giới nước PhápTây Ban Nha. Andorra là xứ sở tuyệt đẹp nhờ các hẻm núi và các thung lũng có sông Valira chảy qua và được bao bọc bởi các đỉnh núi cao.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Andorra

Du lịch là ngành kinh tế chủ yếu của Andorra, đóng góp tới 80% GDP của đất nước. Andorra lôi cuốn khách du lịch nhờ môn trượt tuyết và hàng hóa miễn thuế. Hàng năm có khoảng 9 triệu khách du lịch đến Andorra.

Dịch vụ ngân hàng cũng đóng góp nhiều cho nền kinh tế. Nông nghiệp kém phát triển, chỉ có khoảng 2% diện tích là đất trồng trọt. Thực phẩm chủ yếu là nhập khẩu.

Bản đồ địa hình Andorra.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số của Andorra là chủ yếu là Công giáo Rôma (90%). Vị thánh bảo trợ của đất nước là Đức Mẹ Meritxell. Mặc dù nó không phải là một tôn giáo chính thức của quốc gia, nhưng hiến pháp thừa nhận một mối quan hệ đặc biệt với Giáo hội Công giáo, cung cấp một số ưu đãi đặc biệt cho Giáo hội. Cộng đồng Hồi giáo chủ yếu được tạo thành từ những người nhập cư Bắc Phi. Giáo phái Kitô giáo khác bao gồm Anh giáo, Giáo hội Thống Nhất, Nhà thờ Tông đồ mới, Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, và Nhân chứng Giê-hô-va. Có một cộng đồng nhỏ của người HinduBahá'ís.[10] Khoảng 100 người Do Thái giáo sống ở Andorra.[11]

Bản đồ 7 giáo xứ của Andorra

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức và được sử dụng trong lịch sử là Catalan, thuộc Nhóm ngôn ngữ Rôman. Chính phủ Andorran khuyến khích việc sử dụng tiếng Catalan.

Do sự nhập cư, các liên kết lịch sử, và khoảng cách địa lý gần, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào NhaPháp cũng được sử dụng phổ biến. Hầu hết dân cư Andorra có thể nó một hoặc nhiều hơn trong các thứ tiếng này, ngoài Catalan. Tiếng Anh ít phổ biến hơn, tuy nhiên nó cũng được sử dụng ở những khu nghỉ dưỡng. Andorra là một trong 4 nước châu Âu (cùng với Pháp, Monaco, và Thổ Nhĩ Kỳ)[12] that have never signed the Hiệp ước của Hội đồng châu Âu về dân tộc thiểu số.[13]

Theo Observatori Social d'Andorra, các ngôn ngữ được sử dụng ở Andorra gồm:[14]

Tiếng mẹ đẻ  %
Tiếng Catalan 38,8%
Tiếng Tây Ban Nha 35,4%
Tiếng Bồ Đào Nha 15%
Tiếng Pháp 5,4%
Khác 5,5%
2005 3 PoliticaLinguistica.pdf

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Malankar, Nikhil (18 tháng 4 năm 2017). “Andorra: 10 Unusual Facts About The Tiny European Principality”. Tell Me Nothing. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ “Maps, Weather, and Airports for Andorra la Vella, Andorra”. Fallingrain.com. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ “Background Note: Andorra”. State.gov. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ “HOTELERIA I TURISME”. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2015. [liên kết hỏng]
  5. ^ “United Nations Member States”. Un.org. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ GBD 2013 Mortality and Causes of Death, Collaborators. (10 tháng 1 năm 2015). “Global, regional, and national age-sex specific all-cause and cause-specific mortality for 240 causes of death, 1990-2013: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2013.”. Lancet 385 (9963): 117–71. PMC 4340604. PMID 25530442. doi:10.1016/S0140-6736(14)61682-2. 
  7. ^ //www.cia.gov/redirects/ciaredirect.html
  8. ^ Departament d'Estadistica, 2008
  9. ^ “Andorra, sólo inmigrantes sanos”. EL PAÍS. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  10. ^ "Andorra". International > Regions > Southern Europe. The Association of Religion Data Archives. 2005. Truy cập 2009-07-04.
  11. ^ “Andorra”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  12. ^ “Framework Convention for the Protection of National Minorities (FCNM): National Minorities, ''Council of Europe'', 14 September 2010”. Coe.int. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ “Framework Convention for the Protection of National Minorities CETS No. 157”. Conventions.coe.int. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ “Observatori de l'Institut d'Estudis Andorrans” (bằng tiếng Catalan). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013.  [liên kết hỏng]