Suriname
|
Cộng hòa Suriname
|
|
|---|---|
Tên bản ngữ
| |
Tiêu ngữ: Justitia – Pietas – Fides (tiếng Latinh) Gerechtigheid – Vroomheid – Vertrouwen (tiếng Hà Lan) "Justice – Piety – Trust" | |
Lãnh thổ do Suriname kiểm soát (xanh đậm); lãnh thổ tuyên bố chủ quyền (xanh nhạt). | |
| Tổng quan | |
| Thủ đô và thành phố lớn nhất | Paramaribo 5°50′B 55°10′T / 5,833°B 55,167°T |
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Hà Lan |
| • Ngôn ngữ địa phương | |
| Ngôn ngữ khác | |
| Sắc tộc |
|
| Tôn giáo (2012)[7] |
|
| Tên dân cư | Người Suriname |
| Chính trị | |
| Chính phủ | Cộng hòa không phụ thuộc nghị viện đơn nhất[8] |
| Jennifer Geerlings-Simons | |
| Gregory Rusland | |
| Ashwin Adhin | |
| Iwan Rasoelbaks (quyền) | |
| Lập pháp | Quốc hội |
| Lịch sử | |
| Độc lập từ Hà Lan | |
| 15 tháng 12 năm 1954 | |
• Độc lập từ Vương quốc Hà Lan | 25 tháng 11 năm 1975 |
| Địa lý | |
| Diện tích | |
• Tổng cộng | 165,940[9] km2 (hạng 90) 63,251 mi2 |
• Mặt nước (%) | 1,1 |
| Dân số | |
• Ước lượng 2022 | 632.638[10][11] (hạng 170) |
• Mật độ | 3,9/km2 (hạng 231) 10,0/mi2 |
| Kinh tế | |
| GDP (PPP) | Ước lượng 2025 |
• Tổng số | |
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2025 |
• Tổng số | |
• Bình quân đầu người | |
| Đơn vị tiền tệ | Đô la Suriname (SRD) |
| Thông tin khác | |
| HDI? (2023) | cao · hạng 114 |
| Múi giờ | UTC-03:00 (Giờ Suriname) |
| Cách ghi ngày tháng | dd/mm/yyyy |
| Giao thông bên | trái |
| Mã điện thoại | +597 |
| Mã ISO 3166 | SR |
| Tên miền Internet | .sr |
Suriname, quốc hiệu là Cộng hòa Suriname (tiếng Hà Lan: Republiek Suriname) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Suriname toạ lạc giữa Guyane thuộc Pháp về phía đông và Guyana về phía tây. Biên giới phía nam chung với Brasil còn ranh giới phía bắc là bờ biển Đại Tây Dương. Biên giới cực nam với Guiana thuộc Pháp đang bị tranh chấp nằm dọc theo các sông Marowijne và Corantijn. Suriname là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất về diện tích ở Nam Mỹ. Đây là khu vực nói tiếng Hà Lan duy nhất ở Tây Bán Cầu không thuộc Vương quốc Hà Lan. Suriname cực kỳ đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Diện tích quốc gia này gần 165.000 km². Quốc gia này có một phần tư dân số sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày.[15]
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Tên nước lấy tên sông Suriname, cũng có thể là tên của một bộ lạc ven bờ biển Caribe, không rõ ý nghĩa. Suriname nguyên là nơi cư trú của Thổ dân châu Mỹ. Năm 1593, là thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1816, lại rơi vào sự thống trị của thực dân Hà Lan, gọi là "Guyana thuộc Hà Lan". Năm 1948, đổi tên là "Surina". Năm 1954, thực hiện chế độ tự trị. Ngày 25 tháng 11 năm 1975, tuyên bố độc lập, thành lập "Cộng hòa Suriname".
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Surimane được Cristoforo Colombo phát hiện năm 1499. Vùng lãnh thổ này trở thành thuộc địa của Anh từ năm 1650, được nhượng lại cho Hà Lan năm 1667 để phát triển các đồn điền mía, bị Anh xâm chiếm từ năm 1796. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ (1863) đã dẫn đến các đợt nhập cư từ Ấn Độ và Indonesia sang. Năm 1948, lãnh thổ này trở thành vùng Guyana thuộc Hà Lan, được đặt tên là Suriname. Hiến pháp năm 1954 mang lại cho vùng này quyền tự trị rộng rãi hơn. Suriname giành được độc lập năm 1975.
Cuộc đảo chính quân sự năm 1980 đưa Đại tá Desi Bouterse lên cầm quyền. Từ năm 1982, phong trào kháng chiến du kích phát triển ở miền Nam và miền Đông, buộc giới quân nhân chấp nhận tiến trình dân chủ hóa. Năm 1988, Ramsewak Shankar được bầu làm Tổng thống, trong khi Desi Bouterse vẫn cầm quyền kiểm soát quân đội. Năm 1990, giới quân nhân trở lại cầm quyền. Năm 1991, Ronald Venetiaan, ứng cử viên thuộc liên minh đối lập với quân đội đắc cử Tổng thống. Năm 1992, một hiệp định hòa bình được ký kết giữa Chính phủ và quân du kích.
Sau khi chấm dứt cuộc nội chiến, Suriname ra sức tái thiết kinh tế đất nước. Năm 1997, Jules Wijdenbosch, được sự hậu thuẫn của Bourterse, đắc cử Tổng thống. Năm 1999, một tòa án Hà Lan kết án tù vắng mặt đối với Desi Bouterse vì tội buôn lậu ma túy. Năm 2000, Ronald Venetiaan trở lại cầm quyền và ra sức tái thiết kinh tế với sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hà Lan.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Suriname nằm ở khu vực Nam Mỹ, Bắc giáp Đại Tây Dương, Nam giáp Brasil, Đông giáp lãnh thổ Guyane thuộc Pháp, Tây giáp Guyana. Phần lãnh thổ phía nam trải rộng trên vùng núi và cao nguyên Guyana, bao phủ bởi các khu rừng rậm xích đạo, thoải dần về phía bắc là vùng đồng bằng đầm lầy ven biển.
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]
Chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]

Suriname là một nước cộng hòa với hình thức chính phủ không phụ thuộc nghị viện.[8] Hiến pháp hiện hành được ban hành vào năm 1987. Quốc hội là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 51 nghị sĩ Quốc hội được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm.

Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ, do Quốc hội bầu ra theo đa số hai phần ba. Nhiệm kỳ của tổng thống là năm năm. Trong trường hợp Quốc hội không bầu được tổng thống thì Đại hội Nhân dân, gồm các nghị sĩ Quốc hội và các đại biểu khu vực, địa phương dân cử, bầu tổng thống theo đa số.

Nội các gồm 16 thành viên do tổng thống bổ nhiệm. Phó tổng thống do Quốc hội hoặc Đại hội Nhân dân bầu ra theo đa số cùng với tổng thống. Nhiệm kỳ của phó tổng thống theo nhiệm kỳ của tổng thống.
Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán được đề cử suốt đời.
Các đảng phái chính gồm có: Mặt trận mới (NF), Đảng Cải cách tiến bộ (VHP), Đảng Quốc gia Suriname (NPS), Đảng Thống nhất và đoàn kết dân tộc (KTPI), Đảng Lao động Suriname (CSPA), Đảng Dân chủ dân tộc (NDP), v.v..
Phân cấp hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]
Suriname được chia thành 10 quận:
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Nông nghiệp chủ yếu là ngành trồng trọt (lúa, mía, chuối và cam), các nguồn lợi khác thu nhập từ đánh bắt cá và khai thác gỗ. Bauxit và nhôm được sản xuất tại chỗ nhờ các công trình thủy điện và cũng là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Tình trạng tham nhũng, lạm phát và thiếu năng lực kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Tính đến năm 2016, GDP của Suriname đạt 4.137 USD, đứng thứ 157 thế giới và đứng thứ 11 khu vực Nam Mỹ.
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2022, dân số của Suriname ước tính là 624.900 người,[16] tăng từ 541.638 người vào năm 2012.[5]
Dân tộc
[sửa | sửa mã nguồn]Người gốc Á là dân tộc lớn nhất của Suriname, chiếm khoảng 43% dân số, trong đó nhóm dân tộc lớn nhất là người gốc Ấn Độ, được gọi là Hindustanis, chiếm 27,4% dân số.[1][17][18][19][20]
Ngôn ngữ
[sửa | sửa mã nguồn]Tiếng Hà Lan là ngôn ngữ chính thức của Suriname và được sử dụng trong các lĩnh vực giáo dục, hành chính, thương mại và truyền thông.[21] Hơn 60% dân số nói tiếng Hà Lan như ngôn ngữ thứ nhất[22] và khoảng 20%–30% nói tiếng Hà Lan như ngôn ngữ thứ hai. Năm 2004, Suriname trở thành một thành viên liên kết của Liên minh tiếng Hà Lan.[23]
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Theo kết quả điều tra dân số năm 2020, 52,3% dân số Suriname theo Kitô giáo; 26,7% theo Tin Lành (11,18% theo Phong trào Ngũ tuần, 11,16% theo Giáo hội Moravia, 0,7% theo thần học Calvin (bao gồm Remonstrants), 4,4% theo hệ phái Tin Lành khác), 21,6% theo Công giáo.[7] 18,8% dân số theo Ấn Độ giáo, là tôn giáo lớn thứ hai tại Suriname.[24] Suriname là nước có số lượng tín đồ Ấn Độ giáo lớn thứ ba tại Tây Bán cầu, sau Guyana và Trinidad và Tobago, hai nước đều có nhiều người gốc Ấn Độ. Hầu như tất cả tín đồ Ấn Độ giáo tại Suriname là người gốc Ấn Độ.14,3% dân số theo Hồi giáo, tỷ lệ tín đồ Hồi giáo lớn nhất tại châu Mỹ, chủ yếu là gốc Java hoặc gốc Ấn Độ.[7] 5,6% dân số theo tôn giáo dân gian, bao gồm Winti, một tôn giáo người Mỹ gốc Phi của người gốc Maroon, Kejawèn (0,8%),[7] một tín ngưỡng pha trộn của một số người gốc Java, và các tín ngưỡng dân gian bản địa. 6,2% dân số tuyên bố "không tôn giáo" và 1,9% theo "tôn giáo khác".[24]
Người Hồi giáo đầu tiên đến Suriname là những nô lệ đến từ châu Phi. Nhóm tiếp theo của người Hồi giáo đến đất nước này bao gồm người lao động giao kèo từ Nam Á và Indonesia, mà hầu hết người Hồi giáo ngày nay ở Suriname là hậu duệ.[25]
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Suriname là nơi giao hòa của nhiều dòng chảy văn hóa Phi, Mỹ - Anh Điêng, châu Á, Do Thái và Hà Lan. Tất cả phản ánh qua phong tục tập quán cũng như phong cách sống của con người vốn đa dạng nhưng cũng rất hài hòa.
Thủ đô cũng là hải cảng lớn Paramaribo nằm ngay cửa sông Suriname. Kiến trúc nổi bật gây ấn tượng với du khách về một thời thuộc địa Hà Lan, và đó cũng là lý do Paramaribo trở thành Di sản thế giới do UNESCO công nhận.
Suriname được độc lập năm 1975 khi thoát khỏi ách thống trị của người Hà Lan.
Ngôn ngữ chính thức ở Suriname là tiếng Hà Lan và tiếng Anh. Ngoài ra, còn có tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Sarnami (một tiếng địa phương của người Hindi), tiếng Java, Trung Quốc (tiếng Phổ thông, tiếng Quảng Đông và tiếng Hakka).
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b Suriname: An Asian Immigrant and the Organic Creation of the Caribbean's Most Unique Fusion Culture, Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2017, truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2017
- ^ "Censusstatistieken 2012" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek in Suriname (General Statistics Bureau of Suriname). tr. 76. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014.
- ^ "The World Factbook – Central Intelligence Agency". cia.gov. ngày 29 tháng 9 năm 2021.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênCensus - ^ a b "Census statistieken 2012". Statistics-suriname.org. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 11 2014. Truy cập 13 tháng 7 2014.
- ^ "Definitieve Resultaten (Vol I) Etniciteit". Presentatie Evaluatie Rapport CENSUS 8: 42.
- ^ a b c d e "2012 Suriname Census Definitive Results" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek – Suriname. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015.
- ^ a b "Executive Types: Graphic Illustration". ConstitutionNet (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Country Profile - Suriname".
- ^ "Suriname". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2022. (Archived 2022 edition.)
- ^ "Suriname country profile". BBC News. ngày 23 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- ^ a b c d "World Economic Outlook Database, April 2025 Edition. (Suriname)". International Monetary Fund. ngày 16 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2025.
- ^ Nations, United (ngày 13 tháng 5 năm 2025). Human Development Report 2025 (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). United Nations.
- ^ "GINI index". World Bank. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
- ^ http://hdr.undp.org/en/media/HDI_2008_EN_Tables.pdf
- ^ "UNdata | record view | Population by sex and urban/rural residence". data.un.org. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Censusstatistieken 2012" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek in Suriname (General Statistics Bureau of Suriname). tr. 76. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014.
- ^ "The World Factbook – Central Intelligence Agency". cia.gov. ngày 29 tháng 9 năm 2021.
- ^ "Census statistieken 2012". Statistics-suriname.org. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 11 2014. Truy cập 13 tháng 7 2014.
- ^ "Definitieve Resultaten (Vol I) Etniciteit". Presentatie Evaluatie Rapport CENSUS 8: 42.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tência - ^ "Het Nederlandse taalgebied" (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Taalunie. 2005. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Censusstatistieken 2012" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek in Suriname (General Statistics Bureau of Suriname). tr. 76. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014.
- ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có têngrf - ^ ^ a b c d e f g Central Intelligence Agency (2012). "Suriname". The World Factbook. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Tư liệu liên quan tới Suriname tại Wikimedia Commons
| Bài viết này là một phần của một loạt trên |
| Nam Mỹ |
|---|
| Địa lý |
| Thời kỳ tiền Colombo |
| Thời thuộc địa |
| Thế kỷ 19 |
| Thế kỷ 20 |
- Suriname
- Cộng hòa
- Quốc gia vùng Caribe
- Quốc gia Nam Mỹ
- Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc
- Quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo
- Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Hà Lan
- Cựu thuộc địa Hà Lan
- Quốc gia thành viên Cộng đồng Caribe
- Quốc gia thành viên Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ
- Quốc gia thành viên Liên minh tiếng Hà Lan
- Khởi đầu năm 1975 ở Nam Mỹ