Whitney Houston

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Whitney Houston
Whitney Houston Welcome Home Heroes 1 cropped.jpg
Houston biểu diễn trong Welcome Home Heroes with Whitney Houston vào năm 1991
Sinh Whitney Elizabeth Houston
9 tháng 8, 1963(1963-08-09)
Newark, New Jersey, Hoa Kỳ
Mất 11 tháng 2, 2012 (48 tuổi)
Beverly Hills, California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mất Sử dụng thuốc phiện/Ngộ độc sử dụng thuốc
Nơi an nghỉ Fairview Cemetery, Westfield, New Jersey, Hoa Kỳ
Công việc
  • Ca sĩ
  • Người mẫu
  • Diễn viên
  • Nhà sản xuất âm nhạc
  • Nhà sản xuất phim
  • Nhạc sĩ
  • Dẫn chương trình
Tôn giáo Baptist
Người phối ngẫu Bobby Brown (kết hôn  1992–2007) «start: (1992)–2007 (2007-end+1:)»"Hôn nhân: Bobby Brown đến Whitney Houston" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Whitney_Houston)
Con cái Bobbi Kristina Brown
Cha mẹ John Russell Houston, Jr.
Cissy Houston
Người thân Gary Garland (anh trai)
Dionne Warwick (chị họ)
Dee Dee Warwick (chị họ)
Leontyne Price (chị họ)
Damon Elliott (cháu trai)
Giải thưởng Danh sách giải thưởng và để cử
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • piano
Năm hoạt động 1977–2012
Hãng đĩa
Hợp tác với
Chữ ký Whitney's Signature.png
Website
whitneyhouston.com

Whitney Elizabeth Houston (9 tháng 8, 1963 – 11 tháng 2, 2012) là một nữ ca sĩ, diễn viên, nhà sản xuất âm nhạc, nhà sản xuất phimngười mẫu người Mỹ gốc Phi. Năm 2009, Sách kỉ lục Guiness đã ghi danh cô là "Nữ nghệ sĩ đạt nhiều giải thưởng nhất mọi thời đại".[1] Houston là một trong số các nghệ sĩ nhạc pop có doanh số bán đĩa cao nhất mọi thời đại, với khoảng 170-200 triệu bản thu âm được tiêu thụ trên toàn cầu.[2][3] Trong toàn bộ sự nghiệp, cô đã phát hành 6 album phòng thu, 1 album ngày lễ và 3 album nhạc phim, và tất cả đều được chứng nhận vàng, bạch kim, đa-bạch kim hoặc kim cương. Tiếng vang của Houston trên các bảng xếp hạng âm nhạc đại chúng, cũng như sự nổi danh của cô trên MTV, khởi đầu từ video âm nhạc của ca khúc "How Will I Know",[4] đã gây ảnh hưởng tới các nữ nghệ sĩ Người Mỹ gốc Phi theo chân sự thành công của cô.[5][6]

Houston là nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có được bảy đĩa đơn liên tiếp đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100.[7] Cô cũng là nghệ sĩ thứ hai sau Elton John và là nữ nghệ sĩ duy nhất đạt được 2 album quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 cuối năm (trước đây là "Top Pop Albums") trong ấn bản phát hành cuối năm của tạp chí Billboard.[8] Album đầu tay của cô, Whitney Houston, phát hành năm 1985 và trở thành album đầu tay bán chạy nhất mọi thời đại của một nữ nghệ sĩ.[9] Tạp chí Rolling Stone đã xếp đây là album hay nhất năm 1986, và xếp album ở vị trí 254 trong danh sách 500 album vĩ đại nhất mọi thời đại.[9] Album phòng thu thứ hai của cô, Whitney (1987), trở thành album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200.[9]

Vai diễn chạm ngõ điện ảnh của Houston là một ngôi sao trong bộ phim điện ảnh The Bodyguard (1992). Album nhạc phim cho bộ phim đã thắng Giải Grammy cho Album của năm vào năm 1994. Đĩa đơn chủ đạo từ album, "I Will Always Love You", trở thành đĩa đơn bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ trong lịch sử âm nhạc. Với album, Houston trở thành nghệ sĩ đầu tiên (hát đơn hoặc ban nhạc, nam hoặc nữ) bán ra hơn một triệu bản album trong một tuần kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu theo dõi doanh số.[9] Album cũng giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ có album đạt vị trí cao nhất trong top 10 của danh sách album bán chạy nhất mọi thời đại, ở vị trí thứ 3. Houston tiếp tục đóng vai chính trong các bộ phim kế tiếp và tham gia thực hiện phần nhạc phim cho các phim đó, trong đó có Waiting to Exhale (1995), The Preacher's Wife (1996). Nhạc phim của bộ phim The Preacher's Wife trở thành album thuộc thể loại gospel bán chạy nhất mọi thời đại.[10]

Vào ngày 11 tháng 2, 2012, Houston được phát hiện đã chết ở phòng khách của cô trong khách sạn Beverly Hilton, tại Beverly Hills, California. Báo cáo chính thức của nhân viên điều tra đã chỉ ra cô đã bị tai nạn đuối nước trong bồn tắm, với nguyên nhân là do cơn đau tim và sử dụng thuốc phiện.[11] Tin tức về cái chết của cô trùng hợp với lễ trao Giải Grammy 2012, khi cô qua đời trước buổi lễ đúng 1 ngày, đã gây chấn động truyền thông nước Mỹ cũng như trên thế giới.[12]

Mục lục

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1963 – 1984: Thơ ấu và buổi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ New Hope Baptist

Whitney Houston sinh ngày 9 tháng 8, 1963 tại một vùng lân cận có thu nhập trung bình gần Newark, New Jersey.[13] Cô là con gái của một người từng phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ, đồng thời cũng là nhà điều hành giải trí John Russell Houston, Jr. (13 tháng 9, 1920 – 2 tháng 2, 2003), và ca sĩ nhạc phúc âm Emily "Cissy" (Drinkard) Houston.[14] Anh trai của cô, Michael, là một ca sĩ, và một người anh trai khác của cô, Gary Garland, là cựu cầu thủ bóng rổ.[15][16] Cha mẹ cô đều là những người Mỹ gốc Phi, và cô cũng được cho là một người Mỹ bản xứngười có gốc Hà Lan.[17] Thông qua mối quan hệ với mẹ cô, Houston là em họ đầu tiên của hai ca sĩ Dionne WarwickDee Dee Warwick. Darlene Love là mẹ đỡ đầu của cô,[18] và người dì danh dự của cô là Aretha Franklin,[19][20] người cô từng gặp khi mẹ cô dẫn cô vào một phòng thu âm năm cô 8-9 tuổi.[21] Houston lớn lên theo tôn giáo Baptist, nhưng cũng từng được đến các nhà thờ Ngũ Tuần. Sau Vụ bạo loạn năm 1967 ở Newark, gia đình cô chuyển đến một vùng có thu nhập trung bình ở East Orange, New Jersey, năm cô lên 4 tuổi.[22]

Vào năm 11 tuổi, Houston bắt đầu biểu diễn như một người hát solo trong dàn hợp xướng phúc âm thiếu nhi tại Nhà thờ New Hope Baptist ở Newark, nơi mà cô đã học chơi piano.[23] Ca khúc đầu tiên cô biểu diễn solo ở đây là "Guide Me, O Thou Great Jehovah".[24] Khi Houston bước vào tuổi vị thành niên, cô học tại trường Mount Saint Dominic Academy, một trường nữ sinh Công giáo ở Caldwell, New Jersey, nơi cô gặp người bạn thân Robyn Crawford mà sau này được cô miêu tả như "một người chị gái cô chưa từng có".[25] Trong khi vừa đi học, cô vừa được mẹ dạy hát.[5] Houston được tiếp xúc với âm nhạc của Chaka Khan, Gladys Knight, và Roberta Flack, đa phần trong số học đều gây ảnh hưởng nhất định đến cô trong vai trò một ca sĩ và một người biểu diễn.[26]

Houston dành phần lớn những năm tháng vị thành niên lưu diễn tại các câu lạc bộ đêm, nơi Cissy biểu diễn, và cô thi thoảng cũng lên sân khấu và biểu diễn chung cùng mẹ. Năm 1977, khi cô 14 tuổi, cô trở thành một ca sĩ hát đệm cho đĩa đơn "Life's a Party" của Michael Zager Band.[27] Một năm sau, Houston tiếp tục hát đệm cho bản hit "I'm Every Woman" của Chaka Khan, ca khúc mà sau này cũng trở thành một hit lớn hơn của cô trong album nhạc phim bán chạy nhất, The Bodyguard.[28][29] Cô cũng tham gia hát đệm cho các album của Lou RawlsJermaine Jackson.[28]

Đầu những năm 1980, Houston bắt đầu trở thành một người mẫu thời trang sau khi một nhiếp ảnh gia chứng kiến cô hát cùng mẹ tại Carnegie Hall. Cô từng xuất hiện trên tạp chí Seventeen[30] và trở thành một trong số những nữ người mẫu da màu đầu tiên xuất hiện trên bìa tạp chí này.[31] Cô cũng xuất hiện trong các mẫu thiết kế trên tạp chí Glamour, Cosmopolitan, Young Miss, và trong một quảng cáo đồ uống nhẹ của hãng Canada Dry trên truyền hình.[28] Vẻ ngoài và sự quyến rũ như của một cô gái hàng xóm đã giúp cho cô trở thành một trong số các người mẫu tuổi teen chuẩn mực nhất vào thời điểm đó.[28] Trong khi vừa làm người mẫu, cô tiếp tục sự nghiệp thu âm của mình với việc hợp tác cùng các nhà sản xuất Michael Beinhorn, Bill LaswellMartin Bisi trong album tiên phong của họ có tựa đề là One Down của nhóm nhạc Material. Với dự án này, Houston đòng góp một bản ballad có tên "Memories", một bản hát lại ca khúc của Hugh Hopper, một thành viên của Soft Machine. Robert Christgau của The Village Voice gọi bài hát này là "một trong số những bản ballad tuyệt nhất mà bạn từng nghe".[32] Cô cũng hát chính một bài hát trong album Paul Jabara and Friends của Paul Jabara, được phát hành bởi Columbia Records năm 1983.[33]

Houston trước đây đã nhận được những lời mời từ các công ty thu âm (Michael Zager năm 1980, và Elektra Records vào năm 1981), tuy nhiên mẹ cô từ chối những lời đề nghị này, giải thích rằng cô cần phải tốt nghiệp trung học phổ thông.[27][34] Năm 1983, Gerry Griffith, một người đại diện cho hãng Arista Records, chứng kiến cô biểu diễn cùng mẹ trong một câu lạc bộ đêm ở thành phố New York và hoàn toàn bị ấn tượng. Ông thuyết phục người đứng đầu Arista lúc bấy giờ là Clive Davis thu xếp thời gian để xem Houston trình diễn. Davis sau này cũng bị thuyết phục, và đưa ra một bản hợp đồng thu âm trên toàn cầu. Houston đã đồng ý kí vào đó. Sau đó, cũng trong năm này, cô ra mắt trên hệ thống truyền hình quốc gia, thông qua lần xuất hiện đầu tiên cùng Davis trong chương trình The Merv Griffin Show.[35]

Houston kí hợp đồng với Arista trong năm 1983, nhưng không bắt tay vào thực hiện album ngay lập tức.[1] Hãng đĩa này muốn đảm bảo rằng cô không kí hợp đồng với các hãng khác. Davis cũng muốn chắc chắn rằng ông đã có những chất liệu và các nhà sản xuất âm nhạc thích hợp cho album đầu tay của Houston. Một số nhà sản xuất đã không được tham gia dự án do những cam kết này.[36] Houston lần đầu thu âm một ca khúc hợp tác với Teddy Pendergrass có tựa đề "Hold Me". Ca khúc này bao gồm trong album của anh, Love Language.[37] Đĩa đơn cho bài hát phát hành năm 1984 và đem về những thành công đầu tiên cho Houston, khi nó trở thành một hit trong top 5 của bảng xếp hạng R&B.[38] Ca khúc về sau cũng xuất hiện trong album đầu tay của cô, phát hành năm 1985.

1985 – 1986: Bắt đầu ảnh hưởng trên toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự tham gia của các nhà sản xuất như Michael Masser, Kashif, Jermaine Jackson, và Narada Michael Walden, album đầu tay của Houston, Whitney Houston được phát hành trong tháng 2 năm 1985. Tạp chí Rolling Stone đã ca ngợi Houston, gọi cô là "một trong số những giọng hát mới thú vị nhất những năm vừa qua" trong khi tờ The New York Times lại đánh giá album là "đầy ấn tượng, một sự thể hiện thận trọng đầy tính âm nhạc dánh riêng cho một giọng ca tài năng hiếm có".[39][40] Arista Records tiến hành quảng bá cho album của Houston với 3 đĩa đơn khác nhau phát hành trên thị trường Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và một số quốc gia châu Âu khác. Tại Anh, ca khúc nhạc dance-funk, "Someone for Me", được phát hành thành đĩa đơn đầu tiên và thất bại trên các bảng xếp hạng; trong khi "All at Once" lại trở thành đĩa đơn đầu tiên tại các quốc gia Hà LanBỉ, nơi mà ca khúc lần lượt lọt vào top 5 trên bảng xếp hạng đĩa đơn.[41]

Ở Hoa Kỳ, bản ballad ngọt ngào "You Give Good Love" được chọn là đĩa đơn mở đường từ album đầu tay của Houston nhằm thiết lập vị trí của cô trên thị trường các nghệ sĩ da màu.[42] Tại các thị trường ngoài Hoa Kỳ, ca khúc không nhận được đủ sự quan tâm để trở thành một hit, nhưng riêng tại Mỹ, ca khúc đã trở thành hit lớn đầu tiên của album khi nó đạt đến vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100, và quán quân trên bảng xếp hạng Hot R&B.[36] Kết quả là, doanh số của album tăng dần lên, và Houston tiếp tục quảng bá thông qua việc lưu diễn trong các câu lạc bộ đêm ở Hoa Kỳ. Cô cũng bắt đầu biểu diễn trong các chương trình giao lưu nửa đêm, những chương trình mà những nghệ sĩ da màu chưa nổi tiếng thường không thể tiến đến. Bản ballad mang phong cách jazz "Saving All My Love for You" được phát hành sau đó và trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của Houston tại Mỹ và Anh. Cô sau này trở thành nghệ sĩ hát mở đầu buổi biểu diễn trong chuyến lưu diễn trên toàn quốc của nam ca sĩ Jeffrey Osborne. "Thinking About You" được phát hành như một đĩa đơn quảng bá dành riêng cho các trạm phát thanh chuyên phát R&B, và cũng lọt vào top 10 bảng xếp hạng US R&B. Vào thời điểm đó, MTV nhận nhiều chỉ trích vì phát quá ít các bài hát của các nghệ sĩ da đen, La-tinh, và của các nghệ sĩ thuộc các chủng tộc thiểu số khác, trong khi tập trung nhiều vào các nghệ sĩ da trắng.[43] Đĩa đơn thứ ba ại Hoa Kỳ, "How Will I Know", cũng đạt đến ngôi vị quán quân và đưa Houston đến với các khán giả của MTV nhờ video âm nhạc của ca khúc. Các đĩa đơn và các album sau này của Houston đều đã giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi đầu tiên nhận được một lượng lớn các thính giả trung thành trên MTV.[31]

Năm 1986, một năm sau ngày phát hành, Whitney Houston đã leo đến vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200 và giữ vị trí này trong 14 tuần không liên tiếp.[44] Đĩa đơn cuối cùng từ album, "Greatest Love of All", trở thành hit lớn nhất của Houston lúc bấy giờ sau khi đạt đến vị trí số 1 trên Hot 100 trong 3 tuần, giúp cho cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có album đạt 3 đĩa đơn quán quân. Houston xuất hiện ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng nghệ sĩ của năm và Whitney Houston đứng vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album của năm trong ấn bản cuối năm 1986 của tạp chí Billboard, giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên đạt được những thành công này.[44] Lúc đó, album đầu tay của Houston là album đầu tay bán chạy nhất của một nghệ sĩ.[45] Houston sau đó khởi động chuyến lưu diễn đầu tiên của cô, Greatest Love Tour. Album đã đạt được thành công thương mại trên toàn cầu, và được chứng nhận 13× Bạch kim (Kim Cương) chỉ riêng tại thị trường Hoa Kỳ, và đạt doanh số 25 triệu bản tiêu thụ trên toàn thế giới.[46]

Tại lễ trao Giải Grammy 1986, Houston nhận được 3 đề cử trong đó bao gồm giải Album của năm.[47] Cô không đủ điều kiện xét đề cử ở hạng mục Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất do cô đã góp mặt trong bản thu âm R&B hợp tác với Teddy Pendergrass vào năm 1984.[48] Cô thắng Giải Grammy đầu tiên trong sự nghiệp ở hạng mục Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho ca khúc "Saving All My Love for You".[49] Màn trình diễn của Houston tại lễ trao giải truyền hình trực tiếp của Giải Grammy sau đó đã đem về cho cô một Giải Emmy cho Mãn trình diễn đơn xuất sắc nhất trong một chương trình tự do hoặc âm nhạc.[50]

Houston giành tổng cộng 7 giải American Music Award trong 2 năm 1986 và 1987, và một giải MTV Video Music Award.[51][52] Độ nổi tiếng của album tiếp tục đem về cho cô đề cử tại Giải Grammy 1987 khi "Greatest Love of All" nhận đề cử ở hạng mục Bản thu âm của năm. Album đầu tay của năm được đưa vào danh sách 500 album hay nhất của tạp chí Rolling Stone và trong danh sách 200 The Rock & Roll Hall of Fame.[53][54] Sự xuất hiện của Houston trong ngành công nghiệp âm nhậc được cho là một trong số 25 cột mốc âm nhạc quan trọng nhất trong 25 năm qua, theo tạp chí USA Today.[55] Thành công của Houston đã mở ra cánh của đến với những thành công lớn trong âm nhạc đại chúng và trên MTV cho các nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi khác như Janet JacksonAnita Baker.[56][57]

1987 – 1991: Whitney, I'm Your Baby Tonight và "The Star Spangled Banner"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều kỳ vọng, album phòng thu thứ hai của Houston, Whitney, được phát hành vào tháng 6 năm 1987. Album một lần nữa được sản xuất bởi Masser, Kashif và Walden, cũng như Jellybean Benitez. Nhiều nhà phê bình đã phàn nàn về việc chất liệu quá tương đồng với album trước đó của cô. Tạp chí Rolling Stone nhận định: "the narrow channel through which this talent has been directed is frustrating".[58] Dẫu vậy, album vẫn đạt được những thành công thương mại. Houston trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử âm nhạc ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200, và là nghệ sĩ đầu tiên có album xuất hiện ở vị trí số 1 trên cả hai bảng xếp hạng của Hoa Kỳ và Anh Quốc, đồng thời cũng đạt ngôi vương và nằm trong top 10 của nhiều quốc gia trên thế giới. Đĩa đơn đầu tiên của album, "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)", cũng là một hit lớn trên toàn cầu, giành ngôi đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 cũng như nhiều bảng xếp hạng đĩa đơn của các quốc gia khác như Úc, Đức và Anh Quốc. Ba đĩa đơn kế tiếp, "Didn't We Almost Have It All", "So Emotional", và "Where Do Broken Hearts Go" đều đạt vị trí quán quân tại Hoa Kỳ, giúp cho cô có được bảy đĩa đơn quán quân liên tiếp, phá vỡ kỷ lục gồm 6 đĩa đơn trước đó được nắm giữ bởi The BeatlesBee Gees.[59][60] Houston cũng trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có được 4 đĩa đơn quán quân trong một album. Whitney đã được chứng nhận 9× Bạch kim tại Hoa Kỳ với mốc doanh số nhập hàng đạt 9 triệu bản, và bán được tổng cộng hơn 20 triệu bản trên toàn cầu.[61]

Tại Giải Grammy lần thứ 30 vào năm 1988, Houston nhận được ba đề cử, trong đó có giải Album của năm, và thắng giải Grammy thứ hai trong sự nghiệp của mình ở hạng mục Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất với "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)".[62][63] Houston cũng giành được 2 giải Âm nhạc Mỹ vào hai năm liên tiếp 1988 và 1989, và một giải Soul Train Music Award.[64][65][66] Sau khi album phát hành, Houston khởi động chuyến lưu diễn Moment of Truth World Tour. Chuyến lưu diễn này là một trong 10 chuyến lưu diễn hòa nhạc có doanh thu cao nhất năm 1987.[67] Thành công của chuyến lưu diễn trong hai năm 1986 – 1987 và của hai album đã giúp Houston đứng vị trí thứ 8 trong danh sách các nhà hoạt động giải trí có lợi nhuận cao nhất của Forbes magazine.[68] Cô cũng là nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi kiếm được lợi nhuận nhiều nhất trong các nghệ sĩ nữ, và nhiều thứ ba trong danh sách các nhà hoạt động giải trí sau Bill CosbyEddie Murphy.[68]

Houston là một trong số những người ủng hộ Nelson Mandela và phong trào giải phóng khỏi chế độ A-pác-thai. Trong thời gian còn làm người mẫu, nữ ca sĩ từ chối làm việc với những người kinh doanh với quốc gia Nam Phi, lúc bấy giờ đang áp dụng chế độ này.[69][70] Vào ngày 11 tháng 6 năm 1988, tại điểm dừng chân ở châu Âu trong chuyến lưu diễn của mình, Houston cùng một số nhạc sĩ khác đã trình diễn tại sân vận động Wembley Stadium ở Luân Đôn để mừng sinh nhật lần thứ 70 của Nelson Mandela, người sau này bị chính phủ Nam Phi giam giữ.[69] Hơn 72.000 người đã đến sân vận động Wembley Stadium, và hơn một tỷ người trên toàn cầu đã xem buổi hòa nhạc này. Nhờ vậy, buổi hòa nhạc rock thu được hơn 1 triệu đô-la Mỹ để quyên góp từ thiện, đồng thời giúp mọi người có nhận thức về chế độ A-pác-thai.[71] Houston sau đó bay trở về Mỹ để thực hiện hòa nhạc tại Madison Square Garden ở thành phố New York vào tháng tám. Buổi hòa nhạc thu về 250.000 đô-la Mỹ quyên góp cho quỹ United Negro College Fund.[72] Cũng trong năm này, cô thu âm cho NBC một bài hát chủ đề dành riêng cho Thê vận hội mùa hè 1988, "One Moment in Time". Bài hát lọt vào top 5 tại Hoa Kỳ, và đạt vị trí quán quân tại Vương quốc Anh và Đức.[73][74][75] Với việc chuyến lưu diễn thế giới của cô tiếp tục vươn tới các châu lục khác, Houston vẫn nằm trong danh sách 20 nhân vật giải trí có lợi nhuận cao nhất trong hai năm 1987 – 1988 của tạp chí Forbes.[76][77]

Houston trình diễn "Saving All My Love for You" trong buổi hòa nhạc Welcome Home Heroes năm 1991

Năm 1989, Houston thành lập The Whitney Houston Foundation For Children, một tổ chức phi lợi nhuận gây quỹ giúp đỡ trẻ em trên toàn cầu. Tổ chức này quan tâm đến những trẻ em vô gia cư, mắc bệnh ung thư hoặc AIDS, and other issues of self-empowerment.[78] With the success of her first two albums, Houston was undoubtedly an international crossover superstar, the most prominent since Michael Jackson, appealing to all demographics. However, some black critics believed she was "selling out".[6] They felt her singing on record lacked the soul that was present during her live concerts.[30]

At the 1989 Soul Train Music Awards, when Houston's name was called out for a nomination, a few in the audience jeered.[79][80] Houston defended herself against the criticism, stating, "If you're gonna have a long career, there's a certain way to do it, and I did it that way. I'm not ashamed of it."[30] Houston took a more urban direction with her third studio album, I'm Your Baby Tonight, released in November 1990. She produced and chose producers for this album and as a result, it featured production and collaborations with L.A. ReidBabyface, Luther Vandross, and Stevie Wonder. The album showed Houston's versatility on a new batch of tough rhythmic grooves, soulful ballads trở lên-tempo dance tracks. Reviews were mixed. Rolling Stone felt it was her "best and most integrated album".[81] while Entertainment Weekly, at the time thought Houston's shift towards an urban direction was "superficial".[82]

The album contained several hits: the first two singles, "I'm Your Baby Tonight" and "All the Man That I Need" peaked at number one on the Billboard Hot 100 chart; "Miracle" peaked at number nine; "My Name Is Not Susan" peaked in the top twenty; "I Belong to You" reached the top ten of the US R&B chart and garnered Houston a Grammy nomination; and the sixth single, the Stevie Wonder duet "We Didn't Know", reached the R&B top twenty. The album peaked at number three on the Billboard 200 and went on to be certified 4× platinum in the US while selling twelve million total worldwide.

In 1990, Houston was the spokesperson for a youth leadership conference hosted in Washington, D.C. She had a private audience with President George H. W. Bush in the Oval Office to discuss the associated challenges.

During the Persian Gulf War, Houston performed "The Star Spangled Banner" at Super Bowl XXV at Tampa Stadium on January 27, 1991.[83] This performance was later reported by those involved in the performance to have been lip synced[84] or to have been sung into a dead microphone while a studio recording previously made by Houston was played. Dan Klores, a spokesman for Houston, explained: "This is not a Milli Vanilli thing. She sang live, but the microphone was turned off. It was a technical decision, partially based on the noise factor. This is standard procedure at these events."[85] (See also Star Spangled Banner lip sync controversy.) A commercial single and video of her performance were released, and reached the Top 20 on the US Hot 100, making her the only act to turn the US national anthem into a pop hit of that magnitude (José Feliciano's version reached No. 50 in November 1968).[86][87] Houston donated all her share of the proceeds to the American Red Cross Gulf Crisis Fund. As a result, the singer was named to the Red Cross Board of Governors.[83][88][89]

Her rendition was critically acclaimed and is considered the benchmark for singers.[84][90] Rolling Stone commented that "her singing stirs such strong patriotism. Unforgettable", and the performance ranked No. 1 on the 25 most memorable music moments in NFL history list. VH1 listed the performance as one of the greatest moments that rocked TV.[91][92] Following the attacks on 9/11, it was released again by Arista Records, all profits going towards the firefighters and victims of the attacks. This time it peaked at No. 6 in the Hot 100 and was certified platinum by the Recording Industry Association of America.[93]

Later in 1991, Houston put together her Welcome Home Heroes concert with HBO for the soldiers fighting in the Persian Gulf War and their families. The free concert took place at Naval Station Norfolk in Norfolk, Virginia in front of 3,500 servicemen and women. HBO descrambled the concert so that it was free for everyone to watch.[94] Houston's concert gave HBO its highest ratings ever.[95] She then embarked on the I'm Your Baby Tonight World Tour.

1992 - 1997: Thành công rực rỡ với The Bodyguard, Waiting to ExhaleThe Preacher's Wife[sửa | sửa mã nguồn]

Một điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của Houston đó là sự đóng góp của những ca khúc nhạc trong phim mà cô rất thành công. Không những ngay cả những bộ phim đó thể hiện sự xuất sắc trên thị trường điện ảnh mà chính những ca khúc nhạc trong phim cũng trở thành đề tài khen ngợi của các nhà phê bình cũng như khán giả. Bản nhạc trong The Bodyguard Sountrack là một ví dụ, nó đã trở thành album nhạc phim bán chạy nhất mọi thời đại: hiện tại doanh số bán ra là 46 triệu bản trên toàn thế giới trong đó có hơn 17 triệu bản tính riêng tại Mỹ[96]. Album giành giải Album của nămGhi âm của năm tại giải thưởng Grammy. Nhạc phẩm thành công nhất trong album là "I Will Always Love You" đạt vị trí quán quân tại Mỹ trong 14 tuần liên tiếp (một kỷ lục tại Mỹ lúc bấy giờ) và tại Anh trong 10 tuần thực sự được công chúng yêu nhạc toàn thế giới đánh giá là một trong những bản tình ca bất diệt. "I Will Always Love You" xếp vị trí thứ 49 cho bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại, xếp thứ 27 cho bài hát R&B vĩ đại nhất mọi thời đại và xếp thứ 6 cho bản tình ca vĩ đại nhất mọi thời đại theo tạp chí Billboard. Hai ca khúc tiếp theo là "I'm Every Woman" và "I Have Nothing" đều nằm trong tốp 5 tại Mỹ[97]. Tiếp theo thành công của bộ phim The Bodyguard, Houston thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới vào năm 1993 với tên gọi The Bodyguard World Tour, trong đó có một số buổi hòa nhạc đặc biệt tại châu Phi.[98][99]

Whitney Houston thu âm 3 ca khúc làm nhạc trong bộ phim Waiting to Exhale (đạt doanh thu 60 triệu USD) là "Exhale (Shoop Shoop)" (#1), "Count On Me" (#8) và "Why Does It Hurt So Bad" (#26). Album Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album đã bán được 5,7 triệu bản tại Mỹ[100]. Các ca khúc trong album như "Exhale (Shoop Shoop)" đã được đề cử cho Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất, "Count On Me" hợp tác với Cece Winans được để cử cho Hợp tác giọng Pop xuất nhấtBài hát được viết cho nhạc phim hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 39.

The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album là album nhạc phim của bộ phim cùng tên, phát hành vào ngày 26 tháng 11 năm 1996. Các bài hát trong album được thể hiện bởi Whitney Houston, người đóng vai chính trong bộ phim này. Đây là album nhạc gospel bán chạy nhất mọi thời đại, khi bán được 6 triệu bản trên toàn thế giới và 5 triệu bản trên toàn nước Mỹ.[101]. Album nhạc phim cũng đạt vị trí thứ ba trên US Billboard 200[102]. Vào lễ trao giải Grammy lần thứ 39 (năm 1997) album đã được để cử cho Album của năm. Album cũng đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Top R&B Albums và Top Gospel Albums, cũng như được chứng nhận 3 đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA). Album phát hành 3 đĩa đơn: Đĩa đơn đầu tiên, "I Believe in You and Me" (hát lại của The Four Tops), trở thành 1 đĩa đơn nằm trong top 5 ở Mỹ và được đề cử giải Grammy ở hạng mục Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất, cũng như giải Album R&B xuất sắc nhất cho album. Đĩa đơn thứ hai, "Step by Step" cũng đạt được một số thành công nhất, khi nằm trong top 10 và 20 của nhiều quốc gia. Đĩa đơn cuối cùng, "My Heart Is Calling" trở thành đĩa đơn phát hành cuối cùng của một soundtrack.

1998 - 2005: My Love Is Your Love, Just Whitney..., các album tổng hợp và những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dành thời gian cho các bộ phim điện ảnh và album nhạc phim trong những năm đầu và giữa thập niên, Houston ra mắt album phòng thu đầu tiên trong 8 năm, My Love Is Your Love, vào tháng 11 năm 1998 và nhận được những phản hồi tích cực từ giới phê bình. Mặc dù ban đầu được kì vọng là một album tuyển tập với hàng tá ca khúc mới, nhưng những buổi thu âm thành công đã khiến cho một album phòng thu mới được phát hành. Được thu âm và phối khí chỉ trong 6 tuần, album được sự giúp đỡ từ các nhà sản xuất Rodney Jerkins, Wyclef JeanMissy Elliott. Album ra mắt tại vị trí thứ 13, và cũng là vị trí cao nhất của album, trên bảng xếp hạng US Billboard 200.[103] Album có những âm thanh vui nhộn và sắc sảo hơn các sản phẩm trước đó và chứng kiến sự chuyển hướng của Houston sang thể loại dance thành thị, hip hop, R&B tiết tấu trung bình, reggae, torch, và những bản ballad. Tất cả đều được thể hiện một cách khéo léo.[104]

Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 2000, album đã sản sinh một vài đĩa đơn thành công: "When You Believe" (#15 tại Hoa Kỳ, #4 tại Anh), một bản song ca với Mariah Carey cho nhạc phim của bộ phim Hoàng tử Ai Cập, đã trở thành một hit lớn trên toàn cầu và nằm trong top 10 của một số quốc gia, thắng một giải Oscar cho Ca khúc trong phim xuất sắc nhất;[105] "Heartbreak Hotel" (á quân tại Hoa Kỳ, #25 tại Vương quốc Anh) hợp tác với Faith EvansKelly Price, nhận được một đề cử cho video R&B xuất sắc nhất tại giải MTV VMA 1999,[106] và đạt quán quân bảng xếp hạng US R&B trong 8 tuần; "It's Not Right but It's Okay" (#4 tại Mỹ, #3 tại Anh) đem về cho Houston giải Grammy thứ sau trong sự nghiệp khi giành chiến thắng ở hạng mục Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất;[107] "My Love Is Your Love" (#4 tại Hoa Kỳ, á quân Vương quốc Anh) bán ra 3 triệu bản trên toàn cầu;[108] và "I Learned from the Best" (#27 tại Mỹ, #19 tại Anh).[109][110] Tất cả các đĩa đơn này đều trở thành các hit trên toàn cầu, cũng như đạt quán quân bảng xếp hạng US Billboard Hot Dance/Club Play (trừ "When You Believe"). Album bán ra 4 triệu bản tại Hoa Kỳ, nhận được chứng nhận 4× Bạch Kim, và tiêu thụ được 11 triệu bản trên toàn cầu.[46]

Album đã nhận được nhiều ý kiến mạnh mẽ hơn tất cả các album trước đó của Whitney. Tạp chí Rolling Stone cho rằng Houston đang hát "cùng với một vết thương trong giọng của cô"[111] và tạp chí The Village Voice nhận xét răng: "Giọng của Houston đang rất sắc và đang làm chúng ta thỏa mãn hơn bao giờ hết.[112] Năm 1999, Whitney tham dự chương trình VH-1's Divas Live 99 cùng với Brandy, Mary J.Blige, Tina TurnerCher. Cũng trong năm này, Whitney tổ chức chuyến lưu diễn dài 70 ngày với tên gọi My Love Is Your Love World Tour. Các buổi diễn tại châu Âu đã giúp My Love Is Your Love World Tour trở thành chuyến lưu diễn ăn khách nhất châu Âu năm 1999.[113]. Trong tháng 11 năm 1999, Houston được ghi danh trong danh sách các nữ nghệ sĩ R&B có doanh số nhiều nhất thiên niên kỉ với 51 triệu album bán lẻ được cấp chứng nhận tại Mĩ. The Bodyguard Sountrack cũng được ghi danh trong danh sách các album nhạc phim bán chạy nhất thiên niên kỉ bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ RIAA.[114] Đồng thời, Houston cũng được trao giải thưởng Nghệ sĩ của thập kỉ tại lễ trao giải Soul Train Music Award lần thứ 14 và một giải thưởng âm nhạc MTV châu Âu dành cho nghệ sĩ R&B xuất sắc nhất (MTV Europe Music Award for Best R&B).[115][116][117][118][119]

Whitney: The Greatest Hits là album tổng hợp đầu tiên của Whitney Houston, được phát hành vào tháng 5 năm 2000 trên toàn thế giới. Album bao gồm một đĩa với những bản ballad và một đĩa với các bài hát được remix lại cũng như một số bài hát mới. Màn thể hiện "The Star-Spangled Banner" tại Super Bowl XXV; bài hát vận động cho Thế vận hội mùa hè 1988, "One Moment in Time" và ca khúc "If You Say My Eyes Are Beautiful" - hát với Jermaine Jackson cũng được bao gồm trong album này. Album có bốn ca khúc mới: "Could I Have This Kiss Forever" - song ca cùng Enrique Iglesias, "If I Told You That" - song ca cùng George Michael, "Same Script, Different Cast" - hát cùng Deborah Cox và "Fine". Tất cả các ca khúc này đều được phát hành thành các đĩa đơn. Album cũng đi kèm 1 DVD bao gồm các video âm nhạc của cô trong quá khứ, cũng như những màn biểu diễn trực tiếp và phỏng vấn.[120][121] Cả 2 đĩa của album đạt ví trí thứ 5 trên bảng xếp hạng US Billboard 200 và thứ 1 trên bảng xếp hạng của Vương quốc Anh.[122][123]. Album cũng nằm trong top 10 tại các quốc gia khác.[124] Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) đã chứng nhận 3 đĩa Bạch kim cho album vào ngày 12 tháng 11 năm 2002, công nhận 1,5 triệu album đã được bán tại Mỹ.[125][126] Tính đến nay, album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới. Album tuy có doanh số cao nhưng cũng nhận được những ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình. Nhiều ý kiến phàn nàn về các bản remix ở đĩa thứ hai, thay vì bản gốc của chúng. Tại Mỹ, bản sao được bán tại các cửa hàng Circuit City bao gồm 1/3 đĩa có chứa các bản hòa âm club mới. Album đạt vị trí trong top 10 tại bảng xếp hạng của các nước châu Âu, , Canada, ÚcNew Zealand. Album được chứng nhận 3 lần bạch kim bởi IFPI trong năm 2000 với doanh số 3 triệu bản tại châu Âu. Whitney: The Unreleased Mixes là một phiên bản giới hạn bốn bản thu âm vinyl, có đầy đủ 8 bản club được lựa chọn được tìm thấy trên phát hành ở Mỹ. Năm 2006, nó được phát hành kỹ thật số và lại mang tên Dance Vault Mixes: Whitney Houston – The Unreleased Mixes (Collector's Edition). Trong tháng 1 năm 2011, album đã được tái phát hành ở Vương quốc Anh với danh sách bài hát giống như ở Mỹ, nhưng nó được đổi tên thành The Essential Whitney Houston[127]. Ngoài việc thay đổi tiêu đề, việc phát hành lại cũng thay đổi ảnh bìa album. Ảnh bìa mới của album được sản xuất bởi David LaChapelle.[128]

Sau khi phát hành Whitney: The Greatest Hits, vào tháng 8 năm 2001, Whitney kí hợp đồng 100 triệu đô la Mĩ với Arista - hợp đồng có giá trị lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp thu âm lúc bấy giờ, cho 6 album mới.[129][130][131] Từ thời gian này, Whitney bị dính vào những vấn đề cá nhân liên quan đến ma túy, đến tình hình sức khỏe. Cô bị các fan hâm mộ lẫn giới truyền thông đặt ra nhiều nghi ngại. Dù vậy, Whitney vẫn phát hành album tổng hợp thứ hai của mình - Love, Whitney vào năm 2001 ở châu Âu và vào năm 2002 tại Mĩ. Album là phiên bản tiếp nối của Whitney: The Greatest Hits. Đây là một bộ sưu tập những bản ballad đã trở thành thương hiệu của cô, trong đó có 9 ca khúc nằm trong top 20 hits. Theo trang Allmusic, album này "không thực sự là album tuyển tập những ca khúc hit" nhưng "nó là một album tuyển tập những bản tình ca vĩ đại của Whitney" và "dành cho hầu hết những người hâm mộ của cô.[132]. Tai Anh, album đã bán được 42000 bản.[133] Album nhận được những đánh giá trung bình và trên mức trung bình từ các trang đánh giá uy tín như Allmusic[132], Rolling Stone.[134]

Tháng 12 năm 2002 Whitney Houston phát hành album phòng thu thứ năm, Just Whitney.... Album có sự hợp tác với chồng cô lúc bấy giờ, Bobby Brown cũng như một số ca sĩ khác như Missy Elliott và Babyface. Album đạt vị trí #9 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 200 và trở thành album có doanh số cao nhất trong tuần đầu tiên phát hành trong sự nghiệp của Whitney.[135]. Lượng bán ra của album trong tuần đầu là 205.147 bản, phá kỉ lục của Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album (177284 bản trong tuần đầu).[136][137] Các đĩa đơn được phát hành từ album là "Whatchulookinat", "One of Those Days", "Try It on My Own", "Love That Man" tuy trở thành các hit trong bảng xếp hạng Top R&B/Hip-hop Albums và đạt vị trí thứ 10 trong bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary[138] nhưng đều không thể lọt nổi vào tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Mặc dù được cấp giấy chứng nhận album bạch kim ở Mĩ, chứng nhận vàng ở Pháp và quốc gia khác, doanh số bán ra trên toàn cầu là 5 triệu bản[139] nhưng Just Whitney… vẫn là album phòng thu bán chậm nhất trong sự nghiệp của Whitney. Chỉ sau hai năm từ album Whitney: The Greatest Hits nhưng Just Whitney… đã "lọt" ra ngoài bảng xếp hạng 75 album của Anh quốc (#76). Whitney Houston chỉ phát hành một đĩa đơn duy nhất tại Anh là "Whatchulookinat" đạt vị trí #13 và chỉ có 2 tuần nằm trong tốp 40. Album nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ giới chuyên môn. Trang AllMusic đánh giá album ở mức trên trung bình[140], trong khi trang tờ Rolling Stone lại đánh giá album dưới mức trung bình.[141]. Album nhận được số điểm đánh giá là 53/100 từ Metacritic.[142]

One Wish: The Holiday Album là album Giáng sinh duy nhất của Whitney Houston, phát hành năm 2003. Album phát hành một đĩa đơn "One Wish (for Christmas)", lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary của Mỹ. Album đã trải qua sáu tuần trên bảng xếp hạng Billboard 200 và bán được 546.000 bản tính cho đến nay. Album cũng có một bản song ca với cô con gái Bobbi Kristina Houston là "The Little Drummer Boy". Album này cũngsử dụng lại 2 bài hát "Joy to the World" và "Who Would Imagine a King" từ album nhạc phim của bộ phim The Preacher's Wife phát hành năm năm 1996.

2006 - 2012: Trở lại với âm nhạc, I Look to You, các chuyến lưu diễn và điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2007, Clive Davis của hãng Arista Records thông báo rằng Whitney đang bắt đầu thu âm một album mới.[143]. Album tổng hợp thứ ba của cô, The Ultimate Collection, phát hành cùng năm đó và chỉ riêng ở khu vực ngoài nước .[144]

Houston biểu diễn "My Love Is Your Love" cùng với con gái Bobbi Kristina Brown trong chương trình Good Morning America vào ngày 1 tháng 9 năm 2009

Vào tháng 9 năm 2009, Houston có cuộc phỏng vấn đầu tiên trong vòng bảy năm, xuất hiện trong tập mở đầu mùa của chương trình The Oprah Winfrey's Show. Buổi phỏng vấn được đánh giá là "buổi phỏng vấn âm nhạc được chờ đợi nhất của thập kỉ".[145] Trong chương trình, Whitney thú nhận đã sử dụng thuốc và các loại chất kích thích cùng với chồng cũ là Bobby Brown.[146] Cô kể với Oprah rằng trước bộ phim The Bodyguard tình hình sử dụng thuốc phiện của cô không có vấn đề gì, nhưng sau thành công của bộ phim và việc cô hạ sinh con gái, việc này trở nên ngày một trầm trọng hơn, và theo lời cô thì vào năm 1996, "[sử dụng thuốc] là một điều diễn ra hằng ngày... Tôi đã không vui vẻ vào thời điểm đó. Tôi đã đánh mất chính mình."[147]

Tháng 8 năm 2009, Houston phát hành album phòng thu thứ bảy mang tên I Look to You.[148] Hai đĩa đơn đầu tiên từ album là bài hát chủ đề "I Look to You" và "Million Dollar Bill". Album xuất hiện trên bảng xếp hạng US Billboard 200 ở vị trí quán quân, với doanh số tuần mở đầu tốt nhất từ trước đến giờ (305.000 bản), trở thành album quán quân đầu tiên của Houston kể từ sau The Bodyguard, và cũng là album phòng thu đầu tiên của cô đạt ngôi quán quân kể từ album Whitney (1987). Houston cũng xuất hiện trên các chương trình truyền hình ở châu Âu để quảng bá cho album. Cô đã trình diễn "I Look to You" trên chương trình truyền hình Đức Wetten, dass...? và "Million Dollar Bill" trên kênh truyền hình Pháp Le Grand Journal. Ngoài ra, cô cũng nhận vai trò là người cố vấn khách mời trong chương trình The X Factor phiên bản Anh. Cô tiếp tục trình diễn "Million Dollar Bill" vào đêm công bố kết quả của chương trình. Truyền thông Anh đánh giá màn trình diễn nàu của cô là "kì lạ", "chán", "kém".[149][150]. Tuy nhiên, "Million Dollar Bill" cũng đã nhảy từ vị trí 14 lên vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng UK Singles Chart, và album I Look to You phát hành sau đó đã được chứng nhận vàng. Sau đó, Whitney tiếp tục trình diễn "Million Dollar Bill" tại The X Factor phiên bản Italy, và nhận được những đánh giá tích cực.[151] Cô tiếp tục nhận được chứng nhận vàng ở Italy sau khi album I Look to You bán được 50.000 bản.[152]. Trong tháng 11 năm 2009, cô trình diễn "I Didn't Know My Own Strength" tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mĩ (American Music Awards) tổ chức tại Los Angeles, California, Mĩ. Và vào tháng 12 năm 2009, album I Look to You của cô đã được chứng nhận bạch kim bởi RIAA với doanh thu đạt một triệu bản tại Mĩ.[153] Ngày 26 tháng 1 năm 2010, cô ra mắt lại album Whitney Houston với tên gọi mới là Whitney Houston - The Deluxe Anniversary Edition.[154]

Whitney Houston biểu diễn tại đấu trường O2 của Luân Đôn vào ngày 28 tháng 4 năm 2010, trong chuyến lưu diễn Nothing but Love World Tour.

Chuyến lưu diễn Nothing but Love World Tour là chuyến lưu diễn đầu tiên sau hơn 10 năm kể từ My Love Is Your Love World Tour và được kì vọng sẽ là một sự trở lại thành công của Whitney. Tuy nhiên, một số buổi biểu diễn không tốt và việc các buổi lưu diễn bị dời ngày đã thu hút những đánh giá truyền thông tiêu cực.[155][156]. Whitney đã hủy bỏ một số buổi diễn do ảnh hưởng từ sức khỏe kém của cô, và nhận được những lời bình luận tiêu cực từ fan. Các fan hâm mộ đã thất vọng trước giọng hát càng ngày càng trở nên tồi tệ của cô. Một số người đã ra khỏi buổi diễn của cô khi chưa kết thúc, còn một số đã yêu cầu trả lại tiền vé vì "không được nghe một Whitney Houston đích thực".[157]

Trong tháng 1 năm 2010, Whitney được đề cử 2 giải NAACP Image Awards cho hạng mục Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhấtVideo ca nhạc xuất sắc nhất. Cô thắng tại hạng mục Video ca nhạc xuất sắc nhất cho video "I Look to You". Ngày 16 tháng 1 năm 2010, cô nhận giải The BET Honor Award for Entertainer cho những thành tựu mà cô đạt được trong suốt sự nghiệp 25 năm âm nhạc của mình. Giải thưởng này được tổ chức vào ngày 1 tháng 2 năm 2010, tại Warner Theatre, Washington D.C, Mĩ. Jennifer HudsonKim Burrell trình diễn để tri ân cô và đã nhận được những đánh giá tốt. Vào tháng 4 năm 2010, tờ báo The Mirror của Anh viết rằng Whitney đang nghĩ đến việc thu âm album phòng thu thứ bảy của mình và muốn hợp tác với will.i.am, lần đầu tiên cô lựa chọn một sự hợp tác.[158]

Whitney cũng trình diễn ca khúc "I Look to You" trên sân khấu "BET Celebration of Gospel" được tổ chức tại Staples Center, Los Angeles cùng với Kim Burrell vào ngày 30 tháng 1 năm 2011. Đầu năm 2011, cô cũng bất ngờ trình diễn một ca khúc để tri ân chị họ cô, Dionne Warwick tại bữa tiệc tiền giải Grammy được tổ chức hằng năm của Clive Davis.

Tháng 9 năm 2011, tờ The Hollywood Reporter đưa tin rằng Whitney sẽ cùng tham gia tái sản xuất bộ phim Sparkle (1976) với ngôi sao Jordin SparksMike Epps. Cô cũng đồng thời là người điều hành sản xuất cho bộ phim. Debra Martin Chase, nhà sản xuất của Sparkle, cho rằng Whitney xứng đáng với vai trò này vì cô đã nhận bản quyền phim từ năm 2001. Ca sĩ R&B Aaliyah, ban đầu được chọn làm ngôi sao trong Sparkle, đã qua đời vào năm 2001 trong một tai nạn máy bay. Cái chết của bà đã làm trì hoãn việc sản xuất, đáng lẽ phải được bắt đầu từ 2002.[159][160][161]. Bộ phim được thu hình vào mùa thu năm 2011, trong khoảng thời gian 2 tháng,[162] và được phát hành bởi hãng phim TriStar Pictures[163]. Vào ngày 21 tháng 5 năm 2012, "Sparkle", ca khúc cuối cùng của Whitney, thu âm cùng Sparks, ra mắt tại trang RyanSeacrest.com. Ca khúc này được có sẵn để tải về trên iTunes vào ngày 5 tháng 6.[164]. Ca khúc cũng nằm trong Sparkle: Music from the Motion Picture, được phát hành thành đĩa đơn chính thức đầu tiên.[165]. Bộ phim ra mắt ngày 17 tháng 8 năm 2012 tại . Video ca nhạc của ca khúc "Sparkle" được thu hình ngày 30 tháng 5 năm 2012.[166]. Một đoạn ngắn của video ra mắt trên Entertainment Tonight vào ngày 4 tháng 6 năm 2012.[167]

Những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện và tình hình sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có một thời gian Whitney thường được gọi là "gái ngoan" với hình ảnh tốt đẹp trước công chúng trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 nhưng từ cuối những năm 1990, cô bắt đầu thay đổi. Cô thường ngồi hàng giờ cho các cuộc phỏng vấn, chụp ảnh và các buổi tập, hủy bỏ hàng loạt buổi diễn và những cuộc nói chuyện trên truyền hình.[168][169]. Việc cô bỏ các buổi biểu diễn và sút cân đã làm tin đồn về việc Whitney dùng thuốc phiện cùng chồng lan truyền khắp nơi. Sau khi phát hành album Whitney: The Greatest Hits, tháng 11 năm 2000, đội an ninh tại sân bay Hawaii đã phát hiện ra chất gây nghiện trong hành lý của Houston và Bobby Brown nhưng họ đã lên máy bay và bay mất trước khi cảnh sát kịp bắt giữ. Không có bản án nào được thi hành nhưng tin đồn về vụ việc này lan ra nhanh chóng.[170]. 2 tháng sau, Clive Davis được ghi danh tại sảnh danh vọng Rock and Roll. Whitney có lịch biểu diễn cho sự kiện này, nhưng cô đã không xuất hiện.[171] Ngay sau đó, Whitney lại có lịch biểu diễn tại lễ trao giải Oscar, nhưng cô đã được đạo diễn âm nhạc của chương trình- người bạn thân thiết của cô Burt Bacharach yêu cầu ra khỏi sự kiện. Phát ngôn viên truyền thông của cô đã giải thích việc này là do cô gặp vấn đề về họng. Trong cuốn sách của mình, The Big Show: High Times and Dirty Dealings Backstage at the Acedemy Awards, tác giả Steve Pond tiết lộ rằng: "Giọng của Houston đã trở nên run rẩy, cô ấy dường như bị phân tâm và bồn chồn, nhưng cô lại cố gắng tỏ vẻ bình thường", và lẽ ra lúc đó Whitney phải hát ca khúc Over the Rainbow thì cô lại hát một ca khúc khác.[172]. Sau này chính Whitney cũng thú nhận đã bị đuổi khỏi lễ trao giải Oscar năm đó.[173]. Cũng vào năm ấy, người bạn thân đồng thời cũng là quản lí lâu năm của Whitney, Robyn Crawford, từ chức khỏi công ty chủ quản của cô.[174]

Vào tháng 8 năm 2001, sau khi kí tiếp hợp đồng với Arista, cô xuất hiện tại lễ sinh nhật lần thứ 30 của Michael Jackson. Thân hình gầy đột ngột của cô đã tiếp tục làm dấy lên những tin đồn về việc cô sử dụng thuốc phiện. Phát ngôn viên truyền thông của Whitney đã giải thích rằng: "Whitney đã bị stress vì các vấn đề gia đình, và cô đã không ăn uống gì trong khoảng thời gian căng thẳng vừa qua".[175]. Cô cũng lên lịch cho màn biểu diễn thứ hai trong buổi tối tiếp theo nhưng cuối cùng đã hủy nó.[176]

Lúc đó, Houston trở nên nổi tiếng với những đề tài nóng hổi liên quan đến vụ việc, cô thường xuyên phải hủy hết buổi hòa nhạc này đến buổi hòa nhạc khác. Sau đó khoảng vài tháng, Houston xuất hiện trước báo giới bàn luận về thuốc phiện và các chất gây nghiện nhưng cô bác bỏ hoàn toàn việc sử dụng cocaine. Thế nhưng đến tháng 3 năm 2004, cô đã không thể giữ được bí mật khi buộc phải nhập trung tâm cai nghiện. Một năm sau, Houston lại tiếp tục phải dành thời gian trong trung tâm phục hồi chức năng vì tác hại của ma túy.

Vụ kiện cha đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ không suôn sẻ giữa Whitney Houston và cha của cô, John Houston, bắt đầu vào năm 2002 khi công ty của John Houston kiện Whitney vì 100 triệu đôla - số tiền mà theo họ, họ phải vay để giúp đỡ sự nghiệp của Houston cũng như những câu chuyện thêu dệt xung quanh cuộc sống của nữ ca sĩ này[177]. Cả hai bố con đều xuất hiện trên truyền hình và chỉ trích lẫn nhau[178]. Sự việc chỉ tạm thời chấm dứt khi ông bố John Houston qua đời tháng 2 năm 2003.

Vấn đề về tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2007, tờ New York Post công bố "trong một bản báo cáo tài chính năm 2006, Houston gần như vuột mất buổi trình diễn trị giá 6 triệu đôla, 10 mẫu đất (khoảng 4 ha) tại hạt Morris vì khoản nợ hàng chục ngàn đôla tiền thuế". Bài báo sau đó cung cấp thêm nhiều thông tin chi tiết về việc Houston đã bán hàng trăm bộ cánh biểu diễn trên sân khấu tại một phiên đấu giá nhằm kiếm đủ số tiền để trả nợ. Tờ The Toronto Star thì cho biết ngày 4 tháng 1 năm 2007, đồ đạc được bán đấu giá để "che đậy những khoản phí chưa được chi trả"[179]. Còn hãng tin Reuters cũng công bố trong ngày hôm đó rằng Houston "bị buộc phải bán quần áo, nhạc cụ để trả nợ cho một cửa hàng quần áo" theo yêu cầu của tòa án cấp cao New Jersey[180] .

Houston mất quyền sở hữu khu đất ở Atlanta sau khi thế chấp hồi tháng 11 năm 2006. Cũng trong tháng đó, theo thông tin của Associated Press (AP), ngôi nhà của cô ở Mendham, New Jersey, lúc đó trị giá $5,6 triệu, cũng buộc phải bán vào tháng 1 năm 2007 vì số tiền thế chấp và thuế trị giá 1 triệu đôla chưa được bồi hoàn.

Cuộc sống gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Houston cưới ca sĩ nhạc R&B, Bobby Brown, năm 1992. Ngày 4 tháng 3 năm 1993, đôi uyên ương này vui mừng chào đón sự ra đời của cô con gái đầu lòng. Hai người đặt tên bé là Bobbi Kristina Houston Brown - một cái tên có cả họ tên của cha mẹ. Tháng 9 năm 2006, có tin đồn cho rằng cuộc hôn nhân của họ đang bên bờ vực thẳm, họ chuẩn bị ra tòa ly dị. Cuối cùng tin đồn cũng trở thành sự thật khi chính Houston là người nộp đơn lên tòa án, bắt đầu một chặng đường đầy khó khăn về mặt tinh thần. Theo đại diện của cô, Houston đã nộp đơn ly dị Brown vào ngày 8 tháng 9 năm 2006. Tuy nhiên, luật sư của Brown, Phaedra Parks, khẳng định rằng hành động trên hiện tại chỉ là ly thân chứ không thể kết luận là một bản thử nghiệm ly hôn để "chưng cầu ý dân". Trong hồ sơ ly hôn, Houston đòi quyền nuôi đứa con gái chung giữa hai người. Nhưng cuối cùng vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, tòa án cũng chấp nhận đơn xin ly hôn của cô. Vào khoảng những năm 1997 - 2006, Bobby thường xuyên đánh Whitney và dụ dỗ cô vào con đường ma túy mặc dù cô vốn là "gái ngoan" của làng âm nhạc.

Houston được toàn quyền nuôi con. Ngày 24 tháng 4 năm 2007 là ngày chính thức cuộc hôn nhân của họ kết thúc. Ngày 26 tháng 4 năm 2007, Bobby Brown cũng đệ đơn lên tòa án cấp cao quận Cam nhằm chấm dứt hoàn toàn hôn nhân với Houston. Trong hồ sơ, anh khẳng định toàn bộ cuộc hôn nhân là một sự giả dối và anh hoàn toàn có khả năng chăm sóc con. Nhưng trên thực tế, Brown hiện đang là một người vô gia cư và trong tình trạng hoàn toàn suy thoái. Phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2007.

Danh sách các đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết Album của Whitney Houston

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album dành cho dịp nghỉ lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Album live[sửa | sửa mã nguồn]

Album soundtrack[sửa | sửa mã nguồn]

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn của Whitney Houston trong danh sách sau là các đĩa đơn quán quân tại các bảng xếp hạng của Mỹ (Billboard Hot 100, Billboard R&B/Hiphop Songs, Billboard Adult Contemporary, Billboard Hot Dance Club Songs), Liên hiệp Anh (UK Singles Chart), Úc (ARIA Singles Chart) và Đức (Media Control Charts).

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng
Flag of the United States.svg Flag of the United States.svg
R&B
Flag of the United States.svg
Adult
Flag of the United States.svg
Dance
Flag of the United Kingdom.svg Flag of Australia.svg Flag of Germany.svg
1985 "You Give Good Love" 3 1 4 - 93 58 -
"Saving All My Love for You" 1 1 1 - 1 20 18
"How Will I Know" 1 1 1 3 5 2 26
1986 "Greatest Love of All" 1 3 1 - 8 1 21
1987 "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)" 1 2 1 1 1 1 1
"Didn't We Almost Have It All" 1 2 7 - 14 27 20
"So Emotional" 1 5 8 1 5 26 -
1988 "Where Do Broken Hearts Go" 1 2 1 - 14 48 -
"Love Will Save the Day" 9 5 10 1 10 77 37
"One Moment in Time" 5 5 1 - 1 54 1
1990 "I'm Your Baby Tonight" 1 1 7 17 5 6 5
"All the Man That I Need" 1 1 1 - 13 63 37
1992 "I Will Always Love You" 1 1 1 1 1 1 1
1993 "I'm Every Woman" 4 5 26 1 4 11 13
"I Have Nothing" 4 4 1 - 3 28 39
"Queen of the Night" - - - 1 14 88 64
1995 "Exhale (Shoop Shoop)" 1 1 5 - 11 18 26
1999 "Heartbreak Hotel" 2 1 - 1 25 17 61
"It's Not Right but It's Okay" 4 7 - 1 3 88 14
"My Love Is Your Love" 4 2 - 1 2 27 2
2000 "I Learned from the Best" 27 13 20 1 19 - 48
2002 "Whatchulookinat" 96 75 - 1 13 48 47
2003 "Try It on My Own" 84 80 10 1 - - -
"Love That Man" - - - 1 - - -
2009 "Million Dollar Bill" 100 16 - 1 5 - 41
Tổng Quán quân 11 8 9 14 4 3 3

Danh sách tour diễn và các buổi hòa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các buổi hòa nhạc phát sóng trên TV[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các phim và chương trình truyền hình đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các chương trình truyền hình đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2010, Whitney đã giành được 415 giải thưởng trong tổng số 562 đề cử.[182]. Dưới đây là danh sách cụ thể một số giải thưởng lớn của cô.

Giải thưởng và đề cử của Whitney Houston
Các giải thưởng lớn Số lần đoạt giải Số lần đề cử
Giải thưởng âm nhạc Mĩ (American Music Awards)
22 38
Giải Billboard Music Awards
31 66
Giải Emmy (Emmy Awards)
1 2
Giải Grammy (Grammy Awards)
7 26
Kỉ lục Guinness (Guinness World Records)
3 3
Giải NAACP Image Awards
19 34
Giải People's Choice Awards
6 9
Giải Soul Train Music Awards
8 16
Giải thưởng âm nhạc thế giới (World Music Awards)
6 6
Chứng nhận của RIAA
108
Chứng nhận của Music Canada
42
Chứng nhận của BPI
62
Chứng nhận của RIAJ
11
Tổng
Số giải thưởng đoạt được 415+
Số đề cử Không thể đếm được

Các giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử Tác phẩm được đề cử Kết quả
1986 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất Saving All My Love for You[183][184] Đoạt giải
1986 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất You Give Good Love[183][185] Đề cử
1986 Album của năm Whitney Houston[183][186] Đề cử
1987 Thu âm của năm Greatest Love of All[187][188] Đề cử
1988 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)[189] Đoạt giải
1988 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Didn't We Almost Have It All[190] Đề cử
1988 Album của năm Whitney[191] Đề cử
1989 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất One Moment in Time[192][193] Đề cử
1990 Trình diễn giọng R&B nhóm/tập thể xuất sắc nhất It Isn't, It Wasn't, It Ain't Never Gonna Be[194] Đề cử
1991 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I'm Your Baby Tonight[195] Đề cử
1992 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất All The Man That I Need[196][197] Đề cử
1993 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Belong To You Đề cử
1994 Album của năm The Bodyguard: Original Soundtrack Album Đoạt giải
1994 Thu âm của năm I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I'm Every Woman Đề cử
1997 Album của năm Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album Đề cử
1997 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất Count On Me (với Cece Winans) Đề cử
1997 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Exhale (Shoop Shoop) Đề cử
1997 Bài hát hay nhất được viết cho phim hoặc chương trình truyền hình Count On Me Đề cử
1998 Album R&B xuất sắc nhất The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album Đề cử
1998 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Believe In You And Me Đề cử
2000 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất It's Not Right but It's Okay Đoạt giải
2000 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất When You Believe (với Mariah Carey) Đề cử
2000 Album R&B xuất sắc nhất My Love Is Your Love Đề cử
2013 Tòa nhà danh vọng của giải Grammy Whitney Houston Được ghi danh

Các giải thưởng âm nhạc thế giới (World Music Awards)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Người được đề cử Kết quả
1994 Nghệ sĩ bán được nhiều bản thu âm nhất thế giới Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ Pop bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ R&B bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ Mỹ bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nữ nghệ sĩ bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới của kỷ nguyên Whitney Houston Đoạt giải
2004 Giải thưởng huyền thoại (Legend Award) Whitney Houston Đoạt giải

Các giải Emmy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Tác phẩm được đề cử Kết quả
1986 Màn trình diễn xuất sắc nhất trước công chúng/trong một chương trình âm nhạc Màn trình diễn tại giải Grammy lần thứ 28 (ca khúc Saving All My Love for You) Đoạt giải
1998 Sản phẩm/Chương trình ca nhạc xuất sắc nhất Rodgers & Hammerstein's Cinderella Đề cử

Các kỉ lục Guinness[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Người được đề cử Kết quả
2006 Ca sĩ có số lượng đĩa đơn liên tiếp đứng đầu các bảng xếp hạng tại Mĩ nhiều nhất Whitney Houston Đoạt giải
2006 Nghệ sĩ được trao nhiều giải thưởng nhất/có ảnh hưởng rộng nhất mọi thời đại Whitney Houston Đoạt giải
2012 Ca sĩ có nhiều hit liên tiếp nhất tại Vương quốc Anh Whitney Houston Đoạt giải

Giải thưởng điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải MTV Movie Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Phim Vai diễn trong phim Kết quả
1993 Diễn xuất của diễn viên nữ xuất sắc nhất The Bodyguard Rachel Marron Đề cử
1993 Diễn xuất có bước đột phá nhất The Bodyguard Rachel Marron Đề cử
1993 Hợp tác trong phim xuất sắc nhất (cùng Kevin Costner) The Bodyguard Rachel Marron Đề cử

Các giải NAACP Image Award[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Phim Vai diễn trong phim Kết quả
1996 Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh Waiting to Exhale Savannah Jackson Đề cử
1997 Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh The Preacher's Wife Julia Biggs Đoạt giải
1998 Sê-ri phim truyền hình xuất sắc nhất Rodgers & Hammerstein's Cinderella Fairy Godmother Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Encyclopedia of African American history, 1896 to the present: from the age of segregation to the twenty-first century. Oxford University Press; 2009. ISBN 978-0-19-516779-5. p. 459–460.
  2. ^ Dobuzinskis, Alex (ngày 15 tháng 9 năm 2009). “Whitney Houston says she is "drug-free". Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ Sullivan, Caroline (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Whitney Houston obituary”. The Guardian. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  5. ^ a ă The Prom Queen of Soul. ngày 13 tháng 7 năm 1987 [Retrieved ngày 17 tháng 3 năm 2007]. Time Inc..
  6. ^ a ă Bản mẫu:Vcite episode
  7. ^ "Saving All My Love for You"; "How Will I Know"; "Greatest Love of All"; "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)"; "Didn't We Almost Have It All"; "So Emotional" và "Where Do Broken Hearts Go" và được chứng nhận bởi Sách kỉ lục Guiness
  8. ^ Whitney HoustonThe Bodyguard: Original Soundtrack Album
  9. ^ a ă â b AllMusic. Whitney Houston biography; 2006 [Retrieved ngày 13 tháng 4 năm 2009].
  10. ^ Whitney Houston Biography [Retrieved ngày 17 tháng 3 năm 2011].
  11. ^ “Whitney Houston: Cocaine in system not a fatal dose, expert says”. Los Angeles Times. Ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ Christopher, Tommy (ngày 13 tháng 2 năm 2012). “Howard Kurtz Asks If Whitney Houston's Death 'Is Worth' Intense News Coverage”. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nytimesobit
  14. ^ Notable Black American women. VNR AG; 1996. ISBN 978-0-8103-9177-2. p. 304–305.
  15. ^ "Top 10 Things You May Not Know About Whitney Houston". ABC. February 16, 2012. Truy cập November 4, 2012.
  16. ^ “Michael Houston 'Devastated' At Death Of Sister”. Entertainment Wise. 12 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Visionary Project Video Interview (bottom of page) -Cissy Houston: My Family, go to the 1:00 mark. September 2, 2009 [Retrieved February 11, 2012].
  18. ^ Whitney's godmother: 'She was a light'. Nancy Grace spoke with Whitney Houston's godmother and Rock and Roll Hall of Fame singer Darlene Love.. February 13, 2012 [Retrieved February 17, 2012].
  19. ^ The Detroit News. Aretha Franklin recalls meeting a young Whitney Houston [Retrieved February 18, 2012].
  20. ^ Whitney Houston Sings Her Way to Stardom. Johnson Publishing Company; August 26, 1985. p. 59.
  21. ^ The Detroit News. Aretha Franklin recalls meeting a young Whitney Houston [Retrieved February 18, 2012].
  22. ^ Whitney Houston. Chelsea House Publishers; January 1998. ISBN 978-0-7910-4456-8. p. 21.
  23. ^ Whitney & Bobby – Addicted to Love. September 2005 [Retrieved March 17, 2007]. Vibe Magazine.
  24. ^ Jet. Johnson Publishing Company; February 17, 1986. p. 59.
  25. ^ Vibe. Vibe Media Group; June 2007 [Truy cập February 13, 2012]. p. 78.
  26. ^ Whitney Houston: Down and Dirty. Rolling Stone; Jann S. Wenner, editor and publisher. June 10, 1993 [Retrieved March 17, 2007].
  27. ^ a ă The Billboard book of number 1 hits. Random House Digital, Inc.; October 1, 2003. ISBN 978-0-8230-7677-2. p. 629.
  28. ^ a ă â b Singer Whitney Houston a Model of Success. Johnson Publishing Company; July 16, 1990. p. 32.
  29. ^ Whitney and Cissy Houston on the Joys and Worries of Motherhood. Johnson Publishing Company; May 1995 [Truy cập February 15, 2012]. p. 30–.
  30. ^ a ă â The Soul of Whitney. December 2023 [Retrieved February 15, 2008]. Essence Magazine.
  31. ^ a ă Salon.com. Didn't She Almost Have It All; April 13, 2006 [Retrieved December 12, 2007].
  32. ^ RobertChristgau.com. Material she was a great song writer [Retrieved December 12, 2007].
  33. ^ “Paul”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tiêu đề=|title= (trợ giúp)
  34. ^ Girl. Johnson Publishing Company; June 1990. p. 136.
  35. ^ Ebony. Johnson Publishing Company; December 1985. p. 155.
  36. ^ a ă The Long Road To Overnight Stardom. Billboard. December 1986 [Retrieved March 17, 2007].
  37. ^ Love”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tiêu đề=|title= (trợ giúp)
  38. ^ Arista Aims New Houston Album at 'Core Urban' Fans. Nielsen Business Media, Inc.; December 14, 2002. p. 64.
  39. ^ Music Review: Whitney Houston; June 6, 1985 [Retrieved March 17, 2011].
  40. ^ “CRITICS' CHOICES; Pop Music”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  41. ^ Whitney Houston's Success Is Global. Nielsen Business Media, Inc.; June 8, 1985 [Truy cập February 13, 2012]. p. 54.
  42. ^ Houston Hits: Master Plan, Blind Luck. Los Angeles Times. June 8, 1986 [Retrieved October 28, 2011]. Tribune Company.
  43. ^ Bản mẫu:Vcite episode[liên kết hỏng]
  44. ^ a ă Charts '86. Nielsen Business Media, Inc.; December 27, 1986. p. 52.
  45. ^ Recording Industry Association of America. Gold & Platinum – Top 100 Albums [Retrieved June 13, 2010].
  46. ^ a ă Recording Industry Association of America. RIAA Certification Searchable Database; July 29, 1999 [Retrieved January 13, 2010].
  47. ^ Jet. Johnson Publishing Company; January 27, 1986. p. 57.
  48. ^ Dire Straits Tops List for Grammy's; We are the World Wins 6 Nominations. The Washington Post. January 10, 1986 [Retrieved March 17, 2007].
  49. ^ Jet. Johnson Publishing Company; March 17, 1986. p. 14.
  50. ^ Jet. Johnson Publishing Company; October 13, 1986. p. 16.
  51. ^ Jet. February 17, 1986:56. Johnson Publishing Company.
  52. ^ Whitney Houston: Why Success Won't Go to Her Head. Jet. February 16, 1987:58. Johnson Publishing Company.
  53. ^ The Rolling Stone 500 Greatest Albums of All Time. November 18, 2003 [archived 2010-12-20; Retrieved March 17, 2011]. Wenner Media, LLC.
  54. ^ The Rock & Roll Hall of Fame. The Definitive 200; 2007 [archived January 13, 2008; Retrieved January 15, 2008].
  55. ^ 25 years of memorable musical moments. USA Today. June 18, 2007 [Retrieved January 1, 2008].
  56. ^ Houston Tops New Wave of Women With Pop Punch Aplenty. August 30, 1987 [Retrieved March 5, 2008]:11. Orlando Sentinel.
  57. ^ Anita Baker: 'Most Powerful Black Woman Singer of 80s'. San Francisco Chronicle. February 1, 1987 [Retrieved March 5, 2008]:44.
  58. ^ Wenner Media, LLC. Review: Whitney; August 13, 1987 [Retrieved March 16, 2011].
  59. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; May 2, 1988. p. 54.
  60. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; May 13, 2000. p. 104.
  61. ^ Recording Industry Association of America. Gold & Platinum search results; November 29, 1995 [Retrieved June 13, 2010].
  62. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 1, 1988. p. 56.
  63. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; March 21, 1988. p. 52.
  64. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 15, 1988. p. 60.
  65. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 20, 1989. p. 55.
  66. ^ Showtime: Jackson is top winner at Soul Train Awards. The Washington Afro American. April 5, 1988 [Retrieved June 28, 2010]:6C. African-American News & Information Consortium.
  67. ^ MacDonald, Patrick. "U2, Bon Jovi were top concert acts of 1987". The Seattle Times. January 15, 1988. Page 5. Retrieved May 16, 2008.
  68. ^ a ă Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 28, 1987. p. 52–53.
  69. ^ a ă Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; June 20, 1988. p. 59.
  70. ^ Diva Will Always Love Limelight. The Scotsman (Edinburgh, UK). August 23, 2009 [Retrieved January 12, 2010].
  71. ^ Pop Music's Homage to Mandela. The New York Times. June 13, 1988.
  72. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 19, 1988. p. 54.
  73. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 12, 1988. p. 59.
  74. ^ number-ones.co.uk. 1988 UK Number Ones [Retrieved January 12, 2010].
  75. ^ charts.de. October 24, 1988 Single Top 100; October 24, 1988 [Retrieved January 12, 2010].
  76. ^ "Forbes Names Jackson as the Best-Paid Star 5 Women, 3 Boxers on List of 40 Celebrities". Los Angeles Times. September 19, 1988. Page 2.
  77. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; October 3, 1988. p. 12.
  78. ^ Whitney Houston Foundation for Children
  79. ^ Johnson Publishing Company. Ebony. Johnson Publishing Company; May 1991. p. 112.
  80. ^ Ralph M. Jr., "Interview with Whitney Houston", Dateline NBC, December 10, 1996 (transcript available at whitney-fan.comarchive)
  81. ^ Wenner Media, LLC. Review: I'm Your Baby Tonight; January 10, 1991 [Retrieved March 16, 2011].
  82. ^ Browne, David. Time Warner. Music Review: I'm Your Baby Tonight; November 23, 1990 [Retrieved March 16, 2011].
  83. ^ a ă Pop View; Caution: Now Entering The War Zone. The New York Times. February 24, 1991 [Retrieved October 5, 2008].
  84. ^ a ă Luchina Fisher, Sheila Marikar (3 tháng 2 năm 2009). “Hudson's Super Bowl Lip-Sync No Surprise to Insiders”. ABCNews.com. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  85. ^ “Was Whitney live, or was she Memorex?”. The Daily Gazette Co. Associated Press. 5 tháng 3 năm 1991. tr. A6. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  86. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 18, 1991. p. 31.
  87. ^ Steven Otfinoski. African Americans in the performing arts. Infobase Publishing; April 1, 2010 [Truy cập February 12, 2012]. ISBN 978-0-8160-7838-7. p. 116–.
  88. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; June 17, 1991. p. 37.
  89. ^ Blair, Tom. "The village verbiage collector". The San Diego Union. May 23, 1991. Page B1.
  90. ^ Jennifer Hudson delivers on Super Bowl stage. The Washington Times. February 2, 2009 [Retrieved March 27, 2011]. News World Media Development.
  91. ^ VH1. 100 Greatest Moments That Rocked TV (20–1).
  92. ^ Bản mẫu:Vcite press release
  93. ^ Recording Industry Association of America. Gold & Platinum – Search Results for "The Star Spangled Banner" single and its video single; April 11, 1991 / October 3, 2001 [Retrieved March 17, 2011].
  94. ^ Smith, Patricia. "Mom, apple pie and Whitney Houston in concert for troops". The Boston Globe April 1, 1991.
  95. ^ Hodges, Anne. "Hope opens his home to U.S. troops". Houston Chronicle April 6, 1991.
  96. ^ “Behind the glitter and glitz, the real Dolly Parton shines”. Seattle Pi. 
  97. ^ 19 tháng 3 năm 1993/entertainment/9303200374_1_pop-singles-chart-albums-chart-r-b-singles-list “Houston Still Plugged In As Contender”. Chicago Tribune. 
  98. ^ Today, USA (ngày 5 tháng 10 năm 1994). “Greeting Mandela with elegance and esteem”. Gannett Company, Inc.. 
  99. ^ “White House Lionizes Mandela.”. The Free Lance–Star Publishing Company. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 1994.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  100. ^ “Gold & Platinum search results”. RIAA. Truy cập Retrieved ngày 13 tháng 6 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  101. ^ “Answers to readers' questions about the 'Grease' Soundtrack, Whitney Houston and Crossfade.”. 
  102. ^ "Billboard 1996 The Year in Music, Year-End Chart listing of Hot Adult Contemporary Artists, Hot Adult Contemporary Singles & Tracks and Top Soundtrack Albums"”. Billboard. 
  103. ^ “Billboard”. Google Books. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  104. ^ “Billboard”. Google Books. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  105. ^ “The 71st Academy Awards1999”. Oscars.org Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  106. ^ “1999 MTV Video Music Awards”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  107. ^ “Past Winners Search”. The GRAMMYs. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  108. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  109. ^ Whitney Houston Billboard chart history [Retrieved October 29, 2011].
  110. ^ The Official Charts Company. Artist Chart History: Whitney Houston [Retrieved October 29, 2011].
  111. ^ “The Greatest Voice of All - Whitney Houston my love is your love”. Vibe Media Group.: 60. Tháng 4 năm 1999. 
  112. ^ Aletti, Vince. 8 tháng 12 năm 1998/music/look-who-s-ticking/ “Look Who's Ticking”. The Village Voice Music. Truy cập 8 tháng 12 năm 1988.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  113. ^ “Whitney Houston World Tour '99 Becomes Europe's Highest Grossing Arena Tour of the Year”. all Business. Truy cập 19 tháng 10 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  114. ^ “The American Recording Industry Announces its Artists of the Century”. RIAA. Truy cập 10 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  115. ^ “TLC Nominated For Three Soul Train Music Awards”. MTV News. Truy cập 11 tháng 2 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  116. ^ “TLC Rides Soul Train”. Billboard: 20. 18 tháng 3 năm 2000. 
  117. ^ “Entertainment Dublin gears up for MTV show”. BBC News. Truy cập 11 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  118. ^ “Spears Tops 1999 MTV Europe Music Awards”. Billboard. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  119. ^ “Bono Honored As Britney Spears Dominates MTV Europe Awards”. MTV News. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  120. ^ 23 tháng 6 năm 2000/entertainment/0006220426_1_dvd-arista-houston “Houston's Latest 'Hits' Is Full Of Lots Of Little Extras”. Truy cập 23 tháng 6 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  121. ^ “Whitney: The Greatest Hits review”. All Music. 
  122. ^ “Artist Chart History: Whitney Houston”. The Official Charts Company. Truy cập 29 tháng 10 năm 2011. 
  123. ^ “The Billboard 200 chart listing for the week of ngày 3 tháng 6 năm 2000”. Billboard: 116. 3 tháng 6 năm 2000. 
  124. ^ “Hits of the World”. Billboard: 88. 17 tháng 6 năm 2000. 
  125. ^ “RIAA Gold & Platinum searchable database”. RIAA. 
  126. ^ “Florida Orchestra Sues Arista Over Anthem”. Billboard. Truy cập 17 tháng 12 năm 2001. 
  127. ^ “The Essential Whitney Houston CD”. Amazon. Truy cập 12 tháng 1 năm 2012. 
  128. ^ “David LaChapelle: 'Fashion, beauty and glamour are the mark of civilisation'. The Guardian. Truy cập 19 tháng 2 năm 2012. 
  129. ^ “Whitney Houston Signs $100 Million Contract With Arista Records”. Jet: 18. 20 tháng 8 năm 2001. 
  130. ^ “The Rolling Stone Report”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  131. ^ “Arista Aims New Houston Album At 'Core Urban' Fans”. Billboard: Bìa trước. 14 tháng 12 năm 2002. 
  132. ^ a ă “Review by Jose F. Promis”. All Music. 
  133. ^ “Eagles top UK album chart”. Music Week. Truy cập 5 tháng 11 năm 2007. 
  134. ^ “Whitney Houston Albumguide”. Rolling Stone. 
  135. ^ “Vibe Media Group”. Vibe: 186. Tháng 9 năm 2003. 
  136. ^ “Just Whitney - Music Guide”. wikimusicguide.com. 
  137. ^ “NEWS - Whitney Houston's 'Just Whitney' On Track For Huge Opening Week”. classicwhitney.com. Truy cập 12 tháng 12 năm 2002. 
  138. ^ “Album artist 37 - Whitney Houston”. tsort.ìno. Truy cập 5 tháng 11 năm 2014. 
  139. ^ Bain, Becky. “Whitney Houston Was In Debt At Time Of Death, Owes Sony Millions”. idolator.com. Truy cập 1 tháng 3 năm 2012. 
  140. ^ “Allmusic - Just Whitney”. Allmusic. Truy cập 28 tháng 9 năm 2010. 
  141. ^ Caramanica, Jon. “Just Whitney”. Rolling Stone. Truy cập 30 tháng 12 năm 2002. 
  142. ^ “Just Whitney”. metacritic.com. Truy cập 10 tháng 12 năm 2002. 
  143. ^ “Whitney Houston Starts Work on New Album Today”. Fox News. 13 tháng 1 năm 2007. Truy cập 13 tháng 1 năm 2010. 
  144. ^ “Whitney Houston - The Ultimate Collection CD”. Amazon. 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập 11 tháng 2 năm 2011. 
  145. ^ "Whitney Houston to Tell All On Oprah" CBS, ngày 20 tháng 8 năm 2009
  146. ^ “Houston Details Drug Use: 'We Laced Marijuana With Rock Cocaine'”. Contactmusic.com. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  147. ^ Nekesa Mumbi Moody (Associated Press), "Whitney Houston, pop superstar, dies in Beverly Hills hotel"[liên kết hỏng] The Globe and Mail, ngày 11 tháng 2 năm 2012
  148. ^ Voice of America. 9 tháng 6 năm 2009-voa47.cfm Whitney Houston Album Due Out Sept. 1; 'American Idol' Auditions Kick Off; ngày 9 tháng 6 năm 2009 [9 tháng 6 năm 2009-voa47.cfm archived ngày 10 tháng 6 năm 2009; Retrieved ngày 13 tháng 1 năm 2010].
  149. ^ “Whitney Houston's weird performance on The X Factor gives her top five hit”. The Telegraph. 20 tháng 10 năm 2009. 
  150. ^ “Nearly 15m watch X Factor as Cheryl Cole performs solo single (apart from the bits she mimed)”. Mail Online. 20 tháng 10 năm 2009. 
  151. ^ “Whitney Houston sparkles on Italian X Factor”. Metro. 22 tháng 10 năm 2009. 
  152. ^ “Whitney Conquers Italy - Again!”. Whitney Houston. 21 tháng 10 năm 2009. 
  153. ^ 'I Look to You' Album Certified Platinium”. Whitney Houston. 1 tháng 12 năm 2009. 
  154. ^ "Whitney Houston" 25th Anniversary”. Whitney Houston. 20 tháng 11 năm 2009. 
  155. ^ “This just in: Whitney Houston disappoints in Australia, Charlie Sheen enters rehab, Placido Domingo to undergo surgery”. The Washington Post. 24 tháng 2 năm 2010. 
  156. ^ “Whitney cancels more shows”. ITN. 24 tháng 2 năm 2010. 
  157. ^ “Whitney Houston Postpones Paris Show Due To Illness”. Billboard. 24 tháng 2 năm 2010. 
  158. ^ “Houston eyes will.i.am collaboration”. Digital Spy. 6 tháng 4 năm 2010. 
  159. ^ “Whitney Houston in Talks to Star Alongside Jordin Sparks in 'Sparkle' Remake”. Billboard. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  160. ^ “Whitney Houston circling 'Sparkle' musical remake with Jordin Sparks”. Entertainment Weekly. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  161. ^ “Whitney Houston in Talks to Star in Music-Themed Drama 'Sparkle' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  162. ^ “Cee-Lo Green joins ‘Sparkle' cast”. Variety. Truy cập 23 tháng 9 năm 2011. 
  163. ^ “Sony dates a trio of pics”. Variety. Truy cập 8 tháng 12 năm 2011. 
  164. ^ “Volledige naam”. Twitter. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  165. ^ “WORLD PREMIERE: Whitney Houston & Jordin Sparks Duet ‘Celebrate’ From ‘Sparkle’ [AUDIO]”. ryanseacrest.com. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  166. ^ “Havin a fun day/nite on#celebrate video”. Twitter. Truy cập 30 tháng 5 năm 2012. 
  167. ^ “Guys!!! Don't forget! TONIGHT”. Twitter. Truy cập 4 tháng 6 năm 2012. 
  168. ^ “Whitney Houston biography”. Rolling Stone. Truy cập 12 tháng 2 năm 2012. 
  169. ^ “Whitney Houston Gets Bad Press”. The Washington Post. Truy cập 6 tháng 4 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  170. ^ “Fears for Whitney Houston grows”. TCM Breaking News. Truy cập 11 tháng 9 năm 2001. 
  171. ^ “Whitney Insider Tells of Drug Use, Failed Intervention”. Rolling Stone. Truy cập 7 tháng 6 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  172. ^ 23 tháng 12 năm 2004#celeb5 “Houston was replaced at that Oscar telecast by singer Faith Hill.”. IMDB. Truy cập 23 tháng 12 năm 2004. 
  173. ^ “Transcript: Whitney Houston: 'I'm a Person Who Has Life'. abc News. Truy cập 13 tháng 2 năm 2012. 
  174. ^ “The Rolling Stone Money Report: The pop stars who earned the most last year – and how they did it”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  175. ^ “Reports of Whitney Houston's Death Denied”. abc News. Truy cập 13 tháng 9 năm 2001. 
  176. ^ “In Switch, Whitney Houston has to sell an Album”. The New York Times. Truy cập 11 tháng 9 năm 2002. 
  177. ^ "'Celebrity Justice' Producer Discusses Whitney Houston Trial", CNN, ngày 5 tháng 12 năm 2002.
  178. ^ Transcript of Primetime Live feature, ABC, ngày 4 tháng 12 năm 2002; hosted at fan site Whitney-Fan.com
  179. ^ “Cash-strapped Houston to auction memorabilia Toronto Star”. thestar.com. 3 tháng 1 năm 2007. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  180. ^ 3 tháng 1 năm 2007T221146Z_01_N03276278_RTRIDST_0_PEOPLE-HOUSTON-AUCTION-DC.XML “Business & Financial News, Breaking US & International News”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  181. ^ “Album diễn live đầu tiên của Whitney Houston”. Công an thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 
  182. ^ “All Of Whitney Houston’s Awards And Accomplishments”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2014. 
  183. ^ a ă â “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1986”. Wikipedia. 
  184. ^ “28th Annual Grammy Awards Final Nominations”. Billboard: 64, 73. 25 tháng 1 năm 1986. 
  185. ^ 26 tháng 2 năm 1986/entertainment/ca-350_1_28th-annual-grammy-awards “28th Annual Grammys A 'World'-class Event”. Los Angeles Times. Truy cập 26 tháng 2 năm 1986.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  186. ^ “NARAS to Clive: We Stand Pat, Whitney's not a new artist”. Billboard: 74. 25 tháng 1 năm 1986. 
  187. ^ “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1987”. Wikipedia. 
  188. ^ 9 tháng 1 năm 1987/entertainment/ca-2676_1_record-category “GRAMMY NOMINATIONS: HIGHS AND LOWS: Winwood, Gabriel and Simon Garner Most Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 9 tháng 1 năm 1987.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  189. ^ 15 tháng 1 năm 1988/entertainment/ca-24178_1_michael-jackson “U2, Jackson Top Grammy Nominees: Simon, Winwood Seek Reprise of '87 Wins”. Los Angeles Times. Truy cập 15 tháng 1 năm 1988.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  190. ^ 3 tháng 3 năm 1988/news/mn-324_1_paul-simon/2 “U2, Paul Simon Winners of Major Grammy Awards”. Los Angeles Times. Truy cập 3 tháng 3 năm 1988.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  191. ^ “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1988”. Wikipedia. 
  192. ^ 13 tháng 1 năm 1989/entertainment/ca-306_1_tracy-chapman/2 “Chapman, McFerrin Lead Grammy Race: Baker, Sting, Michael, Winwood Also Capture Mutliple Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 13 tháng 1 năm 1989.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  193. ^ “Grammys to McFerrin and Chapman”. The New York Times. Truy cập 23 tháng 2 năm 1989.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  194. ^ 12 tháng 1 năm 1990/entertainment/ca-71_1_rock-vocal-award/2 “The Grammys, Round 1: Pop Music: Rock 'n' roll veterans lead pack of recording industry awards nominees.”. Los Angles Times. Truy cập 12 tháng 1 năm 1990.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  195. ^ “List of 33rd Grammy Awards Nominations”. The Times News: 24. 11 tháng 1 năm 1991. 
  196. ^ 9 tháng 1 năm 1992/entertainment/ca-2226_1_chicago-symphony-orchestra “The Grammy Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 9 tháng 1 năm 1992.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  197. ^ “34th Grammy Awards are set for Tuesday”. 22 tháng 2 năm 1992. 


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]