Whitney Houston

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Whitney Houston
Whitney Houston Welcome Home Heroes 1 cropped.jpg
Houston biểu diễn trong Welcome Home Heroes with Whitney Houston vào năm 1991
Sinh Whitney Elizabeth Houston
9 tháng 8, 1963(1963-08-09)
Newark, New Jersey, Hoa Kỳ
Mất 11 tháng 2, 2012 (48 tuổi)
Beverly Hills, California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mất Đuối nước do Sử dụng thuốc phiện
Nơi an nghỉ Fairview Cemetery, Westfield, New Jersey, Hoa Kỳ
Công việc
  • Ca sĩ
  • Nhạc sĩ
  • Nghệ sĩ thu âm
  • Người mẫu
  • Diễn viên
  • Nhà sản xuất âm nhạc
  • Nhà sản xuất phim
  • Dẫn chương trình
Tôn giáo Baptist
Vợ (chồng) Bobby Brown (kết hôn  1992–2007) «start: (1992)–2007 (2007-end+1:)»"Hôn nhân: Bobby Brown đến Whitney Houston" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Whitney_Houston)
Con cái Bobbi Kristina Brown
Cha mẹ John Russell Houston, Jr.
Cissy Houston
Người thân Gary Garland (anh trai)
Dionne Warwick (chị họ)
Dee Dee Warwick (chị họ)
Leontyne Price (chị họ)
Damon Elliott (cháu trai)
Giải thưởng Danh sách giải thưởng và để cử
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • piano
Năm hoạt động 1977–2012
Hãng đĩa
Hợp tác với
Chữ ký Whitney's Signature.png
Website
whitneyhouston.com

Whitney Elizabeth Houston (9 tháng 8, 1963 – 11 tháng 2, 2012) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, diễn viên, nhà sản xuất phimngười mẫu người Mỹ gốc Phi. Năm 2009, Sách kỉ lục Guiness đã ghi danh cô là "Nữ nghệ sĩ đạt nhiều giải thưởng nhất mọi thời đại".[1] Houston là một trong số các nghệ sĩ nhạc pop có doanh số bán đĩa cao nhất mọi thời đại, với khoảng 170-200 triệu bản thu âm được tiêu thụ trên toàn cầu.[2][3] Trong toàn bộ sự nghiệp, cô đã phát hành 6 album phòng thu, 1 album ngày lễ và 3 album nhạc phim, và tất cả đều được chứng nhận vàng, bạch kim, đa-bạch kim hoặc kim cương. Tiếng vang của Houston trên các bảng xếp hạng âm nhạc đại chúng, cũng như sự nổi danh của cô trên MTV, khởi đầu từ video âm nhạc của ca khúc "How Will I Know",[4] đã gây ảnh hưởng tới các nữ nghệ sĩ Người Mỹ gốc Phi theo chân sự thành công của cô.[5][6]

Houston là nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có được bảy đĩa đơn liên tiếp đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100.[7] Cô cũng là nghệ sĩ thứ hai sau Elton John và là nữ nghệ sĩ duy nhất đạt được 2 album quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 cuối năm (trước đây là "Top Pop Albums") trong ấn bản phát hành cuối năm của tạp chí Billboard.[8] Album đầu tay của cô, Whitney Houston, phát hành năm 1985 và trở thành album đầu tay bán chạy nhất mọi thời đại của một nữ nghệ sĩ.[9] Tạp chí Rolling Stone đã xếp đây là album hay nhất năm 1986, và xếp album ở vị trí 254 trong danh sách 500 album vĩ đại nhất mọi thời đại.[9] Album phòng thu thứ hai của cô, Whitney (1987), trở thành album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200.[9]

Vai diễn chạm ngõ điện ảnh của Houston là một ngôi sao trong bộ phim điện ảnh The Bodyguard (1992). Album nhạc phim cho bộ phim đã thắng Giải Grammy cho Album của năm vào năm 1994. Đĩa đơn chủ đạo từ album, "I Will Always Love You", trở thành đĩa đơn bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ trong lịch sử âm nhạc. Với album, Houston trở thành nghệ sĩ đầu tiên (hát đơn hoặc ban nhạc, nam hoặc nữ) bán ra hơn một triệu bản album trong một tuần kể từ khi Nielsen SoundScan bắt đầu theo dõi doanh số.[9] Album cũng giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ có album đạt vị trí cao nhất trong top 10 của danh sách album bán chạy nhất mọi thời đại, ở vị trí thứ 3. Houston tiếp tục đóng vai chính trong các bộ phim kế tiếp và tham gia thực hiện phần nhạc phim cho các phim đó, trong đó có Waiting to Exhale (1995), The Preacher's Wife (1996). Nhạc phim của bộ phim The Preacher's Wife trở thành album thuộc thể loại gospel bán chạy nhất mọi thời đại.[10]

Vào ngày 11 tháng 2, 2012, Houston được phát hiện đã chết ở phòng khách của cô trong khách sạn Beverly Hilton, tại Beverly Hills, California. Báo cáo chính thức của nhân viên điều tra đã chỉ ra cô đã bị tai nạn đuối nước trong bồn tắm, với nguyên nhân là do cơn đau tim và sử dụng thuốc phiện.[11] Tin tức về cái chết của cô trùng hợp với lễ trao Giải Grammy 2012, khi cô qua đời trước buổi lễ đúng 1 ngày, đã gây chấn động truyền thông nước Mỹ cũng như trên thế giới.[12]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1963 – 1984: Thơ ấu và buổi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ New Hope Baptist

Whitney Houston sinh ngày 9 tháng 8, 1963 tại một vùng lân cận có thu nhập trung bình gần Newark, New Jersey.[13] Cô là con gái của một người từng phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ, đồng thời cũng là nhà điều hành giải trí John Russell Houston, Jr. (13 tháng 9, 1920 – 2 tháng 2, 2003), và ca sĩ nhạc phúc âm Emily "Cissy" (Drinkard) Houston.[14] Anh trai của cô, Michael, là một ca sĩ, và một người anh trai khác của cô, Gary Garland, là cựu cầu thủ bóng rổ.[15][16] Cha mẹ cô đều là những người Mỹ gốc Phi, và cô cũng được cho là một người Mỹ bản xứngười có gốc Hà Lan.[17] Thông qua mối quan hệ với mẹ cô, Houston là em họ đầu tiên của hai ca sĩ Dionne WarwickDee Dee Warwick. Darlene Love là mẹ đỡ đầu của cô,[18] và người dì danh dự của cô là Aretha Franklin,[19][20] người cô từng gặp khi mẹ cô dẫn cô vào một phòng thu âm năm cô 8-9 tuổi.[21] Houston lớn lên theo tôn giáo Baptist, nhưng cũng từng được đến các nhà thờ Ngũ Tuần. Sau Vụ bạo loạn năm 1967 ở Newark, gia đình cô chuyển đến một vùng có thu nhập trung bình ở East Orange, New Jersey, năm cô lên 4 tuổi.[22]

Vào năm 11 tuổi, Houston bắt đầu biểu diễn như một người hát solo trong dàn hợp xướng phúc âm thiếu nhi tại Nhà thờ New Hope Baptist ở Newark, nơi mà cô đã học chơi piano.[23] Ca khúc đầu tiên cô biểu diễn solo ở đây là "Guide Me, O Thou Great Jehovah".[24] Khi Houston bước vào tuổi vị thành niên, cô học tại trường Mount Saint Dominic Academy, một trường nữ sinh Công giáo ở Caldwell, New Jersey, nơi cô gặp người bạn thân Robyn Crawford mà sau này được cô miêu tả như "một người chị gái cô chưa từng có".[25] Trong khi vừa đi học, cô vừa được mẹ dạy hát.[5] Houston được tiếp xúc với âm nhạc của Chaka Khan, Gladys Knight, và Roberta Flack, đa phần trong số học đều gây ảnh hưởng nhất định đến cô trong vai trò một ca sĩ và một người biểu diễn.[26]

Houston dành phần lớn những năm tháng vị thành niên lưu diễn tại các câu lạc bộ đêm, nơi Cissy biểu diễn, và cô thi thoảng cũng lên sân khấu và biểu diễn chung cùng mẹ. Năm 1977, khi cô 14 tuổi, cô trở thành một ca sĩ hát đệm cho đĩa đơn "Life's a Party" của Michael Zager Band.[27] Một năm sau, Houston tiếp tục hát đệm cho bản hit "I'm Every Woman" của Chaka Khan, ca khúc mà sau này cũng trở thành một hit lớn hơn của cô trong album nhạc phim bán chạy nhất, The Bodyguard.[28][29] Cô cũng tham gia hát đệm cho các album của Lou RawlsJermaine Jackson.[28]

Đầu những năm 1980, Houston bắt đầu trở thành một người mẫu thời trang sau khi một nhiếp ảnh gia chứng kiến cô hát cùng mẹ tại Carnegie Hall. Cô từng xuất hiện trên tạp chí Seventeen[30] và trở thành một trong số những nữ người mẫu da màu đầu tiên xuất hiện trên bìa tạp chí này.[31] Cô cũng xuất hiện trong các mẫu thiết kế trên tạp chí Glamour, Cosmopolitan, Young Miss, và trong một quảng cáo đồ uống nhẹ của hãng Canada Dry trên truyền hình.[28] Vẻ ngoài và sự quyến rũ như của một cô gái hàng xóm đã giúp cho cô trở thành một trong số các người mẫu tuổi teen chuẩn mực nhất vào thời điểm đó.[28] Trong khi vừa làm người mẫu, cô tiếp tục sự nghiệp thu âm của mình với việc hợp tác cùng các nhà sản xuất Michael Beinhorn, Bill LaswellMartin Bisi trong album tiên phong của họ có tựa đề là One Down của nhóm nhạc Material. Với dự án này, Houston đòng góp một bản ballad có tên "Memories", một bản hát lại ca khúc của Hugh Hopper, một thành viên của Soft Machine. Robert Christgau của The Village Voice gọi bài hát này là "một trong số những bản ballad tuyệt nhất mà bạn từng nghe".[32] Cô cũng hát chính một bài hát trong album Paul Jabara and Friends của Paul Jabara, được phát hành bởi Columbia Records năm 1983.[33]

Houston trước đây đã nhận được những lời mời từ các công ty thu âm (Michael Zager năm 1980, và Elektra Records vào năm 1981), tuy nhiên mẹ cô từ chối những lời đề nghị này, giải thích rằng cô cần phải tốt nghiệp trung học phổ thông.[27][34] Năm 1983, Gerry Griffith, một người đại diện cho hãng Arista Records, chứng kiến cô biểu diễn cùng mẹ trong một câu lạc bộ đêm ở thành phố New York và hoàn toàn bị ấn tượng. Ông thuyết phục người đứng đầu Arista lúc bấy giờ là Clive Davis thu xếp thời gian để xem Houston trình diễn. Davis sau này cũng bị thuyết phục, và đưa ra một bản hợp đồng thu âm trên toàn cầu. Houston đã đồng ý kí vào đó. Sau đó, cũng trong năm này, cô ra mắt trên hệ thống truyền hình quốc gia, thông qua lần xuất hiện đầu tiên cùng Davis trong chương trình The Merv Griffin Show.[35]

Houston kí hợp đồng với Arista trong năm 1983, nhưng không bắt tay vào thực hiện album ngay lập tức.[1] Hãng đĩa này muốn đảm bảo rằng cô không kí hợp đồng với các hãng khác. Davis cũng muốn chắc chắn rằng ông đã có những chất liệu và các nhà sản xuất âm nhạc thích hợp cho album đầu tay của Houston. Một số nhà sản xuất đã không được tham gia dự án do những cam kết này.[36] Houston lần đầu thu âm một ca khúc hợp tác với Teddy Pendergrass có tựa đề "Hold Me". Ca khúc này bao gồm trong album của anh, Love Language.[37] Đĩa đơn cho bài hát phát hành năm 1984 và đem về những thành công đầu tiên cho Houston, khi nó trở thành một hit trong top 5 của bảng xếp hạng R&B.[38] Ca khúc về sau cũng xuất hiện trong album đầu tay của cô, phát hành năm 1985.

1985 – 1986: Bắt đầu ảnh hưởng trên toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự tham gia của các nhà sản xuất như Michael Masser, Kashif, Jermaine Jackson, và Narada Michael Walden, album đầu tay của Houston, Whitney Houston được phát hành trong tháng 2 năm 1985. Tạp chí Rolling Stone đã ca ngợi Houston, gọi cô là "một trong số những giọng hát mới thú vị nhất những năm vừa qua" trong khi tờ The New York Times lại đánh giá album là "đầy ấn tượng, một sự thể hiện thận trọng đầy tính âm nhạc dánh riêng cho một giọng ca tài năng hiếm có".[39][40] Arista Records tiến hành quảng bá cho album của Houston với 3 đĩa đơn khác nhau phát hành trên thị trường Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và một số quốc gia châu Âu khác. Tại Anh, ca khúc nhạc dance-funk, "Someone for Me", được phát hành thành đĩa đơn đầu tiên và thất bại trên các bảng xếp hạng; trong khi "All at Once" lại trở thành đĩa đơn đầu tiên tại các quốc gia Hà LanBỉ, nơi mà ca khúc lần lượt lọt vào top 5 trên bảng xếp hạng đĩa đơn.[41]

Ở Hoa Kỳ, bản ballad ngọt ngào "You Give Good Love" được chọn là đĩa đơn mở đường từ album đầu tay của Houston nhằm thiết lập vị trí của cô trên thị trường các nghệ sĩ da màu.[42] Tại các thị trường ngoài Hoa Kỳ, ca khúc không nhận được đủ sự quan tâm để trở thành một hit, nhưng riêng tại Mỹ, ca khúc đã trở thành hit lớn đầu tiên của album khi nó đạt đến vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100, và quán quân trên bảng xếp hạng Hot R&B.[36] Kết quả là, doanh số của album tăng dần lên, và Houston tiếp tục quảng bá thông qua việc lưu diễn trong các câu lạc bộ đêm ở Hoa Kỳ. Cô cũng bắt đầu biểu diễn trong các chương trình giao lưu nửa đêm, những chương trình mà những nghệ sĩ da màu chưa nổi tiếng thường không thể tiến đến. Bản ballad mang phong cách jazz "Saving All My Love for You" được phát hành sau đó và trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của Houston tại Mỹ và Anh. Cô sau này trở thành nghệ sĩ hát mở đầu buổi biểu diễn trong chuyến lưu diễn trên toàn quốc của nam ca sĩ Jeffrey Osborne. "Thinking About You" được phát hành như một đĩa đơn quảng bá dành riêng cho các trạm phát thanh chuyên phát R&B, và cũng lọt vào top 10 bảng xếp hạng US R&B. Vào thời điểm đó, MTV nhận nhiều chỉ trích vì phát quá ít các bài hát của các nghệ sĩ da đen, La-tinh, và của các nghệ sĩ thuộc các chủng tộc thiểu số khác, trong khi tập trung nhiều vào các nghệ sĩ da trắng.[43] Đĩa đơn thứ ba ại Hoa Kỳ, "How Will I Know", cũng đạt đến ngôi vị quán quân và đưa Houston đến với các khán giả của MTV nhờ video âm nhạc của ca khúc. Các đĩa đơn và các album sau này của Houston đều đã giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi đầu tiên nhận được một lượng lớn các thính giả trung thành trên MTV.[31]

Năm 1986, một năm sau ngày phát hành, Whitney Houston đã leo đến vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200 và giữ vị trí này trong 14 tuần không liên tiếp.[44] Đĩa đơn cuối cùng từ album, "Greatest Love of All", trở thành hit lớn nhất của Houston lúc bấy giờ sau khi đạt đến vị trí số 1 trên Hot 100 trong 3 tuần, giúp cho cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có album đạt 3 đĩa đơn quán quân. Houston xuất hiện ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng nghệ sĩ của năm và Whitney Houston đứng vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album của năm trong ấn bản cuối năm 1986 của tạp chí Billboard, giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên đạt được những thành công này.[44] Lúc đó, album đầu tay của Houston là album đầu tay bán chạy nhất của một nghệ sĩ.[45] Houston sau đó khởi động chuyến lưu diễn đầu tiên của cô, Greatest Love Tour. Album đã đạt được thành công thương mại trên toàn cầu, và được chứng nhận 13× Bạch kim (Kim Cương) chỉ riêng tại thị trường Hoa Kỳ, và đạt doanh số 25 triệu bản tiêu thụ trên toàn thế giới.[46]

Tại lễ trao Giải Grammy 1986, Houston nhận được 3 đề cử trong đó bao gồm giải Album của năm.[47] Cô không đủ điều kiện xét đề cử ở hạng mục Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất do cô đã góp mặt trong bản thu âm R&B hợp tác với Teddy Pendergrass vào năm 1984.[48] Cô thắng Giải Grammy đầu tiên trong sự nghiệp ở hạng mục Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho ca khúc "Saving All My Love for You".[49] Màn trình diễn của Houston tại lễ trao giải truyền hình trực tiếp của Giải Grammy sau đó đã đem về cho cô một Giải Emmy cho Mãn trình diễn đơn xuất sắc nhất trong một chương trình tự do hoặc âm nhạc.[50]

Houston giành tổng cộng 7 giải American Music Award trong 2 năm 1986 và 1987, và một giải MTV Video Music Award.[51][52] Độ nổi tiếng của album tiếp tục đem về cho cô đề cử tại Giải Grammy 1987 khi "Greatest Love of All" nhận đề cử ở hạng mục Bản thu âm của năm. Album đầu tay của năm được đưa vào danh sách 500 album hay nhất của tạp chí Rolling Stone và trong danh sách 200 The Rock & Roll Hall of Fame.[53][54] Sự xuất hiện của Houston trong ngành công nghiệp âm nhậc được cho là một trong số 25 cột mốc âm nhạc quan trọng nhất trong 25 năm qua, theo tạp chí USA Today.[55] Thành công của Houston đã mở ra cánh của đến với những thành công lớn trong âm nhạc đại chúng và trên MTV cho các nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi khác như Janet JacksonAnita Baker.[56][57]

1987 – 1991: Whitney, I'm Your Baby Tonight và "The Star Spangled Banner"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều kỳ vọng, album phòng thu thứ hai của Houston, Whitney, được phát hành vào tháng 6 năm 1987. Album một lần nữa được sản xuất bởi Masser, Kashif và Walden, cũng như Jellybean Benitez. Nhiều nhà phê bình đã phàn nàn về việc chất liệu quá tương đồng với album trước đó của cô. Tạp chí Rolling Stone nhận định: "sự hạn hẹp trong lối đi mà tài năng này được định hướng đang gây thất vọng".[58] Dẫu vậy, album vẫn đạt được những thành công thương mại. Houston trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử âm nhạc ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200, và là nghệ sĩ đầu tiên có album xuất hiện ở vị trí số 1 trên cả hai bảng xếp hạng của Hoa Kỳ và Anh Quốc, đồng thời cũng đạt ngôi vương và nằm trong top 10 của nhiều quốc gia trên thế giới. Đĩa đơn đầu tiên của album, "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)", cũng là một hit lớn trên toàn cầu, giành ngôi đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 cũng như nhiều bảng xếp hạng đĩa đơn của các quốc gia khác như Úc, Đức và Anh Quốc. Ba đĩa đơn kế tiếp, "Didn't We Almost Have It All", "So Emotional", và "Where Do Broken Hearts Go" đều đạt vị trí quán quân tại Hoa Kỳ, giúp cho cô có được bảy đĩa đơn quán quân liên tiếp, phá vỡ kỷ lục gồm 6 đĩa đơn trước đó được nắm giữ bởi The BeatlesBee Gees.[59][60] Houston cũng trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có được 4 đĩa đơn quán quân trong một album. Whitney đã được chứng nhận 9× Bạch kim tại Hoa Kỳ với mốc doanh số nhập hàng đạt 9 triệu bản, và bán được tổng cộng hơn 20 triệu bản trên toàn cầu.[61]

Tại Giải Grammy lần thứ 30 vào năm 1988, Houston nhận được ba đề cử, trong đó có giải Album của năm, và thắng giải Grammy thứ hai trong sự nghiệp của mình ở hạng mục Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất với "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)".[62][63] Houston cũng giành được 2 giải Âm nhạc Mỹ vào hai năm liên tiếp 1988 và 1989, và một giải Soul Train Music Award.[64][65][66] Sau khi album phát hành, Houston khởi động chuyến lưu diễn Moment of Truth World Tour. Chuyến lưu diễn này là một trong 10 chuyến lưu diễn hòa nhạc có doanh thu cao nhất năm 1987.[67] Thành công của chuyến lưu diễn trong hai năm 1986 – 1987 và của hai album đã giúp Houston đứng vị trí thứ 8 trong danh sách các nhà hoạt động giải trí có lợi nhuận cao nhất của Forbes magazine.[68] Cô cũng là nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi kiếm được lợi nhuận nhiều nhất trong các nghệ sĩ nữ, và nhiều thứ ba trong danh sách các nhà hoạt động giải trí sau Bill CosbyEddie Murphy.[68]

Houston là một trong số những người ủng hộ Nelson Mandela và phong trào giải phóng khỏi chế độ A-pác-thai. Trong thời gian còn làm người mẫu, nữ ca sĩ từ chối làm việc với những người kinh doanh với quốc gia Nam Phi, lúc bấy giờ đang áp dụng chế độ này.[69][70] Vào ngày 11 tháng 6 năm 1988, tại điểm dừng chân ở châu Âu trong chuyến lưu diễn của mình, Houston cùng một số nhạc sĩ khác đã trình diễn tại sân vận động Wembley Stadium ở Luân Đôn để mừng sinh nhật lần thứ 70 của Nelson Mandela, người sau này bị chính phủ Nam Phi giam giữ.[69] Hơn 72.000 người đã đến sân vận động Wembley Stadium, và hơn một tỷ người trên toàn cầu đã xem buổi hòa nhạc này. Nhờ vậy, buổi hòa nhạc rock thu được hơn 1 triệu đô-la Mỹ để quyên góp từ thiện, đồng thời giúp mọi người có nhận thức về chế độ A-pác-thai.[71] Houston sau đó bay trở về Mỹ để thực hiện hòa nhạc tại Madison Square Garden ở thành phố New York vào tháng tám. Buổi hòa nhạc thu về 250.000 đô-la Mỹ quyên góp cho quỹ United Negro College Fund.[72] Cũng trong năm này, cô thu âm cho NBC một bài hát chủ đề dành riêng cho Thế vận hội mùa hè 1988, "One Moment in Time". Bài hát lọt vào top 5 tại Hoa Kỳ, và đạt vị trí quán quân tại Vương quốc Anh và Đức.[73][74][75] Với việc chuyến lưu diễn thế giới của cô tiếp tục vươn tới các châu lục khác, Houston vẫn nằm trong danh sách 20 nhân vật giải trí có lợi nhuận cao nhất trong hai năm 1987 – 1988 của tạp chí Forbes.[76][77]

Houston trình diễn "Saving All My Love for You" trong buổi hòa nhạc Welcome Home Heroes năm 1991

Năm 1989, Houston thành lập The Whitney Houston Foundation For Children, một tổ chức phi lợi nhuận gây quỹ giúp đỡ trẻ em trên toàn cầu. Tổ chức này quan tâm đến những trẻ em vô gia cư, mắc bệnh ung thư hoặc AIDS, và một số vấn đề khác liên quan đến sự tự trao quyền lực.[78] Với thành công của hai album, Houston nghiễm nhiên trở thành siêu sao nổi tiếng trên toàn cầu, nổi bật nhất kể từ sau Michael Jackson, thu hút sự quan tâm của công chúng. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình da màu cho rằng cô chỉ đang "là hàng bán chạy".[6] Họ cảm nhận các bản thu âm của cô thiếu đi chất "soul" mà cô thể hiện được trong các buổi hòa nhạc trực tiếp.[30]

Tại Giải Soul Train Music Award 1989, khi Houston được xướng tên trong danh sách đề cử, một số khán giả lên tiếng cười nhạo cô.[79][80] Houston sau đó tự bào chữa cho bản thân trước những lời chỉ trích, nói rằng, "Nếu bạn muốn có một sự nghiệp lâu dài, thì chỉ có một con đường chắc chắn để làm việc này, và tôi đã đi theo con đường ấy. Tôi không xấu hổ vì điều đó."[30] Houston chuyển hướng sang thể loại thành thị trong album phòng thu thứ ba, I'm Your Baby Tonight, phát hành vào tháng 11 năm 1990. Cô tự hoàn thành công việc sản xuất cũng như tự lựa chọn các nhà sản xuất cho album và do đó, album bao gồm các bài hát được sản xuất và hợp tác với L.A. ReidBabyface, Luther Vandross, và Stevie Wonder. Album thể hiện được sự linh hoạt của Houston trong một loạt những nhịp điệu dài phức tạp, những bản ballad đậm chất soul và các bài hát nhạc dance nhịp độ nhanh. Các phản hồi thu về rất trái chiều. Rolling Stone nhận định đó là "album xuất sắc và toàn vẹn nhất của cô".[81] Trong khi đó, tờ Entertainment Weekly, cho rằng bước chuyến hướng của Houston sang thể loại thành thị là "hời hợt".[82]

Album bao gồm một số bản hit: hai đĩa đơn đầu tiên, "I'm Your Baby Tonight" và "All the Man That I Need" đều đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100; "Miracle" đạt đến vị trí thứ 9; "My Name Is Not Susan" nằm trong top 20; "I Belong to You" leo đến top 10 của bảng xếp hạng US R&B và đem về cho Houston một đề cử Grammy; và đĩa đơn thứ sáu, "We Didn't Know" hợp tác với Stevie Wonder, cũng nằm trong 20 của bảng xếp hạng R&B. Album đạt đến vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và nhận được chứng nhận 4× Bạch kim tại Mỹ, trong khi doanh số trên toàn cầu đạt 12 triệu bản.

Năm 1990, Houston trở thành phát ngôn viên trong một hội nghị lãnh đạo trẻ tổ chức tại Washington, D.C. Cô có một cuộc tiếp xúc riêng với tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush ở Nhà Trắng để thảo luận về các thách thức liên quan.

Trong thời gian xảy ra cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, Houston đã thể hiện "The Star Spangled Banner" tại Giải Super Bowl lần thứ 25sân vận động Tampa vào ngày 27 tháng 1 năm 1991.[83] Màn trình diễn này sau đó được những người trong cuộc cho là đã bị hát nhép[84] hoặc đã được biểu diễn bằng một chiếc mic chết trong khi bản thu âm do Houston thực hiện từ trước được phát lên. Dan Klores, một phát ngôn viên của Houston, giải thích rằng: "Đây không phải là một câu chuyện về Milli Vanilli. Cô ấy đã biểu diễn trực tiếp, nhưng mic đã được tắt. Đó là một quyết định kỹ thuật, nguyên nhân một phần là do tiếng ồn. Đó là phương thức tổ chức tiêu chuẩn ở những sự kiện kiểu này."[85] (Xem thêm Tranh cãi hát nhép Star Spangled Banner.) Một đĩa đơn và video thương mại cho màn biểu diễn của cô được phát hành, và nằm trong top 20 trên bảng xếp hạng US Hot 100, giúp cô trở thành nghệ sĩ duy nhất biến quốc ca Hoa Kỳ trọng đại trở thành một bản hit đại chúng (phiên bản của José Feliciano từng đạt vị trí thứ 50 vào tháng 11 năm 1968).[86][87] Houston đã quyên góp toàn bộ lợi nhuận thu được cho Quỹ chiến tranh vùng Vịnh của hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ. Do đó, nữ ca sĩ được ghi danh trên bảng các nhà điều hành của hội chứ thập đỏ.[83][88][89]

Màn trình diễn của cô được giới phê bình khen ngợi, và được coi là chuẩn mực cho các ca sĩ khác.[84][90] Rolling Stone bình luận rằng "giọng hát của cô đã khơi dậy lòng yêu nước mạnh mẽ. Không thể nào quên được", và màn biểu diễn được xếp vị trí số một trong danh sách 25 khoảnh khắc âm nhạc đáng nhớ nhất trong lịch sử NFL. VH1 liệt màn diễn vào danh sách những khoảnh khắc vĩ đại làm rung chuyển truyền hình.[91][92] Sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, màn diễn được Arista Records tái phát hành, và toàn bộ doanh thu được chuyển tới những người lính cứu hỏa và nạn nhân của cụ tấn công. Lần này, bài hát đạt vị trí thứ 6 trên Hot 100 và được chứng nhận bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.[93]

Sau đó, cũng trong năm 1991, Houston đồng tổ chức buổi hòa nhạc Welcome Home Heroes với HBO cho những người lính đã tham chiến trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh và thân nhân gia đình họ. Buổi hòa nhạc miễn phí này được tổ chức tại Naval Station NorfolkNorfolk, Virginia trước 3.500 quân nhân nam và nữ. HBO đã giải xáo trộn cho buổi hòa nhạc để tất cả mọi người đều có thể xem miễn phí.[94] Buổi hòa nhạc của Houston đã giúp HBO có được lượng người xem cao kỷ lục.[95] Sau buổi hòa nhạc, cô khởi động chuyến lưu diễn I'm Your Baby Tonight World Tour.

1992 – 1994: Kết hôn, làm mẹ, và The Bodyguard[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thập niên 1980, Houston đã có mối quan hệ tình cảm với ngôi sao bóng bầu dục Mỹ Randall Cunningham và nam diễn viên mà sau này cô đã hẹn hò, Eddie Murphy.[96] Sau đó, cô gặp ca sĩ R&B Bobby Brown tại giải Soul Train Music Award 1989. Sau 3 năm hẹn hò, hai người kết hôn vào ngày 18 tháng 7 năm 1992.[97] Ngày 4 tháng 3 năm 1993, Houston hạ sinh đứa con gái duy nhất của cặp vợ chồng, Bobbi Kristina,[98]. Brown sau đó nhiều lần gặp rắc rối liên quan đến pháp luật, trong đó có vài lần bị tạm giam.[97]

Với thành công thương mại của các album, Houston nhiều lần được mời tham gia đóng phim, trong đó có những lời mời cộng tác với Robert De Niro, Quincy Jones, và Spike Lee; nhưng cô cho rằng đó chưa phải thời điểm thích hợp.[96] Vai diễn đầu tiên của Houston là trong bộ phim The Bodyguard, ra mắt năm 1992 cùng với diễn viên chính Kevin Costner. Houston trong vai Rachel Marron, một ngôi sao bị một người hâm mộ điên cuồng săn đuổi và phải thuê một vệ sĩ để bảo vệ mình. USA Today đánh giá bộ phim là một trong 25 khoảnh khắc điện ảnh đáng nhớ nhất trong 25 năm gần đây vào năm 2007.[99] Sự nổi tiếng rộng rãi của Houston đã khiến cho khán giả theo dõi bộ phim không nảy sinh những thành kiến về chủng tộc.[100]

Tuy vậy, tranh cãi nổ ra khi một số cá nhân cho rằng khuôn mặt của Houston trên áp phích quảng cáo đã bị che đi một cách cố ý, nhằm che đậy mối quan hệ đa chủng tộc trong bộ phim. Trong cuộc phỏng vấn với Rolling Stone vào năm 1993, nữ ca sĩ cho rằng "mọi người đều biết Whitney Houston như thế nào – tôi là người da màu. Bạn không thể chối bỏ sự thật đó."[26] Houston đã nhận được một đề cử Giải Mâm xôi vàng cho nữ diễn viên chính tệ nhất. Tờ The Washington Post nhận xét Houston "đang chẳng làm gì hơn ngoài đóng vai Houston, tỏ ra hầu như không hề bị tổn thương nếu có thể đảm nhận việc gì",[101]The New York Times bình luận rằng cô thiếu kết nối với bạn diễn.[102] Bất chấp những đánh giá trái chiều, bộ phim vẫn đạt được thành công lớn về mặt doanh thu, thu về hơn 121 triệu đô-la Mỹ tại Hoa Kỳ và 410 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu, trở thành một trong 100 bộ phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử điện ảnh vào thời điểm nó phát hành, mặc dù hiện bộ phim không còn nằm trong top 100 do giá vé xem phim đã tăng lên kể từ sau khi bộ phim ra mắt.[103]

Album nhạc phim cho bộ phim cũng đem về thành công lớn. Houston điều hành việc sản xuất và thực hiện 6 bài hát trong album nhạc phim đi kèm. Rolling Stone đánh giá album "không gì hơn ngoài thù vị, trang nhã và lịch sự".[104] Đĩa đơn mở đường cho album nhạc phim là "I Will Always Love You", sáng tác và thu âm lần đầu bởi Dolly Parton vào năm 1974. Phiên bản của Houston được nhiều nhà phê bình tán dương, đánh giá nó là "ca khúc thương hiệu" hay "màn trình diễn biểu tượng" của cô. Rolling StoneUSA Today gọi bản hát lại của cô là "màn trình diễn ấn tượng với kỹ năng tuyệt vời" ("the tour-de force").[105][106] Đĩa đơn đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong 14 tuần và lập kỷ lục, và cũng phá kỷ lục với 11 tuần dẫn đầu bảng xếp hạng R&B, và 5 tuần đứng nhất bảng xếp hạng Adult Contemporary.[107]

Đĩa đơn được RIAA chứng nhận 4× Bạch kim, giúp cho Houston trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có được đĩa đơn đạt mức chứng nhận này trong lịch sử RIAA và là đĩa đơn bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ trên thị trường Hoa Kỳ.[108][109][110] Bài hát cũng đạt được thành công trên toàn cầu, đạt ngôi quán quân ở hầu hết các quốc gia, và trở thành đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại của một nữ nghệ sĩ với doanh số 20 triệu bản trên toàn cầu.[111][112] Album nhạc phim giành ngôi quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 trong 20 tuần không liên tiếp, trở thành album có thời lượng quán quân bảng xếp hạng lâu nhất của hãng Arista trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan (xếp ở vị trí thứ 10 trong danh sách tất cả hãng thu âm), và là một trong số những album bán nhanh nhất.[113] Trong tuần lễ Giáng Sinh năm 1992, album bán ra hơn 1 triệu bản trong một tuần, trở thành album đầu tiên đạt được thành tích này dưới hệ thống theo dõi của Nielsen SoundScan.[114][115] Với việc các đĩa đơn kế tiếp, "I'm Every Woman", một bản hát lại ca khúc của Chaka Khan, và "I Have Nothing", đều nằm trong top 5 của bảng xếp hạng, Houston trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có được 3 đĩa đơn cùng nằm trong top 11.[116][117][118] Album được chứng nhận 17× Bạch kim chỉ riêng tại Hoa Kỳ,[119] và với doanh số toàn cầu đạt 44 triệu bản,[120] The Bodyguard trở thành album bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ trong danh sách top 10 album bán chạy nhất thế giới, vượt qua doanh số 40 triệu bản cho album Come On Over của Shania Twain.[121]

Houston thắng 3 giải Grammy cho album vào năm 1994, trong đó có 2 giải quan trọng nhất của Viện hàn lâm, Album của nămThu âm của năm. Ngoài ra, cô còn lập kỷ lục khi giành 8 Giải Âm nhạc Mỹ trong lễ trao giải năm đó, trong đó có giải Award of Merit,[122] 11 Giải thưởng âm nhạc Billboard, 3 Giải Soul Train Music Award trong hai năm 1993 – 1994, trong đó có giải Sammy Davis, Jr. Award cho nhà hoạt động giải trí của năm,[123] 5 Giải NAACP Image Award có bao gồm giải Nhà hoạt động giải trí của năm,[124][125][126] 5 Giải thưởng Âm nhạc Thế giới,[127] và một Giải BRIT.[128] Sau thành công của dự án, Houston khởi động chuyến lưu diễn rộng trên toàn cầu, The Bodyguard World Tour, vào năm 1993 – 1994. Các chuyến lưu diễn, bộ phim, và doanh thu từ bản thu âm đã đưa cô trở thành nhà hoạt động giải trí nữ có doanh thu cao nhất năm 1993 – 1994, chỉ đứng sau Oprah WinfreyBarbra Streisand, theo tạp chí Forbes.[129] Houston được xếp trong top 5 "Nhà hoạt động giải trí của năm" được xếp hạng thường niên của tờ Entertainment Weekly[130] và là một trong 100 người quyền lực nhất Hollywood theo tạp chí Premiere.[131]

Tháng 10 năm 1994, Houston góp mặt và trình diễn trong một bữa tối cấp nhà nước tại Nhà Trắng để chúc mừng tân Tổng thống mới đắc cử của Nam Phi, Nelson Mandela.[132][133] Vào giai đoạn cuối của chuyến lưu diễn thế giới, Houston đã tổ chức 3 buổi hòa nhạc tại Nam Phi để tôn vinh Tổng thống Mandela, biểu diễn trước hơn 200.000 người. Điều này giúp cô trở thành nghệ sĩ lớn đầu tiên đặt chân đến quốc gia mới thống nhất và thoát khỏi chế độ A-pác-thai này, sau khi Mandela thắng cử.[134] Buổi hòa nhạc được truyền hình trực tiếp trên HBO, với quỹ lợi nhuận được quyên góp cho nhiều tổ chức từ thiện ở Nam Phi. Sự kiện này được đánh giá là "sự kiện truyền thông quy mô nhất của quốc gia kể từ sau lễ nhậm chức của Nelson Mandela".[135]

1995 – 1997: Waiting to Exhale, The Preacher's Wife, và Cinderella[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, Houston đóng vai chính cùng với Angela Bassett, Loretta Devine, và Lela Rochon trong bộ phim thứ hai của cô, Waiting to Exhale, với nội dung về bốn người phụ nữ người Mỹ gốc Phi gặp rắc rối trong những mối quan hệ. Houston thủ vai nhân vật chính Savannah Jackson, một nhà sản xuất truyền hình có cảm tình với một người đàn ông đã kết hôn. Cô chọn vai diễn này vì thấy rằng bộ phim là "một bước ngoặt trong việc thể hiện hình ảnh người phụ nữ da màu, vì nó cho thấy họ vừa là những người phụ nữ của công việc, vừa là những bà mẹ chu đáo".[136] Sau khi mở màn ở vị trí quán quân và thu về 67 triệu đô-la Mỹ doanh thu tại Hoa Kỳ và 81 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu,[137] bộ phim đã chứng tỏ rằng một phim chỉ hướng đến đối tượng khán giả da màu có thể làm nên thành công, và mở đường cho những bộ phim về người da màu khác như How Stella Got Her Groove Back và những bộ phim nổi tiếng trong những năm 2000 của Tyler Perry.[138][139][140] Bộ phim cũng gây được chú ý khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ da màu như những công dân có thu nhập trung bình mạnh mẽ, thay vì những khuôn mẫu trước đó.[141] Các đánh giá hầu hết đều theo chiều hướng tích cực cho đội ngũ diễn viên. The New York Times nhận định: "Cô Houston đã cởi bỏ lớp vỏ đầy kiêu ngạo đầy phòng thủ, điều này khiến cho vai diễn ngôi sao nhạc pop trong 'The Bodyguard' dường như lui về dĩ vãng."[142] Houston được đề cử một Giải NAACP Image Award ở hạng mục "Nữ diễn viên chính xuất sắc trong một bộ phim điện ảnh", nhưng thất bại trước bạn diễn của cô, Bassett.[143]

Album nhạc phim đi kèm, Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album, được đồng sản xuất bởi Houston và Babyface. Dù Babyface ban đầu muốn Houston một mình ghi âm toàn bộ album, cô đã từ chối. Thay vào đó, cô "muốn đây là một album của những người phụ nữ có chất giọng đa dạng", và do đó đã mời một số nữ nghệ sĩ người Mỹ gốc Phi cùng tham gia album nhạc phim, để phù hợp với thông điệp của bộ phim là về những phụ nữ mạnh mẽ.[136] Kết quả là, album có sự xuất hiện của hàng loạt nữ nghệ sĩ thu âm dòng R&B đương đại cùng với Houston, như Mary J. Blige, Brandy, Toni Braxton, Aretha Franklin, và Patti LaBelle. Ca khúc "Exhale (Shoop Shoop)" của Houston đạt ngôi quán quân bảng xếp hạng, và sau đó lập kỷ lục khi trụ vững ở vị trí á quân trong 11 tuần và trải qua 8 tuần quán quân bảng xếp hạng R&B. "Count On Me", một bản song ca với CeCe Winans, leo lên top 10 tại Hoa Kỳ; và sản phẩm thứ 3 của Houston, "Why Does It Hurt So Bad", cũng lọt vào top 30. Album ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng, và được chứng nhậnBạch kim tại Mỹ, đánh dấu mốc doanh số nhập hàng đạt 7 triệu bản.[61] Album nhạc phim nhận được những đánh giá mạnh mẽ; như tờ Entertainment Weekly viết: "album "đi xuống" ("go down") một cách dễ dàng, chỉ như những gì bạn chờ đợi từ một cái gói được rập khuôn bằng những bài hát của Whitney Houston... album nhạc phim chờ đợi để bùng nổ, lơ lửng trong sự lưỡng lự khoái lạc"[144] và sau đó xếp hạng album nằm trong top 100 album nhạc phim hay nhất.[145] Cũng trong năm đó, tổ chức từ thiện cho trẻ em của Houston được trao giải VH1 Honor, nhờ tất cả những công việc từ thiện đã thực hiện.[146]

Năm 1996, Houston vào vai chính trong bộ phim hài kịch cho kỳ nghỉ lễ The Preacher's Wife, cùng vời Denzel Washington. Cô đóng vai người vợ hát thánh ca của một mục sư (Courtney B. Vance). Đây là một phiên bản sản xuất lại được nâng cấp từ bộ phim The Bishop's Wife (1948), với diễn viên chính gồm Loretta Young, David NivenCary Grant. Houston được trả 10 triệu đô-la Mỹ cho vai diễn, trở thành một trong số những nữ diễn viên được trả lương cao nhất tại Hollywood lúc bấy giờ và là nữ diễn viên người Mỹ gốc Phi được trả lương cao nhất ở Hollywood.[147] Bộ phim, với dàn diễn viên toàn bộ là người Mỹ gốc Phi, đạt được thành công khiêm tốn về mặt thương mại, thu về xấp xỉ 50 triệu đô-la Mỹ tại các phòng vé ở Hoa Kỳ.[148] Bộ phim cũng đem về cho Houston những đánh giá mạnh mẽ nhất lúc bấy giờ. The San Francisco Chronicle nhận xét Houston "đang tự thần thánh hóa chính mình, phô diễn hình ảnh một tài năng được tôn kính, vừa có đức hạnh và sự tán tỉnh", và cô "biểu hiện sự dịu dàng và sự ấm áp đầy hăng hái, đặc biệt khi ca ngợi về Chua bằng giọng hát rực rỡ của mình".[149] Houston tiếp tục được đề cử một giải NAACP Image Award và chiến thắng ở hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh.[150]

Houston đã ghi âm và đồng sản xuất, cùng với Mervyn Warren, album nhạc phim thể loại gospel đi kèm với bộ phim. The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album bao gồm sáu ca khúc gospel với sự tham gia của dàn hợp xướng Georgia Mass Choir được ghi âm tại nhà thờ Great Star Rising Baptist Church tại Atlanta. Houston cũng hợp tác với huyền thoại nhạc phúc âm Shirley Caesar. Album bán được 6 triệu bản trên toàn cầu và sản sinh những đĩa đơn thành hit như "I Believe in You and Me" và "Step by Step", trở thành album thuộc thể loại phúc âm bán chạy nhất mọi thời đại.[151] Album nhận được đa phần những đánh giá tích cực. Một số nhà phê bình, như của tạp chí USA Today, đã chú ý đến chiều sâu cảm xúc được thể hiện,[152] trong khi The Times nhận xét, "Việc lắng nghe Houston lên giọng hết sức cùng với 35 con người của dàn hợp xướng Georgia Mass Choir rồi gặp khó khăn để tiếp tục duy trì đã khiến ta nhận ra chất giọng phi thường của cô được sinh ra để làm gì".[153]

Năm 1997, công ty sản xuất của Houston đổi tên thành BrownHouse Productions và có sự tham gia của Debra Martin Chase. Mục tiêu của công ty là "thể hiện những khía cạnh trong đời sống của những người Mỹ gốc Phi vốn chưa từng được công chiếu trên màn ảnh" trong khi vừa cải thiện hình ảnh của người Mỹ gốc Phi trong các bộ phim và trên sóng truyền hình.[154] Dự án đầu tiên của họ là bản làm lại bộ phim Cinderella của Rodgers & Hammerstein để chỉ phát trên truyền hình. Ngoài công việc đồng sản xuất cho bộ phim, Houston cũng đóng vai chính là Bà tiên đỡ đầu, cùng với Brandy, Jason Alexander, Whoopi Goldberg, và Bernadette Peters. Houston lần đầu được mời giữ vai của Cinderella vào năm 1993, nhưng những dự án khác đã không cho phép.[155] Bộ phim được chú ý nhờ dàn diễn viên đa chủng tộc và thông điệp không mang tính khuôn mẫu.[156] Gần 60 triệu khán giả đã theo dõi chương trình đặc biệt này, giúp cho ABC có được lượng xem truyền hình cao nhất trong 16 năm.[157] Bộ phim nhận được 7 đề cử giải Enmy bao gồm Outstanding Variety, Musical or Comedy, while winning Outstanding Art Direction in a Variety, Musical or Comedy Special.[158]

Houston and Chase then obtained the rights to the story of Dorothy Dandridge. Houston was to play Dandridge, the first African American actress to be nominated for an Academy Award for Best Actress. Houston wanted the story told with dignity and honor.[154] However, Halle Berry also had rights to the project and got her version going first.[159] Later that year, Houston paid tribute to her idols, such as Aretha Franklin, Diana Ross, and Dionne Warwick, by performing their hits during the three-night HBO Concert Classic Whitney: Live from Washington, D.C.. The special raised over $300,000 for the Children's Defense Fund.[160] Houston received the Quincy Jones Award for outstanding career achievements in the field of entertainment at the 12th Soul Train Music Awards.[161][162]

1998 - 2005: My Love Is Your Love, Just Whitney..., các album tổng hợp và những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dành thời gian cho các bộ phim điện ảnh và album nhạc phim trong những năm đầu và giữa thập niên, Houston ra mắt album phòng thu đầu tiên trong 8 năm, My Love Is Your Love, vào tháng 11 năm 1998 và nhận được những phản hồi tích cực từ giới phê bình. Mặc dù ban đầu được kì vọng là một album tuyển tập với hàng tá ca khúc mới, nhưng những buổi thu âm thành công đã khiến cho một album phòng thu mới được phát hành. Được thu âm và phối khí chỉ trong 6 tuần, album được sự giúp đỡ từ các nhà sản xuất Rodney Jerkins, Wyclef JeanMissy Elliott. Album ra mắt tại vị trí thứ 13, và cũng là vị trí cao nhất của album, trên bảng xếp hạng US Billboard 200.[163] Album có những âm thanh vui nhộn và sắc sảo hơn các sản phẩm trước đó và chứng kiến sự chuyển hướng của Houston sang thể loại dance thành thị, hip hop, R&B tiết tấu trung bình, reggae, torch, và những bản ballad. Tất cả đều được thể hiện một cách khéo léo.[164]

Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 2000, album đã sản sinh một vài đĩa đơn thành công: "When You Believe" (#15 tại Hoa Kỳ, #4 tại Anh), một bản song ca với Mariah Carey cho nhạc phim của bộ phim Hoàng tử Ai Cập, đã trở thành một hit lớn trên toàn cầu và nằm trong top 10 của một số quốc gia, thắng một giải Oscar cho Ca khúc trong phim xuất sắc nhất;[165] "Heartbreak Hotel" (á quân tại Hoa Kỳ, #25 tại Vương quốc Anh) hợp tác với Faith EvansKelly Price, nhận được một đề cử cho video R&B xuất sắc nhất tại giải MTV VMA 1999,[166] và đạt quán quân bảng xếp hạng US R&B trong 8 tuần; "It's Not Right but It's Okay" (#4 tại Mỹ, #3 tại Anh) đem về cho Houston giải Grammy thứ sau trong sự nghiệp khi giành chiến thắng ở hạng mục Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất;[167] "My Love Is Your Love" (#4 tại Hoa Kỳ, á quân Vương quốc Anh) bán ra 3 triệu bản trên toàn cầu;[168] và "I Learned from the Best" (#27 tại Mỹ, #19 tại Anh).[169][170] Tất cả các đĩa đơn này đều trở thành các hit trên toàn cầu, cũng như đạt quán quân bảng xếp hạng US Billboard Hot Dance/Club Play (trừ "When You Believe"). Album bán ra 4 triệu bản tại Hoa Kỳ, nhận được chứng nhận 4× Bạch Kim, và tiêu thụ được 11 triệu bản trên toàn cầu.[46]

Album đã nhận được nhiều ý kiến mạnh mẽ hơn tất cả các album trước đó của Whitney. Tạp chí Rolling Stone cho rằng Houston đang hát "cùng với một vết thương trong giọng của cô"[171] và tạp chí The Village Voice nhận xét răng: "Giọng của Houston đang rất sắc và đang làm chúng ta thỏa mãn hơn bao giờ hết.[172] Năm 1999, Whitney tham dự chương trình VH-1's Divas Live 99 cùng với Brandy, Mary J.Blige, Tina TurnerCher. Cũng trong năm này, Whitney tổ chức chuyến lưu diễn dài 70 ngày với tên gọi My Love Is Your Love World Tour. Các buổi diễn tại châu Âu đã giúp My Love Is Your Love World Tour trở thành chuyến lưu diễn ăn khách nhất châu Âu năm 1999.[173]. Trong tháng 11 năm 1999, Houston được ghi danh trong danh sách các nữ nghệ sĩ R&B có doanh số nhiều nhất thiên niên kỉ với 51 triệu album bán lẻ được cấp chứng nhận tại Mĩ. The Bodyguard Sountrack cũng được ghi danh trong danh sách các album nhạc phim bán chạy nhất thiên niên kỉ bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ RIAA.[174] Đồng thời, Houston cũng được trao giải thưởng Nghệ sĩ của thập kỉ tại lễ trao giải Soul Train Music Award lần thứ 14 và một giải thưởng âm nhạc MTV châu Âu dành cho nghệ sĩ R&B xuất sắc nhất (MTV Europe Music Award for Best R&B).[175][176][177][178][179]

Whitney: The Greatest Hits là album tổng hợp đầu tiên của Whitney Houston, được phát hành vào tháng 5 năm 2000 trên toàn thế giới. Album bao gồm một đĩa với những bản ballad và một đĩa với các bài hát được remix lại cũng như một số bài hát mới. Màn thể hiện "The Star-Spangled Banner" tại Super Bowl XXV; bài hát vận động cho Thế vận hội mùa hè 1988, "One Moment in Time" và ca khúc "If You Say My Eyes Are Beautiful" - hát với Jermaine Jackson cũng được bao gồm trong album này. Album có bốn ca khúc mới: "Could I Have This Kiss Forever" - song ca cùng Enrique Iglesias, "If I Told You That" - song ca cùng George Michael, "Same Script, Different Cast" - hát cùng Deborah Cox và "Fine". Tất cả các ca khúc này đều được phát hành thành các đĩa đơn. Album cũng đi kèm 1 DVD bao gồm các video âm nhạc của cô trong quá khứ, cũng như những màn biểu diễn trực tiếp và phỏng vấn.[180][181] Cả 2 đĩa của album đạt ví trí thứ 5 trên bảng xếp hạng US Billboard 200 và thứ 1 trên bảng xếp hạng của Vương quốc Anh.[182][183]. Album cũng nằm trong top 10 tại các quốc gia khác.[184] Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) đã chứng nhận 3 đĩa Bạch kim cho album vào ngày 12 tháng 11 năm 2002, công nhận 1,5 triệu album đã được bán tại Mỹ.[185][186] Tính đến nay, album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới. Album tuy có doanh số cao nhưng cũng nhận được những ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình. Nhiều ý kiến phàn nàn về các bản remix ở đĩa thứ hai, thay vì bản gốc của chúng. Tại Mỹ, bản sao được bán tại các cửa hàng Circuit City bao gồm 1/3 đĩa có chứa các bản hòa âm club mới. Album đạt vị trí trong top 10 tại bảng xếp hạng của các nước châu Âu, , Canada, ÚcNew Zealand. Album được chứng nhận 3 lần bạch kim bởi IFPI trong năm 2000 với doanh số 3 triệu bản tại châu Âu. Whitney: The Unreleased Mixes là một phiên bản giới hạn bốn bản thu âm vinyl, có đầy đủ 8 bản club được lựa chọn được tìm thấy trên phát hành ở Mỹ. Năm 2006, nó được phát hành kỹ thật số và lại mang tên Dance Vault Mixes: Whitney Houston – The Unreleased Mixes (Collector's Edition). Trong tháng 1 năm 2011, album đã được tái phát hành ở Vương quốc Anh với danh sách bài hát giống như ở Mỹ, nhưng nó được đổi tên thành The Essential Whitney Houston[187]. Ngoài việc thay đổi tiêu đề, việc phát hành lại cũng thay đổi ảnh bìa album. Ảnh bìa mới của album được sản xuất bởi David LaChapelle.[188]

Sau khi phát hành Whitney: The Greatest Hits, vào tháng 8 năm 2001, Whitney kí hợp đồng 100 triệu đô la Mĩ với Arista - hợp đồng có giá trị lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp thu âm lúc bấy giờ, cho 6 album mới.[189][190][191] Từ thời gian này, Whitney bị dính vào những vấn đề cá nhân liên quan đến ma túy, đến tình hình sức khỏe. Cô bị các fan hâm mộ lẫn giới truyền thông đặt ra nhiều nghi ngại. Dù vậy, Whitney vẫn phát hành album tổng hợp thứ hai của mình - Love, Whitney vào năm 2001 ở châu Âu và vào năm 2002 tại Mĩ. Album là phiên bản tiếp nối của Whitney: The Greatest Hits. Đây là một bộ sưu tập những bản ballad đã trở thành thương hiệu của cô, trong đó có 9 ca khúc nằm trong top 20 hits. Theo trang Allmusic, album này "không thực sự là album tuyển tập những ca khúc hit" nhưng "nó là một album tuyển tập những bản tình ca vĩ đại của Whitney" và "dành cho hầu hết những người hâm mộ của cô.[192]. Tai Anh, album đã bán được 42000 bản.[193] Album nhận được những đánh giá trung bình và trên mức trung bình từ các trang đánh giá uy tín như Allmusic[192], Rolling Stone.[194]

Tháng 12 năm 2002 Whitney Houston phát hành album phòng thu thứ năm, Just Whitney.... Album có sự hợp tác với chồng cô lúc bấy giờ, Bobby Brown cũng như một số ca sĩ khác như Missy Elliott và Babyface. Album đạt vị trí #9 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 200 và trở thành album có doanh số cao nhất trong tuần đầu tiên phát hành trong sự nghiệp của Whitney.[195]. Lượng bán ra của album trong tuần đầu là 205.147 bản, phá kỉ lục của Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album (177284 bản trong tuần đầu).[196][197] Các đĩa đơn được phát hành từ album là "Whatchulookinat", "One of Those Days", "Try It on My Own", "Love That Man" tuy trở thành các hit trong bảng xếp hạng Top R&B/Hip-hop Albums và đạt vị trí thứ 10 trong bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary[198] nhưng đều không thể lọt nổi vào tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Mặc dù được cấp giấy chứng nhận album bạch kim ở Mĩ, chứng nhận vàng ở Pháp và quốc gia khác, doanh số bán ra trên toàn cầu là 5 triệu bản[199] nhưng Just Whitney… vẫn là album phòng thu bán chậm nhất trong sự nghiệp của Whitney. Chỉ sau hai năm từ album Whitney: The Greatest Hits nhưng Just Whitney… đã "lọt" ra ngoài bảng xếp hạng 75 album của Anh quốc (#76). Whitney Houston chỉ phát hành một đĩa đơn duy nhất tại Anh là "Whatchulookinat" đạt vị trí #13 và chỉ có 2 tuần nằm trong tốp 40. Album nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ giới chuyên môn. Trang AllMusic đánh giá album ở mức trên trung bình[200], trong khi trang tờ Rolling Stone lại đánh giá album dưới mức trung bình.[201]. Album nhận được số điểm đánh giá là 53/100 từ Metacritic.[202]

One Wish: The Holiday Album là album Giáng sinh duy nhất của Whitney Houston, phát hành năm 2003. Album phát hành một đĩa đơn "One Wish (for Christmas)", lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary của Mỹ. Album đã trải qua sáu tuần trên bảng xếp hạng Billboard 200 và bán được 546.000 bản tính cho đến nay. Album cũng có một bản song ca với cô con gái Bobbi Kristina Houston là "The Little Drummer Boy". Album này cũngsử dụng lại 2 bài hát "Joy to the World" và "Who Would Imagine a King" từ album nhạc phim của bộ phim The Preacher's Wife phát hành năm năm 1996.

2006 - 2012: Trở lại với âm nhạc, I Look to You, các chuyến lưu diễn và điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2007, Clive Davis của hãng Arista Records thông báo rằng Whitney đang bắt đầu thu âm một album mới.[203]. Album tổng hợp thứ ba của cô, The Ultimate Collection, phát hành cùng năm đó và chỉ riêng ở khu vực ngoài nước .[204]

Houston biểu diễn "My Love Is Your Love" cùng với con gái Bobbi Kristina Brown trong chương trình Good Morning America vào ngày 1 tháng 9 năm 2009

Vào tháng 9 năm 2009, Houston có cuộc phỏng vấn đầu tiên trong vòng bảy năm, xuất hiện trong tập mở đầu mùa của chương trình The Oprah Winfrey's Show. Buổi phỏng vấn được đánh giá là "buổi phỏng vấn âm nhạc được chờ đợi nhất của thập kỉ".[205] Trong chương trình, Whitney thú nhận đã sử dụng thuốc và các loại chất kích thích cùng với chồng cũ là Bobby Brown.[206] Cô kể với Oprah rằng trước bộ phim The Bodyguard tình hình sử dụng thuốc phiện của cô không có vấn đề gì, nhưng sau thành công của bộ phim và việc cô hạ sinh con gái, việc này trở nên ngày một trầm trọng hơn, và theo lời cô thì vào năm 1996, "[sử dụng thuốc] là một điều diễn ra hằng ngày... Tôi đã không vui vẻ vào thời điểm đó. Tôi đã đánh mất chính mình."[207]

Tháng 8 năm 2009, Houston phát hành album phòng thu thứ bảy mang tên I Look to You.[208] Hai đĩa đơn đầu tiên từ album là bài hát chủ đề "I Look to You" và "Million Dollar Bill". Album xuất hiện trên bảng xếp hạng US Billboard 200 ở vị trí quán quân, với doanh số tuần mở đầu tốt nhất từ trước đến giờ (305.000 bản), trở thành album quán quân đầu tiên của Houston kể từ sau The Bodyguard, và cũng là album phòng thu đầu tiên của cô đạt ngôi quán quân kể từ album Whitney (1987). Houston cũng xuất hiện trên các chương trình truyền hình ở châu Âu để quảng bá cho album. Cô đã trình diễn "I Look to You" trên chương trình truyền hình Đức Wetten, dass...? và "Million Dollar Bill" trên kênh truyền hình Pháp Le Grand Journal. Ngoài ra, cô cũng nhận vai trò là người cố vấn khách mời trong chương trình The X Factor phiên bản Anh. Cô tiếp tục trình diễn "Million Dollar Bill" vào đêm công bố kết quả của chương trình. Truyền thông Anh đánh giá màn trình diễn nàu của cô là "kì lạ", "chán", "kém".[209][210]. Tuy nhiên, "Million Dollar Bill" cũng đã nhảy từ vị trí 14 lên vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng UK Singles Chart, và album I Look to You phát hành sau đó đã được chứng nhận vàng. Sau đó, Whitney tiếp tục trình diễn "Million Dollar Bill" tại The X Factor phiên bản Italy, và nhận được những đánh giá tích cực.[211] Cô tiếp tục nhận được chứng nhận vàng ở Italy sau khi album I Look to You bán được 50.000 bản.[212]. Trong tháng 11 năm 2009, cô trình diễn "I Didn't Know My Own Strength" tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mĩ (American Music Awards) tổ chức tại Los Angeles, California, Mĩ. Và vào tháng 12 năm 2009, album I Look to You của cô đã được chứng nhận bạch kim bởi RIAA với doanh thu đạt một triệu bản tại Mĩ.[213] Ngày 26 tháng 1 năm 2010, cô ra mắt lại album Whitney Houston với tên gọi mới là Whitney Houston - The Deluxe Anniversary Edition.[214]

Whitney Houston biểu diễn tại đấu trường O2 của Luân Đôn vào ngày 28 tháng 4 năm 2010, trong chuyến lưu diễn Nothing but Love World Tour.

Chuyến lưu diễn Nothing but Love World Tour là chuyến lưu diễn đầu tiên sau hơn 10 năm kể từ My Love Is Your Love World Tour và được kì vọng sẽ là một sự trở lại thành công của Whitney. Tuy nhiên, một số buổi biểu diễn không tốt và việc các buổi lưu diễn bị dời ngày đã thu hút những đánh giá truyền thông tiêu cực.[215][216]. Whitney đã hủy bỏ một số buổi diễn do ảnh hưởng từ sức khỏe kém của cô, và nhận được những lời bình luận tiêu cực từ fan. Các fan hâm mộ đã thất vọng trước giọng hát càng ngày càng trở nên tồi tệ của cô. Một số người đã ra khỏi buổi diễn của cô khi chưa kết thúc, còn một số đã yêu cầu trả lại tiền vé vì "không được nghe một Whitney Houston đích thực".[217]

Trong tháng 1 năm 2010, Whitney được đề cử 2 giải NAACP Image Awards cho hạng mục Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhấtVideo ca nhạc xuất sắc nhất. Cô thắng tại hạng mục Video ca nhạc xuất sắc nhất cho video "I Look to You". Ngày 16 tháng 1 năm 2010, cô nhận giải The BET Honor Award for Entertainer cho những thành tựu mà cô đạt được trong suốt sự nghiệp 25 năm âm nhạc của mình. Giải thưởng này được tổ chức vào ngày 1 tháng 2 năm 2010, tại Warner Theatre, Washington D.C, Mĩ. Jennifer HudsonKim Burrell trình diễn để tri ân cô và đã nhận được những đánh giá tốt. Vào tháng 4 năm 2010, tờ báo The Mirror của Anh viết rằng Whitney đang nghĩ đến việc thu âm album phòng thu thứ bảy của mình và muốn hợp tác với will.i.am, lần đầu tiên cô lựa chọn một sự hợp tác.[218]

Whitney cũng trình diễn ca khúc "I Look to You" trên sân khấu "BET Celebration of Gospel" được tổ chức tại Staples Center, Los Angeles cùng với Kim Burrell vào ngày 30 tháng 1 năm 2011. Đầu năm 2011, cô cũng bất ngờ trình diễn một ca khúc để tri ân chị họ cô, Dionne Warwick tại bữa tiệc tiền giải Grammy được tổ chức hằng năm của Clive Davis.

Tháng 9 năm 2011, tờ The Hollywood Reporter đưa tin rằng Whitney sẽ cùng tham gia tái sản xuất bộ phim Sparkle (1976) với ngôi sao Jordin SparksMike Epps. Cô cũng đồng thời là người điều hành sản xuất cho bộ phim. Debra Martin Chase, nhà sản xuất của Sparkle, cho rằng Whitney xứng đáng với vai trò này vì cô đã nhận bản quyền phim từ năm 2001. Ca sĩ R&B Aaliyah, ban đầu được chọn làm ngôi sao trong Sparkle, đã qua đời vào năm 2001 trong một tai nạn máy bay. Cái chết của bà đã làm trì hoãn việc sản xuất, đáng lẽ phải được bắt đầu từ 2002.[219][220][221]. Bộ phim được thu hình vào mùa thu năm 2011, trong khoảng thời gian 2 tháng,[222] và được phát hành bởi hãng phim TriStar Pictures[223]. Vào ngày 21 tháng 5 năm 2012, "Sparkle", ca khúc cuối cùng của Whitney, thu âm cùng Sparks, ra mắt tại trang RyanSeacrest.com. Ca khúc này được có sẵn để tải về trên iTunes vào ngày 5 tháng 6.[224]. Ca khúc cũng nằm trong Sparkle: Music from the Motion Picture, được phát hành thành đĩa đơn chính thức đầu tiên.[225]. Bộ phim ra mắt ngày 17 tháng 8 năm 2012 tại . Video ca nhạc của ca khúc "Sparkle" được thu hình ngày 30 tháng 5 năm 2012.[226]. Một đoạn ngắn của video ra mắt trên Entertainment Tonight vào ngày 4 tháng 6 năm 2012.[227]

Phong cách nghệ thuật và di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Giọng hát[sửa | sửa mã nguồn]

Houston là một giọng nữ trung,[228][229] và được biết đến với danh hiệu "The Voice" nhờ giọng hát tài năng xuất chúng của cô.[230] Cô đứng thứ 3 trong danh sách 22 giọng ca vĩ đại nhất của MTV,[231] và thứ 6 trong danh sách 100 giọng ca đại chúng xuất sắc nhất của Online Magazine COVE với số điểm 48,5/50.[232] Jon Pareles của The New York Times nhận định rằng cô "luôn có một chất giọng rất lớn, với kỹ thuật kỳ diệu từ quãng trầm mượt mà đến quãng trung đanh thép cho đến quãng cao sáng và nhẹ nhàng".[233] Năm 2008, Rolling Stone xếp Houston ở vị trí thứ 34 trong danh sách 100 ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, với lời nhận xét, "Chất giọng của cô ấy là một tiếng hét khổng lồ và sáng rực: Hầu như không một giọng ca nào có thể mở đầu một bài hát với 45 giây hát mà không cần hỗ trợ, nhưng phiên bản hát lại đầy mạnh mẽ ca khúc 'I Will Always Love You' của Dolly Parton của cô là một màn trình diễn ấn tượng đầy kỹ thuật."[105] Matthew Perpetua từ Rolling Stone cũng tán dương giọng hát của Houston, dẫn chứng 10 màn trình diễn, bao gồm "How Will I Know" tại lễ trao giải MTV VMA năm 1986 và "The Star Spangled Banner" tại Super Bowl 1991. "Whitney Houston được trao tặng một quãng giọng đáng kinh ngạc và kỹ thuật thanh nhạc phi thường, nhưng điều thật sự khiến cô trở thành một ca sĩ vĩ đại chính là khả năng kết nối với một ca khúc và biến tấu sự kịch tính và cảm xúc của nó với độ chính xác đến khó tin", ông đánh giá. "Cô ấy là một người biểu diễn tài năng, và những buổi diễn trực tiếp của cô thường làm lu mờ đi những bản thu âm gốc."[234]

Jon Caramanica của The New York Times bình luận rằng, "Giọng hát của cô ấy thanh khiết và mạnh mẽ, hầu như không dính sạn, rất thích hợp với những bản tình ca và những khúc ca hi vọng. [...] Đó là một giọng ca của sự khải hoàn và thành tựu, và sinh ra để dành cho những màn trình diễn giọng hát gât chấn động và làm thời gian ngừng trôi."[235] Mariah Carey đánh giá, "Cô ấy [Whitney] có quãng trung thực sự rất dày và mạnh mà hầu như không ai có được. Cô ấy hát thực sự rất tốt, rất mạnh mẽ."[236] Trong bài đánh giá về album I Look to You, nhà phê bình âm nhạc Ann Powers của Los Angeles Times viết rằng, "[giọng hát của Houston] đứng vững như một tượng đài giữa nền nhạc đại chúng của thế kỷ 20, định nghĩa những kiến trúc của thời điểm đó, che chở cho giấc mơ của hàng triệu người và truyền cảm hứng cho sự nghiệp leo dốc của vô số những kẻ cố gắng bắt chước", nói thêm "Khi cô ấy ở đỉnh cao, không gì có thể sánh được với giọng nữ trung khỏe, tinh khiết và tuyệt vời của cô."[229]

Lauren Everitt từ tạp chí BBC News bình luận về cách sử dụng melisma trong các bản thu ân của Houston và những ảnh hưởng của nó. "Một chữ 'I' ở đầu ca khúc 'I Will Always Love You' của Whitney Houston mất gần 6 giây để hát. Trong những giây đó, ngôi sao nhạc đại chúng xuất thân là ca sĩ thánh ca đã thêm vào hàng loạt những nốt nhạc khác nhau trong một âm tiết đơn", Everitt viết. "Kỹ thuật này được sử dụng nhiều lần xuyên suốt bài hát, chủ yếu rõ nét ở mỗi từ 'I' và 'you'. Kỹ thuật hát này được gọi là melisma, và nó đã truyền cảm hứng cho một loạt những kẻ bắt chước. Những nghệ sĩ khác có thể đã sử dụng nó trước Houston, nhưng nhờ bản hát lại khúc tình ca của Dolly Parton của cô mà kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi trong thập niên 90. [...] Nhưng có lẽ thứ mà Houston đã nắm chắc nhất là sự tiết chế." Everitt nói rằng "trong xu hướng mà những chương trình truyền hình thực tế khiến người ta bội thực với việc hát quá to ("oversinging"), thật dễ dàng để đánh giá cao khả năng sử dụng melisma đúng lúc của Houston."[237]

Phong cách giọng hát của Houston đã để lại ảnh hưởng sâu sắc tới nền công nghiệp âm nhạc. Theo Linda Lister của Divafication: The Deification of Modern Female Pop Stars, cô được phong tặng danh hiệu "Nữ hoàng nhạc Pop" cho ảnh hưởng của mình trong những năm 1990, là đối thủ về mặt thương mại với Mariah Carey và Celine Dion.[238] Stephen Holden từ The New York Times, khi đánh giá về buổi hòa nhạc vào ngày 20 tháng 7 năm 1993 của Houston tại Radio City Music Hall, ca ngợi thái độ của cô khi làm việc như một ca sĩ, viết rằng, "Whitney Houston là một trong số ít những ngôi sao nhạc đại chúng đương đại được nhận định là: giọng hát làm trọn vẹn. Trong khi hầu hết các ca sĩ biểu diễn có những album bán được cả triệu bản sử dụng cả tá trò lừa đảo của một nhà hoạt động giải trí, từ nói đùa, đến nhảy múa, đến trò nổ pháo hoa trong rạp xiếc, cô Houston chỉ đứng đó và hát." Về phong cách ca hát của cô, ông nói thêm: "Phong cách nghệ thuật của cô đã trở thành thương hiệu – những đoạn melisma rùng mình làm nổi lên phần giữa của một bài hát, việc nhấn mạnh nhiều lần ở cuối mỗi cụm từ gợi đến sự vui vẻ đến gần hết hơi – làm đầy đặn những màn trình diễn của cô với những tia sáng của âm nhạc và bùng nổ cảm xúc."[239]

Elysa Gardner của Los Angeles Times trong bài đánh giá album The Preacher's Wife Soundtrack đã khen ngợi khả năng giọng hát của Houston, bình luận rằng, "Cô ấy là diva pop đầu tiên và hàng đầu – vào thời điểm đó, là nghệ sĩ tốt nhất mà chúng ta có. Không ngôi sao nhạc đại chúng nào – không phải Mariah Carey, không phải Celine Dion, không phải Barbra Streisand – một cách công bằng, là đối thủ của Houston về giọng hát lưu loát tinh tế và sự tinh khiết của tông giọng, cũng như khả năng lấp đầy một lời nhạc với tính nhạc kịch đầy mê hoặc của cô."[240]

Những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện và tình hình sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có một thời gian Whitney thường được gọi là "gái ngoan" với hình ảnh tốt đẹp trước công chúng trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 nhưng từ cuối những năm 1990, cô bắt đầu thay đổi. Cô thường ngồi hàng giờ cho các cuộc phỏng vấn, chụp ảnh và các buổi tập, hủy bỏ hàng loạt buổi diễn và những cuộc nói chuyện trên truyền hình.[241][242]. Việc cô bỏ các buổi biểu diễn và sút cân đã làm tin đồn về việc Whitney dùng thuốc phiện cùng chồng lan truyền khắp nơi. Sau khi phát hành album Whitney: The Greatest Hits, tháng 11 năm 2000, đội an ninh tại sân bay Hawaii đã phát hiện ra chất gây nghiện trong hành lý của Houston và Bobby Brown nhưng họ đã lên máy bay và bay mất trước khi cảnh sát kịp bắt giữ. Không có bản án nào được thi hành nhưng tin đồn về vụ việc này lan ra nhanh chóng.[243]. 2 tháng sau, Clive Davis được ghi danh tại sảnh danh vọng Rock and Roll. Whitney có lịch biểu diễn cho sự kiện này, nhưng cô đã không xuất hiện.[244] Ngay sau đó, Whitney lại có lịch biểu diễn tại lễ trao giải Oscar, nhưng cô đã được đạo diễn âm nhạc của chương trình- người bạn thân thiết của cô Burt Bacharach yêu cầu ra khỏi sự kiện. Phát ngôn viên truyền thông của cô đã giải thích việc này là do cô gặp vấn đề về họng. Trong cuốn sách của mình, The Big Show: High Times and Dirty Dealings Backstage at the Acedemy Awards, tác giả Steve Pond tiết lộ rằng: "Giọng của Houston đã trở nên run rẩy, cô ấy dường như bị phân tâm và bồn chồn, nhưng cô lại cố gắng tỏ vẻ bình thường", và lẽ ra lúc đó Whitney phải hát ca khúc Over the Rainbow thì cô lại hát một ca khúc khác.[245]. Sau này chính Whitney cũng thú nhận đã bị đuổi khỏi lễ trao giải Oscar năm đó.[246]. Cũng vào năm ấy, người bạn thân đồng thời cũng là quản lí lâu năm của Whitney, Robyn Crawford, từ chức khỏi công ty chủ quản của cô.[247]

Vào tháng 8 năm 2001, sau khi kí tiếp hợp đồng với Arista, cô xuất hiện tại lễ sinh nhật lần thứ 30 của Michael Jackson. Thân hình gầy đột ngột của cô đã tiếp tục làm dấy lên những tin đồn về việc cô sử dụng thuốc phiện. Phát ngôn viên truyền thông của Whitney đã giải thích rằng: "Whitney đã bị stress vì các vấn đề gia đình, và cô đã không ăn uống gì trong khoảng thời gian căng thẳng vừa qua".[248]. Cô cũng lên lịch cho màn biểu diễn thứ hai trong buổi tối tiếp theo nhưng cuối cùng đã hủy nó.[249]

Lúc đó, Houston trở nên nổi tiếng với những đề tài nóng hổi liên quan đến vụ việc, cô thường xuyên phải hủy hết buổi hòa nhạc này đến buổi hòa nhạc khác. Sau đó khoảng vài tháng, Houston xuất hiện trước báo giới bàn luận về thuốc phiện và các chất gây nghiện nhưng cô bác bỏ hoàn toàn việc sử dụng cocaine. Thế nhưng đến tháng 3 năm 2004, cô đã không thể giữ được bí mật khi buộc phải nhập trung tâm cai nghiện. Một năm sau, Houston lại tiếp tục phải dành thời gian trong trung tâm phục hồi chức năng vì tác hại của ma túy.

Vụ kiện cha đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ không suôn sẻ giữa Whitney Houston và cha của cô, John Houston, bắt đầu vào năm 2002 khi công ty của John Houston kiện Whitney vì 100 triệu đôla - số tiền mà theo họ, họ phải vay để giúp đỡ sự nghiệp của Houston cũng như những câu chuyện thêu dệt xung quanh cuộc sống của nữ ca sĩ này[250]. Cả hai bố con đều xuất hiện trên truyền hình và chỉ trích lẫn nhau[251]. Sự việc chỉ tạm thời chấm dứt khi ông bố John Houston qua đời tháng 2 năm 2003.

Vấn đề về tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2007, tờ New York Post công bố "trong một bản báo cáo tài chính năm 2006, Houston gần như vuột mất buổi trình diễn trị giá 6 triệu đôla, 10 mẫu đất (khoảng 4 ha) tại hạt Morris vì khoản nợ hàng chục ngàn đôla tiền thuế". Bài báo sau đó cung cấp thêm nhiều thông tin chi tiết về việc Houston đã bán hàng trăm bộ cánh biểu diễn trên sân khấu tại một phiên đấu giá nhằm kiếm đủ số tiền để trả nợ. Tờ The Toronto Star thì cho biết ngày 4 tháng 1 năm 2007, đồ đạc được bán đấu giá để "che đậy những khoản phí chưa được chi trả"[252]. Còn hãng tin Reuters cũng công bố trong ngày hôm đó rằng Houston "bị buộc phải bán quần áo, nhạc cụ để trả nợ cho một cửa hàng quần áo" theo yêu cầu của tòa án cấp cao New Jersey[253] .

Houston mất quyền sở hữu khu đất ở Atlanta sau khi thế chấp hồi tháng 11 năm 2006. Cũng trong tháng đó, theo thông tin của Associated Press (AP), ngôi nhà của cô ở Mendham, New Jersey, lúc đó trị giá $5,6 triệu, cũng buộc phải bán vào tháng 1 năm 2007 vì số tiền thế chấp và thuế trị giá 1 triệu đôla chưa được bồi hoàn.

Cuộc sống gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Houston cưới ca sĩ nhạc R&B, Bobby Brown, năm 1992. Ngày 4 tháng 3 năm 1993, đôi uyên ương này vui mừng chào đón sự ra đời của cô con gái đầu lòng. Hai người đặt tên bé là Bobbi Kristina Houston Brown - một cái tên có cả họ tên của cha mẹ. Tháng 9 năm 2006, có tin đồn cho rằng cuộc hôn nhân của họ đang bên bờ vực thẳm, họ chuẩn bị ra tòa ly dị. Cuối cùng tin đồn cũng trở thành sự thật khi chính Houston là người nộp đơn lên tòa án, bắt đầu một chặng đường đầy khó khăn về mặt tinh thần. Theo đại diện của cô, Houston đã nộp đơn ly dị Brown vào ngày 8 tháng 9 năm 2006. Tuy nhiên, luật sư của Brown, Phaedra Parks, khẳng định rằng hành động trên hiện tại chỉ là ly thân chứ không thể kết luận là một bản thử nghiệm ly hôn để "chưng cầu ý dân". Trong hồ sơ ly hôn, Houston đòi quyền nuôi đứa con gái chung giữa hai người. Nhưng cuối cùng vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, tòa án cũng chấp nhận đơn xin ly hôn của cô. Vào khoảng những năm 1997 - 2006, Bobby thường xuyên đánh Whitney và dụ dỗ cô vào con đường ma túy mặc dù cô vốn là "gái ngoan" của làng âm nhạc.

Houston được toàn quyền nuôi con. Ngày 24 tháng 4 năm 2007 là ngày chính thức cuộc hôn nhân của họ kết thúc. Ngày 26 tháng 4 năm 2007, Bobby Brown cũng đệ đơn lên tòa án cấp cao quận Cam nhằm chấm dứt hoàn toàn hôn nhân với Houston. Trong hồ sơ, anh khẳng định toàn bộ cuộc hôn nhân là một sự giả dối và anh hoàn toàn có khả năng chăm sóc con. Nhưng trên thực tế, Brown hiện đang là một người vô gia cư và trong tình trạng hoàn toàn suy thoái. Phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2007.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết Danh sách đĩa nhạc của Whitney HoustonDanh sách video của Whitney Houston

Danh sách chuyến lưu diễn và các buổi hòa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa nhạc phát sóng trên truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim và chương trình truyền hình đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Encyclopedia of African American history, 1896 to the present: from the age of segregation to the twenty-first century. Oxford University Press; 2009. ISBN 978-0-19-516779-5. p. 459–460.
  2. ^ Dobuzinskis, Alex (ngày 15 tháng 9 năm 2009). “Whitney Houston says she is "drug-free". Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ Sullivan, Caroline (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Whitney Houston obituary”. The Guardian. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  5. ^ a ă The Prom Queen of Soul. ngày 13 tháng 7 năm 1987 [Retrieved ngày 17 tháng 3 năm 2007]. Time Inc..
  6. ^ a ă Bản mẫu:Vcite episode
  7. ^ "Saving All My Love for You"; "How Will I Know"; "Greatest Love of All"; "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)"; "Didn't We Almost Have It All"; "So Emotional" và "Where Do Broken Hearts Go" và được chứng nhận bởi Sách kỉ lục Guiness
  8. ^ Whitney HoustonThe Bodyguard: Original Soundtrack Album
  9. ^ a ă â b AllMusic. Whitney Houston biography; 2006 [Retrieved ngày 13 tháng 4 năm 2009].
  10. ^ Whitney Houston Biography [Retrieved ngày 17 tháng 3 năm 2011].
  11. ^ “Whitney Houston: Cocaine in system not a fatal dose, expert says”. Los Angeles Times. Ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ Christopher, Tommy (ngày 13 tháng 2 năm 2012). “Howard Kurtz Asks If Whitney Houston's Death 'Is Worth' Intense News Coverage”. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nytimesobit
  14. ^ Notable Black American women. VNR AG; 1996. ISBN 978-0-8103-9177-2. p. 304–305.
  15. ^ "Top 10 Things You May Not Know About Whitney Houston". ABC. February 16, 2012. Truy cập November 4, 2012.
  16. ^ “Michael Houston 'Devastated' At Death Of Sister”. Entertainment Wise. 12 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Visionary Project Video Interview (bottom of page) -Cissy Houston: My Family, go to the 1:00 mark. September 2, 2009 [Retrieved February 11, 2012].
  18. ^ Whitney's godmother: 'She was a light'. Nancy Grace spoke with Whitney Houston's godmother and Rock and Roll Hall of Fame singer Darlene Love.. February 13, 2012 [Retrieved February 17, 2012].
  19. ^ The Detroit News. Aretha Franklin recalls meeting a young Whitney Houston [Retrieved February 18, 2012].
  20. ^ Whitney Houston Sings Her Way to Stardom. Johnson Publishing Company; August 26, 1985. p. 59.
  21. ^ The Detroit News. Aretha Franklin recalls meeting a young Whitney Houston [Retrieved February 18, 2012].
  22. ^ Whitney Houston. Chelsea House Publishers; January 1998. ISBN 978-0-7910-4456-8. p. 21.
  23. ^ Whitney & Bobby – Addicted to Love. September 2005 [Retrieved March 17, 2007]. Vibe Magazine.
  24. ^ Jet. Johnson Publishing Company; February 17, 1986. p. 59.
  25. ^ Vibe. Vibe Media Group; June 2007 [Truy cập February 13, 2012]. p. 78.
  26. ^ a ă Whitney Houston: Down and Dirty. Rolling Stone; Jann S. Wenner, editor and publisher. June 10, 1993 [Retrieved March 17, 2007].
  27. ^ a ă The Billboard book of number 1 hits. Random House Digital, Inc.; October 1, 2003. ISBN 978-0-8230-7677-2. p. 629.
  28. ^ a ă â b Singer Whitney Houston a Model of Success. Johnson Publishing Company; July 16, 1990. p. 32.
  29. ^ Whitney and Cissy Houston on the Joys and Worries of Motherhood. Johnson Publishing Company; May 1995 [Truy cập February 15, 2012]. p. 30–.
  30. ^ a ă â The Soul of Whitney. December 2023 [Retrieved February 15, 2008]. Essence Magazine.
  31. ^ a ă Salon.com. Didn't She Almost Have It All; April 13, 2006 [Retrieved December 12, 2007].
  32. ^ RobertChristgau.com. Material she was a great song writer [Retrieved December 12, 2007].
  33. ^ “Paul”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tiêu đề=|title= (trợ giúp)
  34. ^ Girl. Johnson Publishing Company; June 1990. p. 136.
  35. ^ Ebony. Johnson Publishing Company; December 1985. p. 155.
  36. ^ a ă The Long Road To Overnight Stardom. Billboard. December 1986 [Retrieved March 17, 2007].
  37. ^ Love”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tiêu đề=|title= (trợ giúp)
  38. ^ Arista Aims New Houston Album at 'Core Urban' Fans. Nielsen Business Media, Inc.; December 14, 2002. p. 64.
  39. ^ Music Review: Whitney Houston; June 6, 1985 [Retrieved March 17, 2011].
  40. ^ “CRITICS' CHOICES; Pop Music”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  41. ^ Whitney Houston's Success Is Global. Nielsen Business Media, Inc.; June 8, 1985 [Truy cập February 13, 2012]. p. 54.
  42. ^ Houston Hits: Master Plan, Blind Luck. Los Angeles Times. June 8, 1986 [Retrieved October 28, 2011]. Tribune Company.
  43. ^ Bản mẫu:Vcite episode[liên kết hỏng]
  44. ^ a ă Charts '86. Nielsen Business Media, Inc.; December 27, 1986. p. 52.
  45. ^ Recording Industry Association of America. Gold & Platinum – Top 100 Albums [Retrieved June 13, 2010].
  46. ^ a ă Recording Industry Association of America. RIAA Certification Searchable Database; July 29, 1999 [Retrieved January 13, 2010].
  47. ^ Jet. Johnson Publishing Company; January 27, 1986. p. 57.
  48. ^ Dire Straits Tops List for Grammy's; We are the World Wins 6 Nominations. The Washington Post. January 10, 1986 [Retrieved March 17, 2007].
  49. ^ Jet. Johnson Publishing Company; March 17, 1986. p. 14.
  50. ^ Jet. Johnson Publishing Company; October 13, 1986. p. 16.
  51. ^ Jet. February 17, 1986:56. Johnson Publishing Company.
  52. ^ Whitney Houston: Why Success Won't Go to Her Head. Jet. February 16, 1987:58. Johnson Publishing Company.
  53. ^ The Rolling Stone 500 Greatest Albums of All Time. November 18, 2003 [archived 2010-12-20; Retrieved March 17, 2011]. Wenner Media, LLC.
  54. ^ The Rock & Roll Hall of Fame. The Definitive 200; 2007 [archived January 13, 2008; Retrieved January 15, 2008].
  55. ^ 25 years of memorable musical moments. USA Today. June 18, 2007 [Retrieved January 1, 2008].
  56. ^ Houston Tops New Wave of Women With Pop Punch Aplenty. August 30, 1987 [Retrieved March 5, 2008]:11. Orlando Sentinel.
  57. ^ Anita Baker: 'Most Powerful Black Woman Singer of 80s'. San Francisco Chronicle. February 1, 1987 [Retrieved March 5, 2008]:44.
  58. ^ Wenner Media, LLC. Review: Whitney; August 13, 1987 [Retrieved March 16, 2011].
  59. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; May 2, 1988. p. 54.
  60. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; May 13, 2000. p. 104.
  61. ^ a ă Recording Industry Association of America. Gold & Platinum search results; November 29, 1995 [Retrieved June 13, 2010].
  62. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 1, 1988. p. 56.
  63. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; March 21, 1988. p. 52.
  64. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 15, 1988. p. 60.
  65. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 20, 1989. p. 55.
  66. ^ Showtime: Jackson is top winner at Soul Train Awards. The Washington Afro American. April 5, 1988 [Retrieved June 28, 2010]:6C. African-American News & Information Consortium.
  67. ^ MacDonald, Patrick. "U2, Bon Jovi were top concert acts of 1987". The Seattle Times. January 15, 1988. Page 5. Retrieved May 16, 2008.
  68. ^ a ă Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 28, 1987. p. 52–53.
  69. ^ a ă Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; June 20, 1988. p. 59.
  70. ^ Diva Will Always Love Limelight. The Scotsman (Edinburgh, UK). August 23, 2009 [Retrieved January 12, 2010].
  71. ^ Pop Music's Homage to Mandela. The New York Times. June 13, 1988.
  72. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 19, 1988. p. 54.
  73. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; September 12, 1988. p. 59.
  74. ^ number-ones.co.uk. 1988 UK Number Ones [Retrieved January 12, 2010].
  75. ^ charts.de. October 24, 1988 Single Top 100; October 24, 1988 [Retrieved January 12, 2010].
  76. ^ "Forbes Names Jackson as the Best-Paid Star 5 Women, 3 Boxers on List of 40 Celebrities". Los Angeles Times. September 19, 1988. Page 2.
  77. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; October 3, 1988. p. 12.
  78. ^ Whitney Houston Foundation for Children
  79. ^ Johnson Publishing Company. Ebony. Johnson Publishing Company; May 1991. p. 112.
  80. ^ Ralph M. Jr., "Interview with Whitney Houston", Dateline NBC, December 10, 1996 (transcript available at whitney-fan.comarchive)
  81. ^ Wenner Media, LLC. Review: I'm Your Baby Tonight; January 10, 1991 [Retrieved March 16, 2011].
  82. ^ Browne, David. Time Warner. Music Review: I'm Your Baby Tonight; November 23, 1990 [Retrieved March 16, 2011].
  83. ^ a ă Pop View; Caution: Now Entering The War Zone. The New York Times. February 24, 1991 [Retrieved October 5, 2008].
  84. ^ a ă Luchina Fisher, Sheila Marikar (3 tháng 2 năm 2009). “Hudson's Super Bowl Lip-Sync No Surprise to Insiders”. ABCNews.com. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  85. ^ “Was Whitney live, or was she Memorex?”. The Daily Gazette Co. Associated Press. 5 tháng 3 năm 1991. tr. A6. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  86. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 18, 1991. p. 31.
  87. ^ Steven Otfinoski. African Americans in the performing arts. Infobase Publishing; April 1, 2010 [Truy cập February 12, 2012]. ISBN 978-0-8160-7838-7. p. 116–.
  88. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; June 17, 1991. p. 37.
  89. ^ Blair, Tom. "The village verbiage collector". The San Diego Union. May 23, 1991. Page B1.
  90. ^ Jennifer Hudson delivers on Super Bowl stage. The Washington Times. February 2, 2009 [Retrieved March 27, 2011]. News World Media Development.
  91. ^ VH1. 100 Greatest Moments That Rocked TV (20–1).
  92. ^ Bản mẫu:Vcite press release
  93. ^ Recording Industry Association of America. Gold & Platinum – Search Results for "The Star Spangled Banner" single and its video single; April 11, 1991 / October 3, 2001 [Retrieved March 17, 2011].
  94. ^ Smith, Patricia. "Mom, apple pie and Whitney Houston in concert for troops". The Boston Globe April 1, 1991.
  95. ^ Hodges, Anne. "Hope opens his home to U.S. troops". Houston Chronicle April 6, 1991.
  96. ^ a ă Bản mẫu:Vcite journal
  97. ^ a ă Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; April 26, 1999. p. 60.
  98. ^ Speidel, Maria (22 tháng 3 năm 1993). “Passages”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  99. ^ Susan Wloszczyna. Hollywood highlights: 25 movies with real impact. USA Today. July 2, 2007 [Retrieved October 30, 2011]. Gannett Company.
  100. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  101. ^ Rita Kempley. The Bodyguard. The Washington Post. November 25, 1992 [Retrieved October 30, 2011]. The Washington Post Company.
  102. ^ Janet Maslin. Review/Film: The Bodyguard; Tragic Flaw Meets Pampered Pop Star Over Multiple Risks. November 25, 1992 [Retrieved October 29, 2011]. The New York Times Company.
  103. ^ boxofficemojo.com. All Time Box Office Domestic Grosses [Retrieved January 12, 2010].
  104. ^ CD review digest: Jazz, popular, etc. Peri Press; 1994 (Volume 7, Issue 4). p. 174.
  105. ^ a ă 100 Greatest Singers: Whitney Houston. Rolling Stone. November 2008 [archived July 12, 2012; Retrieved March 17, 2011]. Wenner Media, LLC.
  106. ^ James T. Jones IV. Houston heroic on 'Bodyguard' album [Payment needed to view the whole article]. USA Today. November 17, 1992 [Retrieved September 25, 2010]. Gannett Company, Inc..
  107. ^ Whitney Houston Hits 4th `Triple'. January 15, 1993 [Retrieved March 17, 2011]. Tribune Company.
  108. ^ The Recording Industry Association of America. RIAA certification for "I Will Always Love You" single; January 12, 1993 [Retrieved July 5, 2010].
  109. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; April 11, 1998. p. 10.
  110. ^ Gary Trust. Battle of the Divas, Round 3; August 28, 2009 [Retrieved September 25, 2010].
  111. ^ Galindo, Brian (13 tháng 3 năm 2013). “11 Fascinating Facts About The Song "I Will Always Love You". BuzzFeed. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014. 
  112. ^ Geller, Wendy (21 tháng 2 năm 2014). “It Was 40 Years Ago: Dolly Parton Bids Adieu to Porter Wagoner, Writes 'I Will Always Love You'. Chart Watch. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014. 
  113. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; May 13, 2000. p. 110.
  114. ^ Aleene MacMinn. Morning Report: Pop/Rock. December 31, 1992 [Retrieved September 1, 2010]. Tribune Company.
  115. ^ "Whitney Houston gets a boost from Bodyguard". The Globe and Mail. January 1, 1993. Page C6.
  116. ^ Houston Still Plugged In As Contender. March 19, 1993 [Retrieved October 29, 2011]:O. Tribune Company.
  117. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; December 8, 2001. p. 85.
  118. ^ Nielsen Business Media, Inc.. Billboard. Nielsen Business Media, Inc.; March 13, 1993 [Truy cập February 13, 2012]. p. 134–.
  119. ^ Deseret Morning News. Soccer and music fans sound.
  120. ^ TheWrap.com. Is It Too Late for Whitney's Comeback?; August 31, 2009 [Retrieved February 14, 2012].
  121. ^ Whitney Houston. Whitney Houston [Retrieved June 13, 2010].
  122. ^ Johnson Publishing Company. Jet. Johnson Publishing Company; February 28, 1994. p. 56.
  123. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  124. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  125. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  126. ^ Marisa Leonardi. Michael Jackson Shares Whitney Houston's Spotlight, Honors: Houston wins five NAACP Image Awards, but Jackson gets cheers in a show marked by controversy. January 7, 1994 [Retrieved June 29, 2010]. Tribune Company.
  127. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  128. ^ British Phonographic Industry. The BRITs 1994 Winners & Nominees; February 14, 1994 [Retrieved June 29, 2010].
  129. ^ "Spielberg Dethrones Oprah As Highest-Paid Entertainer" The San Francisco Chronicle. September 12, 1994. Page C16.
  130. ^ Steven Spielberg Is Mr. Entertainer. San Francisco Chronicle. December 24, 1994:D11. Hearst Corporation.
  131. ^ Jim Keogh. Few women producers make the top 100 list. Telegram & Gazette. April 15, 1993:C2. The New York Times Company.
  132. ^ Greeting Mandela with elegance and esteem. USA Today. October 5, 1994:D02. Gannett Company, Inc..
  133. ^ Nita Lelyveld. White House Lionizes Mandela. The Free Lance–Star. October 5, 1994 [Retrieved June 12, 2011]:A8. The Free Lance–Star Publishing Company.
  134. ^ HBO worth seeing. Cincinnati Post. November 9, 1994:7B. E. W. Scripps Company.
  135. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  136. ^ a ă Farley, Christopher John (4 tháng 12 năm 1995). “No More Prissy”. Time. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  137. ^ “Waiting to Exhale (1995)”. Box Office Mojo. 2 tháng 3 năm 1996. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010. 
  138. ^ African American Filmmakers, African American Films: A Bibliography of Materials in the UC Berkeley Library. Berkeley, CA: UC Berkeley Library. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  139. ^ Ascher-Walsh, Rebecca (14 tháng 8 năm 1998). “Back in the Groove?”. Entertainment Weekly. 
  140. ^ LaPorte, Nicole (6 tháng 3 năm 2005). “Diary of a Mad Niche Hit”. Variety. 
  141. ^ White, Jack E. (15 tháng 1 năm 1996). “Heavy Breathing”. Time. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  142. ^ Stephen Holden (22 tháng 12 năm 1995). “Waiting to Exhale (1995) Film Review;4 Divas Have Lots Of Fun Telling Off Mr. Wrong”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014. 
  143. ^ Crisis staff (3 tháng 2 năm 1996). “The 27th NAAPC Image Awards Official Ballot”. The Crisis (The Crisis Publishing Company, Inc.) 103 (2): 20–22. ISSN 0011-1422. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 
  144. ^ Entertainment Weekly (December 1, 1995), page=73
  145. ^ Willman, Chris (12 tháng 10 năm 2001). “100 Best Movie Soundtracks”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  146. ^ Nielsen Business Media, Inc. (15 tháng 7 năm 1995). Billboard. Nielsen Business Media, Inc. tr. 38–. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2012. 
  147. ^ Laurence, Charles (14 tháng 12 năm 1996). “The Arts: The gospel according to Whitney”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  148. ^ “Box office / Business for "The Preacher's Wife". IMDb. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  149. ^ Stack, Peter (13 tháng 12 năm 1996). “Human Comedy's Divine in 'Preacher's Wife'. San Francisco Chronicle. 
  150. ^ Jet staff (3 tháng 3 năm 1997). “Ebony's 50th Anniversary Show, Denzel Washington Among NAACP Image Award Winners”. Jet (Johnson Publishing Company) 95 (15): 60–61. ISSN 0021-5996. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 
  151. ^ Gary Susman (13 tháng 2 năm 2012). “Whitney Houston 1996 Interview Sheds Light on Movie Career, Personal Demons”. Moviefone. AOL Inc. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014. 
  152. ^ Jones, Steve (26 tháng 11 năm 1996). 'Preacher's Wife' steeped in the spirit”. USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  153. ^ “The Preacher's Wife Soundtrack Reviews”. The Times. UK. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  154. ^ a ă “Whitney scores as producer and star”. Ebony Magazine. Tháng 11 năm 1997. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2008. 
  155. ^ Purdum, Todd S. (2 tháng 11 năm 1997). “Television; The Slipper Still Fits, Though the Style Is New”. The New York Times. 
  156. ^ “Whitney & Brandy in 'Cinderella.' – updated version of 'Rodgers & Hammerstein's Cinderella' – includes related article on producer and actress Whitney Houston”. Ebony. Tháng 11 năm 1997. 
  157. ^ Carter, Bill (5 tháng 11 năm 1997). “TV Notes; Happy Ending For 'Cinderella'. The New York Times. tr. 7. 
  158. ^ “Cinderella: Emmy Nominations”. classicwhitney.com. 23 tháng 7 năm 1998. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  159. ^ “Whitney Houston To Take On "Christie Love”. MTV News. 9 tháng 4 năm 1997. 
  160. ^ “Streetwise Houston tries new approach Singer's tour hits town Monday” (Article ID: R00018180056). The Washington Times. 3 tháng 7 năm 1999. 
  161. ^ Anita M. Samuels (14 tháng 3 năm 1998). “Badu Heads Soul Train; Singer Picks Up 4 Awards”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.) 110 (11): 10. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  162. ^ Don Cornelius Productions, Inc. Soul Train Music Awards Library: 1998 The 12th Soul Train Music Awards; February 27, 1998 [archived July 25, 2013; Retrieved June 30, 2010].
  163. ^ “Billboard”. Google Books. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  164. ^ “Billboard”. Google Books. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  165. ^ “The 71st Academy Awards1999”. Oscars.org Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  166. ^ “1999 MTV Video Music Awards”. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  167. ^ “Past Winners Search”. The GRAMMYs. Truy cập 4 tháng 11 năm 2015. 
  168. ^ Bản mẫu:Vcite journal
  169. ^ Whitney Houston Billboard chart history [Retrieved October 29, 2011].
  170. ^ The Official Charts Company. Artist Chart History: Whitney Houston [Retrieved October 29, 2011].
  171. ^ “The Greatest Voice of All - Whitney Houston my love is your love”. Vibe Media Group.: 60. Tháng 4 năm 1999. 
  172. ^ Aletti, Vince. 8 tháng 12 năm 1998/music/look-who-s-ticking/ “Look Who's Ticking”. The Village Voice Music. Truy cập 8 tháng 12 năm 1988.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  173. ^ “Whitney Houston World Tour '99 Becomes Europe's Highest Grossing Arena Tour of the Year”. all Business. Truy cập 19 tháng 10 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  174. ^ “The American Recording Industry Announces its Artists of the Century”. RIAA. Truy cập 10 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  175. ^ “TLC Nominated For Three Soul Train Music Awards”. MTV News. Truy cập 11 tháng 2 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  176. ^ “TLC Rides Soul Train”. Billboard: 20. 18 tháng 3 năm 2000. 
  177. ^ “Entertainment Dublin gears up for MTV show”. BBC News. Truy cập 11 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  178. ^ “Spears Tops 1999 MTV Europe Music Awards”. Billboard. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  179. ^ “Bono Honored As Britney Spears Dominates MTV Europe Awards”. MTV News. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  180. ^ 23 tháng 6 năm 2000/entertainment/0006220426_1_dvd-arista-houston “Houston's Latest 'Hits' Is Full Of Lots Of Little Extras”. Truy cập 23 tháng 6 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  181. ^ “Whitney: The Greatest Hits review”. All Music. 
  182. ^ “Artist Chart History: Whitney Houston”. The Official Charts Company. Truy cập 29 tháng 10 năm 2011. 
  183. ^ “The Billboard 200 chart listing for the week of ngày 3 tháng 6 năm 2000”. Billboard: 116. 3 tháng 6 năm 2000. 
  184. ^ “Hits of the World”. Billboard: 88. 17 tháng 6 năm 2000. 
  185. ^ “RIAA Gold & Platinum searchable database”. RIAA. 
  186. ^ “Florida Orchestra Sues Arista Over Anthem”. Billboard. Truy cập 17 tháng 12 năm 2001. 
  187. ^ “The Essential Whitney Houston CD”. Amazon. Truy cập 12 tháng 1 năm 2012. 
  188. ^ “David LaChapelle: 'Fashion, beauty and glamour are the mark of civilisation'. The Guardian. Truy cập 19 tháng 2 năm 2012. 
  189. ^ “Whitney Houston Signs $100 Million Contract With Arista Records”. Jet: 18. 20 tháng 8 năm 2001. 
  190. ^ “The Rolling Stone Report”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  191. ^ “Arista Aims New Houston Album At 'Core Urban' Fans”. Billboard: Bìa trước. 14 tháng 12 năm 2002. 
  192. ^ a ă “Review by Jose F. Promis”. All Music. 
  193. ^ “Eagles top UK album chart”. Music Week. Truy cập 5 tháng 11 năm 2007. 
  194. ^ “Whitney Houston Albumguide”. Rolling Stone. 
  195. ^ “Vibe Media Group”. Vibe: 186. Tháng 9 năm 2003. 
  196. ^ “Just Whitney - Music Guide”. wikimusicguide.com. 
  197. ^ “NEWS - Whitney Houston's 'Just Whitney' On Track For Huge Opening Week”. classicwhitney.com. Truy cập 12 tháng 12 năm 2002. 
  198. ^ “Album artist 37 - Whitney Houston”. tsort.ìno. Truy cập 5 tháng 11 năm 2014. 
  199. ^ Bain, Becky. “Whitney Houston Was In Debt At Time Of Death, Owes Sony Millions”. idolator.com. Truy cập 1 tháng 3 năm 2012. 
  200. ^ “Allmusic - Just Whitney”. Allmusic. Truy cập 28 tháng 9 năm 2010. 
  201. ^ Caramanica, Jon. “Just Whitney”. Rolling Stone. Truy cập 30 tháng 12 năm 2002. 
  202. ^ “Just Whitney”. metacritic.com. Truy cập 10 tháng 12 năm 2002. 
  203. ^ “Whitney Houston Starts Work on New Album Today”. Fox News. 13 tháng 1 năm 2007. Truy cập 13 tháng 1 năm 2010. 
  204. ^ “Whitney Houston - The Ultimate Collection CD”. Amazon. 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập 11 tháng 2 năm 2011. 
  205. ^ "Whitney Houston to Tell All On Oprah" CBS, ngày 20 tháng 8 năm 2009
  206. ^ “Houston Details Drug Use: 'We Laced Marijuana With Rock Cocaine'”. Contactmusic.com. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  207. ^ Nekesa Mumbi Moody (Associated Press), "Whitney Houston, pop superstar, dies in Beverly Hills hotel"[liên kết hỏng] The Globe and Mail, ngày 11 tháng 2 năm 2012
  208. ^ Voice of America. 9 tháng 6 năm 2009-voa47.cfm Whitney Houston Album Due Out Sept. 1; 'American Idol' Auditions Kick Off; ngày 9 tháng 6 năm 2009 [9 tháng 6 năm 2009-voa47.cfm archived ngày 10 tháng 6 năm 2009; Retrieved ngày 13 tháng 1 năm 2010].
  209. ^ “Whitney Houston's weird performance on The X Factor gives her top five hit”. The Telegraph. 20 tháng 10 năm 2009. 
  210. ^ “Nearly 15m watch X Factor as Cheryl Cole performs solo single (apart from the bits she mimed)”. Mail Online. 20 tháng 10 năm 2009. 
  211. ^ “Whitney Houston sparkles on Italian X Factor”. Metro. 22 tháng 10 năm 2009. 
  212. ^ “Whitney Conquers Italy - Again!”. Whitney Houston. 21 tháng 10 năm 2009. 
  213. ^ 'I Look to You' Album Certified Platinium”. Whitney Houston. 1 tháng 12 năm 2009. 
  214. ^ "Whitney Houston" 25th Anniversary”. Whitney Houston. 20 tháng 11 năm 2009. 
  215. ^ “This just in: Whitney Houston disappoints in Australia, Charlie Sheen enters rehab, Placido Domingo to undergo surgery”. The Washington Post. 24 tháng 2 năm 2010. 
  216. ^ “Whitney cancels more shows”. ITN. 24 tháng 2 năm 2010. 
  217. ^ “Whitney Houston Postpones Paris Show Due To Illness”. Billboard. 24 tháng 2 năm 2010. 
  218. ^ “Houston eyes will.i.am collaboration”. Digital Spy. 6 tháng 4 năm 2010. 
  219. ^ “Whitney Houston in Talks to Star Alongside Jordin Sparks in 'Sparkle' Remake”. Billboard. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  220. ^ “Whitney Houston circling 'Sparkle' musical remake with Jordin Sparks”. Entertainment Weekly. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  221. ^ “Whitney Houston in Talks to Star in Music-Themed Drama 'Sparkle' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  222. ^ “Cee-Lo Green joins ‘Sparkle' cast”. Variety. Truy cập 23 tháng 9 năm 2011. 
  223. ^ “Sony dates a trio of pics”. Variety. Truy cập 8 tháng 12 năm 2011. 
  224. ^ “Volledige naam”. Twitter. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  225. ^ “WORLD PREMIERE: Whitney Houston & Jordin Sparks Duet ‘Celebrate’ From ‘Sparkle’ [AUDIO]”. ryanseacrest.com. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  226. ^ “Havin a fun day/nite on#celebrate video”. Twitter. Truy cập 30 tháng 5 năm 2012. 
  227. ^ “Guys!!! Don't forget! TONIGHT”. Twitter. Truy cập 4 tháng 6 năm 2012. 
  228. ^ Maury Dean. Rock 'n' roll: Gold rush: a singles un-encyclopedia. Algora Publishing; June 1, 2003. ISBN 978-0-87586-207-1. p. 87.
  229. ^ a ă Powers, Ann. "Album Review: Whitney Houston's 'I Look To You'". Los Angeles Times. August 25, 2009
  230. ^ Times UK. Whitney Houston: the life, death and rebirth of a pop princess [Retrieved February 5, 2012].
  231. ^ Blender Magazine's 22 Greatest Voices [Retrieved January 13, 2010].
  232. ^ COVE. 100 Outstanding Pop Vocalists [Retrieved January 13, 2010].
  233. ^ New York Times. POP REVIEWS: Part Divas, Part Goddesses: 2 Women of Glamour and Music; Whitney Houston At Radio City [Retrieved June 4, 2012].
  234. ^ Jann S. Wenne. Photos: Ten Incredible Whitney Houston Performances; February 13, 2012 [Retrieved February 18, 2012].
  235. ^ A Voice of Triumph, the Queen of Pain. February 12, 2012 [Retrieved February 18, 2012]. The New York Times Company.
  236. ^ “Higher and Higher”. VIBE (bằng tiếng English) (Published by Vibe Media Group) 6 (9): 95. Tháng 11 năm 1998. ISSN 1070-4701. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014. 
  237. ^ BBC. Whitney Houston and the art of melisma; February 15, 2012 [Retrieved February 20, 2012].
  238. ^ "If Ella Fitzgerald is the queen of jazz, Billie Holiday first lady of the blues, and Aretha Franklin the queen of soul, then who is the queen of pop? In the 1990s, it would seem to be a three-way tie between Whitney Houston, Mariah Carey, and Celine Dion. Certainly all three have their devotees and detractors, but their presence has been inescapable." in Divafication: The Deification of Modern Female Pop Stars. 2001:1.
  239. ^ Holden, Stephen. Review/Pop; For Whitney Houston, Showy Doesn't Count: The Show Is the Voice. The New York Times. July 22, 1993 [Retrieved March 13, 2011].
  240. ^ Oh, Whitney – for Heaven's Sake; November 24, 1996 [Retrieved March 6, 2011].
  241. ^ “Whitney Houston biography”. Rolling Stone. Truy cập 12 tháng 2 năm 2012. 
  242. ^ “Whitney Houston Gets Bad Press”. The Washington Post. Truy cập 6 tháng 4 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  243. ^ “Fears for Whitney Houston grows”. TCM Breaking News. Truy cập 11 tháng 9 năm 2001. 
  244. ^ “Whitney Insider Tells of Drug Use, Failed Intervention”. Rolling Stone. Truy cập 7 tháng 6 năm 2000.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  245. ^ 23 tháng 12 năm 2004#celeb5 “Houston was replaced at that Oscar telecast by singer Faith Hill.”. IMDB. Truy cập 23 tháng 12 năm 2004. 
  246. ^ “Transcript: Whitney Houston: 'I'm a Person Who Has Life'. abc News. Truy cập 13 tháng 2 năm 2012. 
  247. ^ “The Rolling Stone Money Report: The pop stars who earned the most last year – and how they did it”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  248. ^ “Reports of Whitney Houston's Death Denied”. abc News. Truy cập 13 tháng 9 năm 2001. 
  249. ^ “In Switch, Whitney Houston has to sell an Album”. The New York Times. Truy cập 11 tháng 9 năm 2002. 
  250. ^ "'Celebrity Justice' Producer Discusses Whitney Houston Trial", CNN, ngày 5 tháng 12 năm 2002.
  251. ^ Transcript of Primetime Live feature, ABC, ngày 4 tháng 12 năm 2002; hosted at fan site Whitney-Fan.com
  252. ^ “Cash-strapped Houston to auction memorabilia Toronto Star”. thestar.com. 3 tháng 1 năm 2007. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  253. ^ 3 tháng 1 năm 2007T221146Z_01_N03276278_RTRIDST_0_PEOPLE-HOUSTON-AUCTION-DC.XML “Business & Financial News, Breaking US & International News”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]