Toni Braxton

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Toni Braxton
Toni Braxton press photo 2015.png
Toni Braxton năm 2015
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Toni Michele Braxton
Sinh 7 tháng 10, 1967 (50 tuổi)
Severn, Maryland, Mỹ
Thể loại
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc sĩ dương cầm, nhà sản xuất âm nhạc, diễn viên, nhà sản xuất truyền hình, nhân vật truyền hình
Nhạc cụ Giọng hát, piano
Năm hoạt động 1989–hiện tại
Hãng đĩa LaFace
Arista
Blackground
Atlantic
Motown
Hợp tác với The Braxtons, Whitney Houston, Celine Dion, Anita Baker, Mariah Carey, Tamar Braxton, Traci Braxton, Babyface, Lisa Lopes, R. Kelly, Kenny G, Trina Braxton, Method Man & Redman
Website tonibraxton.com

Toni Michele Braxton (sinh ngày 7 tháng 10 năm 1967)[1] là ca sĩ kiêm nhạc sĩ nhạc R&B, nghệ sĩ dương cầm, nhà sản xuất âm nhạc, diễn viên, nhân vật truyền hình, và nhà từ thiện người Mỹ. Bắt đầu được biết đến vào những năm 1990, Braxton đã nhanh chóng trở thành một biểu tượng của dòng nhạc R&B và trở thành một trong những nữ nghệ sĩ bán chạy nhất của thập kỷ, cũng như nhận được danh hiệu cao quý "Nữ hoàng R&B" và được công nhận là một trong những giọng ca xuất sắc nhất của thế hệ này.

Album phòng thu đầu tay mang chính tên cô được phát hành vào năm 1993. Nó đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới,[2] và sản sinh các hit nổi tiếng như "Another Sad Love Song" và "Breathe Again". Bên cạnh đó, album còn giúp Braxton giành ba giải Grammy, bao gồm giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất.[3] Phát hành vào năm 1996, album thứ hai của cô, Secrets, tiếp tục nhận được những sự ca ngợi và thành công lớn, bán được hơn 15 triệu bản trên toàn cầu.[2] Album cho ra đời các đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 là "You're Makin' Me High" và "Un-Break My Heart", trong đó "Un-Break My Heart" đã trở thành bài hát thương hiệu của cô cũng như là đĩa đơn bán chạy thứ hai mọi thời đại bởi một nghệ sĩ nữ. Braxton đã giành hai giải Grammy cho Secrets. Năm 2000, album thứ ba của cô, The Heat, được phát hành. Nó đã bán được hơn 4 triệu bản và bao gồm đĩa đơn hit "He Wasn't Man Enough", giúp Braxton giành thêm một tượng vàng Grammy. Sau đó, cô phát hành thêm ba album nữa - More Than A Woman (2002), Libra (2005) và Pulse (2010), tuy nhiên cô đã phải đối mặt với những xung đột cá nhân và với hãng đĩa trong khoảng thời gian này. Trong năm 2014, Braxton và cộng tác viên lâu năm Babyface phát hành một album song ca mang tên Love, Marriage & Divorce, và giành được một giải Grammy vào đầu năm 2015.[4]

Trong suốt sự nghiệp của mình, Braxton đã bán được hơn 67 triệu bản, trong đó có 41 triệu album trên toàn thế giới.[5] Cô đã giành được 7 giải Grammy, 9 giải giải thưởng âm nhạc Billboard, 7 giải thưởng Âm nhạc Mỹ cùng nhiều giải thưởng khác. Bên cạnh những thành công trong lĩnh vực âm nhạc, Braxton đã trở thành một giám đốc sản xuất và nhân vật truyền hình, tham gia vào chương trình thực tế Dancing with the Stars mùa thứ 7[6] và trong sê-ri truyền hình thực tế Braxton Family Values, nơi Braxton làm điều hành sản xuất và ngôi sao chính từ năm 2011 trên WE tv. Braxton cũng tham gia điều hành sản xuất chương trình với em gái Tamar - The Tamar & Vince trên WE tv. Ngày 18 tháng 9 năm 2011, Braxton đã được giới thiệu vào Viện bảo tàng Âm nhạc Georgia.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Grammy Award.jpg
Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
1994 Toni Braxton Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất Đoạt giải
"Another Sad Love Song" Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Đoạt giải
1995 "Breathe Again" Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Đoạt giải
1996 "I Belong to You" Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Đề cử
1997 "Un-Break My Heart" Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất Đoạt giải
"You're Makin' Me High" Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Đoạt giải
Secrets Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
2001 "He Wasn't Man Enough" Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Đoạt giải
The Heat Album R&B đương đại xuất sắc nhất Đề cử
2015 Love, Marriage & Divorce (với Babyface) Album R&B xuất sắc nhất Đoạt giải

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Taylor, Derrick Bryson (ngày 7 tháng 10 năm 2012). “Happy 45th Birthday, Toni Braxton!”. Essence. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ a ă Jet – Google Livros. Books.google.com. Ngày 17 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ “Toni Braxton”. Yahoo! TV. Ngày 14 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  4. ^ “The Official Site of Music's Biggest Night”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015. 
  5. ^ “Toni Braxton Bio”. Toni Braxton Official Website. 
  6. ^ “Announcing the Stars”. abc.go.com. 2008. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]