Fergie (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Fergie
Fergie đại diện cho The Foundation for AIDS Research tại Life Ball năm 2013
SinhStacy Ann Ferguson
27 tháng 3, 1975 (48 tuổi)
Hacienda Heights, California, Mĩ
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • Nhạc sĩ
  • rapper
  • diễn viên
  • dẫn chương trình truyền hình
  • thiết kế thời trang
Năm hoạt động1984–hiện tại
Phối ngẫu
Josh Duhamel
(cưới 2009⁠–⁠2019)
Con cái1
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Hát
  • piano
  • guitar
Hãng đĩa
Hợp tác vớiWild Orchid, The Black Eyed Peas
Websitewww.fergie.com

Fergie Duhamel[3] (/ˈfɜːrɡi dəˈmɛl/) (tên khai sinh là Stacy Ann Ferguson, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại California, Mỹ),[4][5] với nghệ danh trên sân khấu là Fergie, là một ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ. Cô từng là thành viên của chương trình truyền hình dành cho trẻ em Kids Incorporated và của ban nhạc Wild Orchid. Hiện tại cô đang là giọng hát chính cho nhóm nhạc The Black Eyed Peas và cũng đảm nhiệm luôn vai trò ca sĩ hát solo với album đầu tay The Dutchess thu được nhiều thành công, đặc biệt tại thị trường Mỹ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Fergie sinh ra ở Hacienda Heights, California, Mỹ,[6] là con gái của Terri Jackson và Patrick Ferguson. Cha cô mất vào tháng 9 năm 2021.[7] Cô có một chị gái, cũng là một nghệ sĩ. Cô sinh ra trong một gia đình có yêu nghệ thuật, nên cô rất được ủng hộ khi đi theo con đường này.

Năm 8 tuổi, Fergie tham gia lồng tiếng cho nhân vật SallyLucy trong bộ phim hoạt hình Peanuts về chú chó Snoopy. Từ năm 1984 đến 1989, cô biểu diễn trên show truyền hình dành cho thiếu nhi mang tên Kid Incorporated và nhanh chóng nổi tiếng.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Wild Orchid[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994, Fergie cùng 2 bạn diễn ở Kid IncorporatedStafanie RidelRenee Sandstrom thành lập nhóm nhạc nữ mang tên Wild Orchid. Nhóm nhạc này ra được 2 album là Wild Orchid (1996)Oxygen (1998) và có 4 đĩa đơn lọt vào Billboard Hot 100. Nhưng đến năm 2001, Wild Orchid buộc phải tan rã vì hãng đĩa từ chối hợp tác và không tìm được đối tác phát hành album.

2003–2006: Thành công với Black Eyed Peas[sửa | sửa mã nguồn]

Fergie trong nhóm Black Eyed Peas

Năm 2003, Fergie thu âm ca khúc "Shut Up" cùng 3 thành viên của nhóm nhạc Black Eyed Peas trong album thứ ba của nhóm mang tên Elephunk. Cô còn góp giọng trong 5 ca khúc khác trong album. Khi Elephunk ra mắt, người quản lý hãng thu âm Interscope ấn tượng trước phong cách và giọng hát của Fergie liền cho cô thế vào vị trí của Kim Hill (đã rời nhóm năm 2000) trong nhóm Black Eyed Peas. Khi được hỏi về việc thành lập nhóm, will.i.am đã gọi Fergie là "biểu tượng" cho Black Eyed Peas.[8] Sau khi ca khúc "Where Is the Love?" trong album Elephunk phát hành, nó đã trở thành cú hit đầu tiên của Black Eyed Peas: giữ vị trí thứ 8 trên Billboard Hot 100 và đứng đầu các bảng xếp hạng tại các quốc gia khác. Tiếp đó album phát hành "Shut Up", đứng đầu nhiều bảng xếp hạng trên thị trường. Đĩa đơn thứ ba "Hey Mama" trong album giữ vị trí thứ 10 tại nhiều quốc gia châu Âu và giữ vị trí thứ 23 tại Mỹ vào năm 2004.

Album Monkey Business kế tiếp được phát hành vào ngày 7 tháng 6 năm 2005, giữ vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng album Billboard 200 Mỹ, bán ra với hơn 295.000 bản trong tuần đầu tiên và sau đó đạt 3 chứng nhận bạch kim từ RIAA. Đĩa đơn thương mại cuối cùng trong album là "Pump It", phần lớn âm thanh được mượn từ "Misirlou", phiên bản đặc biệt của Dick Dale; giữ vị trí thứ 8 tại Úc và thứ 18 tại Mỹ. Đĩa đơn đầu tiên của album "Don't Phunk with My Heart" là một bài hit ở Mỹ, giữ vị trí thứ 3 tại Hot 100 Mỹ và đoạt giải Grammy cho hạng mục Màn trình diễn Rap xuất sắc bởi song ca hoặc nhóm. Đĩa đơn thứ hai "Don't Lie" giữ vị trí thứ 14 trên Hot 100 Mỹ nhưng đạt nhiều thành công tại Anh và Úc và giữ vị trí thứ 6 tại cả hai thị trường. "My Humps", một ca khúc khác nằm trong album, nhanh chóng đạt nhiều thành công về mặt thương mại tại thị trường Mỹ và sóng vô tuyến radio mặc dù từ ngữ mang xu hướng gợi dục, giữ vị trí thứ 3 tại Hot 100 Mỹ và vị trí thứ nhất tại Úc, khiến nó trở thành 4 đĩa đơn đạt vị trí thứ nhất tại Úc. Cuối năm 2005, Black Eyed Peas lưu diễn cùng Gwen Stefani. Vào tháng 12 năm 2005, nhóm bắt tau thực hiện "European Tour". Vào tháng 3 năm 2006, Black Eyed Peas thực hiện chuyến lưu diễn một lần nữa trong Honda Civic Tour.

2006–2008: The Dutchess[sửa | sửa mã nguồn]

Fergie tại lễ trao giải 2007 MuchMusic Video Awards vào ngày 17 tháng 6 năm 2007

Album đầu tiên của Fergie The Dutchess được phát hành vào tháng 9 năm 2006. No được ghi âm vào năm 2005.[9] [Interscope CEO] Jimmy Iovine đã nghe thử một vài [ca khúc] và đã thích nó, 'Nó rất là tốt, hãy phát hành nó'.[10] Một trong những nhà sản xuất cho album này là thành viên will.i.am của nhóm nhạc Black Eyed Peas đã nói rằng cô ấy "đã viết về sự đấu tranh và xua đuổi ma quỷ của cô. Bài hát dành cho những cô gái trẻ trở nên mạnh mẽ, và họ phải trải qua mọi điều trong cuộc sống, và tiếp tục lớn lên trong thế giới đầy bất ổn này."[11] "London Bridge" được phát hành ngày 18 tháng 7 năm 2006 trên sóng radio như đĩa đơn chính của the album và ngày 7 tháng 8 năm 2006, trên iTunes.[12] Ca khúc nhận được thành công lớn và dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 (trong 3 tuần) và New Zealand, trong khi đó đạt top 10 đến 20 tại các quốc gia khác.[13] Video ca nhạc bao gồm các thành viên Black Eyed Peas tại Cầu Tháp Luân Đôn[11]

Đĩa đơn "Fergalicious" tiếp theo được phát hành ngày 23 tháng 10 năm 2006. Ca khúc này được hát đệm bởi will.i.am, đạt vị trí thứ hai trên Billboard Hot 100, thứ năm tại Úc và New Zealand, mặc dù giữ vị trí thấp hơn "London Bridge" ở châu Âu.[14] Video ca nhạc được Fergie lấy cảm hứng từ nhà máy kẹo Willy Wonka.[15] "Glamorous" là đĩa đơn thứ ba trong album được phát hành ngày 20 tháng 2 năm 2007. Ca khúc hát đệm bởi Ludacris, trở thành đĩa hơn hạng nhất khác của Fergie tại Mỹ, và đạt top 10 tại hơn bảy quốc gia khác.[16] Đĩa đơn thứ tư "Big Girls Don't Cry" được phát hành ngày 22 tháng 5 năm 2007. Bài ballad đạt nhiều thành công lớn trên toàn cầu, đạt hạng nhất tại 10 quốc gia, bao gồm Úc, Canada và Mỹ; nó cũng là một trong những đĩa đơn của album thành công nhất ở châu Âu.[17] "Clumsy" được chọn làm đĩa đơn thứ 5 và là đĩa đơn cuối cùng của album. Nó được phát hành vào ngày 25 tháng 9 năm 2007 và trở thành một hit top 10 tại năm quốc gia bao gồm Úc và Mỹ.[18]

Vào tháng 12 năm 2007, Blender chọn Fergie là phụ nữ của năm. Vào năm 2007, Black Eyed Peas bắt tay vào Black Blue & You World Tour và ghé thăm trên 20 quốc gia. Fergie quay lại sự nghiệp diễn xuất năm 2006, xuất hiện với tư cách ca sĩ phòng trà trong Poseidon remake. Sau đó cô đóng vai phụ trong Grindhouse năm 2007 và the Nine năm 2009. Fergie và các thành viên khác trong bộ phim Nine đã nhận đề cử cho sự biểu diễn trong phim. Vào ngày 31 tháng 12 năm 2006, Fergie bắt đầu dẫn chương trình Dick Clark's New Year's Rockin' Eve trên ABC cho các phân đoạn Hollywood ghi hình trước sau khi New Year Ball đến Times Square.[19] Vào năm 2008, Fergie đã ký hợp đồng với Brown Shoe để thành lập thương hiệu thời trang giày.[20]

Sự nghiệp solo[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 2 album rất thành công của Black Eyed Peas, Fergie tung ra album solo đầu tiên của mình mang tên The Dutchess phát hành tháng 11 năm 2006.[21] Album này không đồng nghĩa với việc cô sẽ rời bỏ Black Eyed Peas mà nó còn được will.i.am - thành viên trong nhóm làm nhà sản xuất. The Dutchess bán được 279.000 bản trong tuần đầu tiên và đến nay đã tiêu thụ hết 6.3 triệu bản trên toàn thế giới.

Album sản xuất ra 5 đĩa đơn rất thành công của Fergie là "London Bridge", "Fergalicious", "Glamorous", "Big Girls Don't Cry" và "Clumsy". 5 đĩa đơn này đều lọt vào Top 5 tại Mỹ, trong đó có đến 3 đĩa đơn đạt vị trí cao nhất của Billboard Hot 100. Trong đó đáng chú ý nhất "Big Girls Don't Cry" đã quán quân tại nhiều nước trên thế giới và là đĩa đơn quán quân đầu tiên của cô tại United World Chart và được đề cử Grammy cho "Ca khúc nhạc Pop xuất sắc nhất của nữ nghệ sĩ", cũng là ca khúc được download nhiều nhất trên iTunes năm 2007.

Năm 2008, Fergie tiếp tục phát hành lại album The Dutchess: Deluxe Edition có thêm 5 ca khúc mới, trong đó có đĩa đơn "Party People" đã lọt vào Top 40 tại Mỹ và Top 20 tại Anh.

2019–nay: Dự án kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2019, Fergie đến Toronto, Canada để quảng bá hai nhãn giày thời trang, Fergalicious by Fergie và Fergie Footwear, tại cửa hàng cao cấp Hudson's Bay Canada vào tháng 10 năm 2015.[22][23] Fergie Footwear là một dòng cao cấp bán tại cửa hàng cao cấp như Nordstrom, trong khi Fergalicious by Fergie là dòng sản phẩm thấp hơn được bán tại những cửa hàng như Famous Footwear.[20]

Vào năm 2020, Fergie và nhà máy rượu của cha cô Pat Ferguson, được phát hành năm 2006,[7] phát hành 3 dòng rượu mới gọi là 2012 Syrah, 2012 Fergalicious và 2013 Viognier.[24] Tên rượu được đặt theo lời bài hát của Fergie và Black Eyed Peas.[24]

Vào tháng 4 năm 2022, bài hát "First Class" của apper Jack Harlow đạt vị trí thứ nhất tại Billboard Hot 100, một phần bài hát lấy mẫu từ "Glamorous" của Fergie.[25][26][27] Variety báo cáo rằng sau khi đĩa đơn của Harlow phát hành, "Glamorous" đã tăng 70% lượt xem và tăng 125% doanh thu nhạc số.[28] Harlow và Fergie mở màn 2022 MTV Video Music Awards với màn biểu diễn "First Class".[29][30][31] New York Post gọi nó là màn biểu diễn xuất sắc nhất đêm đó.[32]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên album Vị trí trên bảng xếp hạng Doanh thu
Mỹ Anh Canada Úc Pháp Đức
2006 The Dutchess
3
26
4
8
4
11
Mỹ: 3.644.137 bản
Thế giới: 6.266.000 bản

Đĩa đơn quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên ca khúc Vị trí cao nhất
Hoa Kỳ
Mỹ
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Anh
Canada
Canada
Úc
Úc
New Zealand
New Zealand
Brasil
Brasil
Cộng hòa Ireland
Ireland
Đức
Đức

Thế giới
2006 "London Bridge"
1
4
16
3
1
1
3
3
2
"Fergalicious"(với will.i.am)
2
62
24
3
5
1
38
23
4
2007 "Glamorous" (với Ludacris)
1
6
12
2
9
36
3
16
4
"Big Girls Don't Cry"
1
2
1
1
1
1
1
6
1
Tổng
Đĩa đơn quán quân
3
0
1
1
2
3
1
0
1

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai trò Ghi chú
1986 Monster in the Closet Lucy
1998 Outside Ozona Girl
2000 The Gentleman Bandit Zeke's Girlfriend
2005 Be Cool Herself
2006 Poseidon Gloria
2007 Planet Terror Tammy Visan
2008 Madagascar: Escape 2 Africa Bạn gái của Hippo Lồng tiếng
2009 Arthur and the Revenge of Maltazard Replay Lồng tiếng
2009 Nine Saraghina Đề cử — Giải SAG cho dàn diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất
2010 Marmaduke Jezebel Lồng tiếng
2011 Steve Jobs: One Last Thing Chính cô Tài liệu
2017 Double Dutchess: Seeing Double Fenix/chính cô

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai trò Ghi chú
1984–1989 Kids Incorporated Stacy Vai chính (Mùa 1–6)
1984 It's Flashbeagle, Charlie Brown Sally Brown (lồng tiếng) Truyền hình đặc biệt
1985 Snoopy's Getting Married, Charlie Brown Sally Brown (lồng tiếng) Truyền hình đặc biệt
1985–1986 The Charlie Brown and Snoopy Show Sally Brown / Patty Lồng tiếng vai chính
1986 Mr. Belvedere Beth "Valentine's Day" (mùa 2; tập 18)
1994 Married... with Children Ann "Nooner or Nothing" (mùa 8; tập 21)
1995 California Dreams Christy "Tiffani's Gold" (mùa3; tập 17)
1998–2001 Great Pretenders Host Mùa 1–3
2003 Rocket Power Shaffika (lồng tiếng) "Reggie's Big (Beach) Break" (mùa 3; tập 16)
2004 Las Vegas Chính cô (cùng với the Black Eyed Peas) "Montecito Lancers" (mùa 2; tập 7)
2006 Instant Def Ella Fitzpatrick (Tag) / Bad Seed Ella Vai chính
2007–2016 Dick Clark's New Year's Rockin' Eve Host Hollywood concert segments
2007 Class of 3000 Mrs. Claus (lồng tiếng) "Class of 3000 Christmas Special" (mùa 2; tập 9)
2009–2012 The Cleveland Show Jill / Mrs. Richter / Vanessa Lồng tiếng; "Pilot" (mùa 1; tập 1)
"Buried Pleasure" (mùa 1; tập 13)
"Jesus Walks" (mùa 3; tập 19)
2011 Avon Voices Giám khảo/ Mentor
2012 Fanboy & Chum Chum Copy Kitten / Teacher's Pet "Super Chums" (mùa 2; tập 25)
2012 Kick Buttowski: Suburban Daredevil April (lồng tiếng) "Bromance" (mùa 2; tập 16b)
2013 Fashion Police Mentor khách mời "April 12, 2013" (mùa 8; tập 16)
"Ngày 11 tháng 6 năm 2013" (mùa 8; tập 25)
2018 The Four: Battle for Stardom Host Season 1–2[33]
2018 The Launch Mentor khách mời "Soldier of Love" (mùa 1; tập 4)[34]
2018 The Talk Guest co-host Mùa 8; tập 186[35]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Fergie finally talks Hip-Hop!”. Blue and Soul. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ “Fergie: Cheryl could turn any girl”. Independent.ie. 18 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2021.
  3. ^ “Call Her Mrs. Duhamel! Fergie Legally Changes Her Name”.
  4. ^ “Fergie: Singer (1975–)”. Biography.com (FYI / A&E Networks). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  5. ^ Kellman, Andy. “Fergie Biography”. AllMusic. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  6. ^ “Fergie: From films and concerts to flooring her Brentwood home”. MediaNews Group, Inc. 20 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021. The Hacienda Heights-born rap singer and Black Eyed Peas frontperson,[...]
  7. ^ a b Garner, Glenn (30 tháng 9 năm 2021). “Fergie Mourns Death of Her Father Pat in Heartfelt Tribute: 'Best Dad a Girl Could Ever Ask For'. people.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
  8. ^ Give Peas A Chance Lưu trữ 2009-02-15 tại Wayback Machine Blender, Tháng 3 năm 2006
  9. ^ “Black Eyed Peas Back In "Business". Billboard. 11 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
  10. ^ “Q&A: Fergie And Will.I.Am On "The Dutchess". Billboard. 26 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2014.
  11. ^ a b Vineyard, Jennifer (11 tháng 7 năm 2006). “Black Eyed Peas' Fergie Gets Rough And Regal In First Video From Solo LP”. MTV News. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2014.
  12. ^ “iTunes - Music - London Bridge - Fergie”. iTunes. tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  13. ^ “Fergie - London Bridge - Music Charts”. Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  14. ^ “Fergie and Will.I.Am - Fergalicious - Music Charts”. Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  15. ^ Slezak, Michael (23 tháng 10 năm 2006). “Snap judgment: Fergie's 'Fergalicious'. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  16. ^ “Fergie and Ludacris - Glamorous - Music Charts”. Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  17. ^ “Fergie - Big Girls Don't Cry - Music Charts”. Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  18. ^ “Fergie - Clumsy - Music Charts”. Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  19. ^ Hudak, Joseph (28 tháng 12 năm 2007). “Preview: New Year's Eve Programming Guide!”. TVGuide.com. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012.
  20. ^ a b Kumar, Kavita. “Brown Shoe hopes Fergie line goes "boom, boom, pow". STLtoday.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
  21. ^ “Fergie Discography and Lyrics”. Stagestars.net. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2008.
  22. ^ Slone, Isabel (27 tháng 3 năm 2019). “We Spoke With Fergie About Her Shoe Line, Motherhood and the True Meaning of Fergalicious”. FASHION Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
  23. ^ Fergie Talks Favourite TV Show, Dessert And More! (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022
  24. ^ a b “Fergie New Wines Paired With Her Song Lyrics; Ferguson Crest”. PEOPLE.com (bằng tiếng Anh). 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
  25. ^ “Fergie Is Back On The Charts With A Huge New Hit Single...Sort Of”. Metro Weekly (bằng tiếng Anh). 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022.
  26. ^ “Listen to Jack Harlow's Fergie-sampling new single "First Class". NME (bằng tiếng Anh). 8 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022.
  27. ^ Garcia, Thania (27 tháng 5 năm 2022). “Revisiting Fergie's "Glamorous" as Jack Harlow's "First Class" Interpolation Takes the 2006 Hit to New Heights”. Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2022.
  28. ^ Garcia, Thania (26 tháng 4 năm 2022). “Jack Harlow's Fergie-Sampling Smash "First Class" Gives "Glamorous" a Streaming Bump”. Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2022.
  29. ^ “Jack Harlow Brought Fergie Out for 'First Class' Performance”. PAPER (bằng tiếng Anh). 29 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  30. ^ “Jack Harlow Brings Out Fergie For A Shocking 'First Class' Performance”. iHeart (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  31. ^ Aswad, Jem; Aswad, Jem (29 tháng 8 năm 2022). “Fergie Opens VMAs, Performing 'First Class' and 'Glamorous' With Jack Harlow”. Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  32. ^ Arnold, Chuck (29 tháng 8 năm 2022). “VMAs 2022 best and worst performances: Nicki Minaj, Fergie were hot, Blackpink not so much”. New York Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2022.
  33. ^ Arnowitz, Leora (tháng 1 năm 2018). “Fergie reveals emotional experience filming 'The Four': 'I was just tearing up'. Fox News. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2019.
  34. ^ Bowsher, Allison (1 tháng 2 năm 2018). “The Launch just showed us the stunning evolution of new artist POESY”. The loop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018.
  35. ^ Hooyman, Sabrina (19 tháng 6 năm 2018). “Valentine joins guest Fergie on The Talk”. iHeartRadio. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]