End Game (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
"End Game"
Đĩa đơn của Taylor Swift hợp tác với Ed SheeranFuture
từ album Reputation
Phát hành14 tháng 11, 2017 (2017-11-14)
Định dạng
Thu âm
Thể loạiR&B[1]
Thời lượng4:04
Hãng đĩaBig Machine
Sáng tác
Sản xuất
  • Max Martin
  • Shellback
Thứ tự đĩa đơn của Taylor Swift
"...Ready for It?"
(2017)
"End Game"
(2017)
"New Year's Day"
(2017)
Thứ tự đĩa đơn của Ed Sheeran
"Boa Me"
(2017)
"End Game"
(2017)
"River"
(2017)
Thứ tự đĩa đơn của Future
"Real Thing"
(2017)
"End Game"
(2017)
"Patek Water[2]"
(2017)
Đoạn nhạc mẫu
trợ giúpthông tin
Video âm nhạc
"End Game" trên YouTube

"End Game" là một bài hát của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc Taylor Swift, hợp tác với nam ca sĩ người Anh Ed Sheeran và nam rapper người Mỹ Future, nằm trong album phòng thu thứ sáu của cô, Reputation (2017). Bài hát, được sáng tác bới bộ ba các nghệ sĩ trên cùng với hai nhà sản xuất thu âm Max MartinShellback, được phát hành lần đầu tiên tại đài phát thanh nhạc pop đương đại tại Pháp với vai trò là đĩa đơn thứ ba từ album vào ngày 14 tháng 11 năm 2017.[3]

Vị trí xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Swift và Sheeran biểu diễn "End Game" lần đầu tiên tại buổi hoà nhạc iHeartRadio Jingle Ball vào ngày 2 tháng 12 năm 2017.[4]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 12, Sheeran xác nhận rằng video âm nhạc của bài hát sẽ được phát hành.[5]

Vào ngày 10 tháng 1 năm 2018, Swift tiết lộ thông qua ứng dụng mạng xã hội "The Swift Life" rằng video âm nhạc của bài hát sẽ được ra mắt vào ngày 12 tháng 1 và một đoạn giới thiệu (teaser) của video sẽ được phát trên chương trình Good Morning America. Cô cũng đã đăng tải một số hình ảnh lấy từ video lên mạng. Ngày hôm sau, Swift đăng tải lên mạng đoạn giới thiệu của video trên mạng xã hội.[cần dẫn nguồn]

Ngày 12 tháng 1 năm 2018, video xuất hiện lần đầu tiên trên kênh Vevo chính thức của Swift. Nó là video âm nhạc thứ bảy của Swift do Joseph Kahn đạo diễn. Video cho ta thấy cảnh Swift tiệc tùng ở nhiều địa điểm - cùng với Future trên một chiếc du thuyền tại Miami, Florida, cùng với Sheeran tại một hộp đêm ở Tokyo, Nhật Bản, và cùng nhiều người bạn trong một chiếc xe buýt hai tầngLuân Đôn, Anh. Trong cảnh quay ở Miami, ta có thể nhận thấy được Future đang lái một chiếc Lamborghini Aventador trị giá hơn 500.000 đô-la Mỹ (khoảng 11 tỷ đồng). Trong một trong những cảnh quay ở Luân Đôn, ta có thể thấy rằng Swift đang ngồi ở một quán bar và chơi trò chơi Snake (tức Rắn)[a] trên một chiếc máy chơi game cầm tay, cưỡi một chiếc xe mô-tô qua Tokyo trong khi đang mặc một bộ đồ da rắn và nhấm nháp đồ uống bằng một chiếc ống hút hình rắn, tất cả đều liên quan đến danh tiếng "nữ hoàng rắn" của cô.[6] Video đạt được 14,4 triệu lượt xem trong vòng 24 giờ sau khi được đăng tải lên YouTube. Tính đến tháng 3 năm 2018, video đã có hơn 150 triệu lượt xem.

Tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift và Ed Sheeran ngồi trong hộp đêm
Swift và Sheeran trong một cảnh quay của video âm nhạc của "End Game", cho thấy cảnh hai người đang ngồi trong hộp đêm và cười đùa với nhau.

Video bắt đầu với tốc độ hơi chậm với cảnh quay Swift đang nhìn ra ngoài cửa sổ của một toà nhà cao tầng, nhưng sau đó thì tốc độ của video nhanh dần lên cùng với nhịp điệu của bài hát. Trong suốt video, Swift đã du lịch đến nhiều thành phố khác nhau. Bắt đầu ở Miami, rồi đến Tokyo và dừng lại ở Luân Đôn. Tại các thành phố, tất cả các ngôi sao âm nhạc (của bài hát) đều ra ngoài, và cô đã bắt đầu tiệc tùng trong đêm. Trong mỗi cảnh đều có ánh sáng mờ ảo, tạo cho video một cảm giác bí ẩn lạ kỳ,

Khi cô đi từ thành phố này đến thành phố khác, cô cũng thay đổi người bạn đồng hành từ ở bên cạnh Future chuyển sang đi chơi với Ed Sheeran. Swift diện một bộ độ đen từ đầu đến chân khi cô ở cùng Future, và khi cô bên cạnh Ed Sheeran, cô mặc một bộ trang phục sáng sủa hơn—một chiếc áo vải flannel và quần đùi.

Sheeran và Swift tỏ vẻ vui đùa với nhau trong video, thể hiện qua việc Swift ăn cướp kính của Sheeran và cả hai người đã nhảy múa cùng nhau. Hai người này có vẻ như đang tán tỉnh lẫn nhau như trong video cho thấy.

Cô bắt đầu video với một mái tóc xoã xuống, diện lên người một cái áo crop top (áo nửa người của nữ) lên người và một cái quần dài. Trong khi ở Tokyo, cô mặc một chiếc áo khoác lông thú màu đen âm u trong một cảnh quay, nhưng trong cảnh tiếp theo thì lại mặc một chiếc áo sơ mi vải flannel với quần đùi. Ở Luân Đôn, cô diện lên người một chiếc váy kẻ sọc đầy màu sắc rất táo bạo và đáng nhớ. Sự xuất hiện của chiếc váy kẻ sọc này là hoàn toàn bất ngờ, kể từ khi cô chỉ lựa chọn mặc những bộ quần áo màu đen và nhìn có vẻ hơi hướng về quá khứ.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2017–18) Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[7] 36
Bỉ (Ultratip Flanders)[8] 8
Bỉ (Ultratip Wallonia)[9] 19
Canada (Canadian Hot 100)[10] 11
Canada CHR/Top 40 (Billboard)[11] 17
Canada Hot AC (Billboard)[12] 30
Colombia (National Report)[13] 84
Costa Rica (Monitor Latino)[14] 6
Cộng hoà Séc (Singles Digitál Top 100)[15] 63
Dominican Republic (Monitor Latino Anglo)[16] 9
El Salvador (Monitor Latino)[17] 14
Pháp (SNEP)[18] 130
Ireland (IRMA)[19] 68
Israel (Media Forest TV Airplay)[20] 2
New Zealand Heatseekers (RMNZ)[21] 2
Philippines (Philippine Hot 100)[22] 84
Ba Lan (Polish Airplay Top 20)[23] 52
Bồ Đào Nha (AFP)[24] 81
Scotland (Official Charts Company)[25] 54
Slovakia (Singles Digitál Top 100)[26] 64
Anh Quốc (Official Charts Company)[27] 49
Hoa Kỳ Billboard Hot 100[28] 18
Hoa Kỳ Adult Top 40 (Billboard)[29] 13
Hoa Kỳ Dance/Mix Show Airplay (Billboard)[30] 18
Hoa Kỳ Pop Songs (Billboard)[31] 10
Hoa Kỳ Rhythmic (Billboard)[32] 25

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[33] Vàng 35.000^
Brazil (ABPD)[34] Vàng 20,000*
Canada (Music Canada)[35] Vàng 40.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[36] Vàng 500.000double-dagger

^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng
double-daggerChứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ/stream

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày Định dạng Hãng đĩa T.k.
Pháp 14 tháng 11 năm 2017 Đài phát thanh hit đương đại Big Machine [3][37]
Hoa Kỳ 3 tháng 12 năm 2017 [38]
Liên hiệp Anh 26 tháng 1 năm 2018 [39]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Snake là một thể loại trò chơi điện tử mà người chơi điều khiển một đường thẳng một cách kỹ càng và linh hoạt. Đường thẳng này lớn dần và dần dần chính nó lại chính là chướng ngại vật cho sự dài ra của đường thẳng theo thời gian. Xem thêm về trò chơi Snake tại Snake (video game genre).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rob Sheffield (10 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift 'Reputation' Is the Most Intimate LP of Taylor Swift's Carrer”. Rolling Stone. Wenner Media LLC. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017. 
  2. ^ “Top 40 Rhythmic Future Releases”. All Access. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ a ă “Taylor Swift propose « End Game » aux radios françaises, un titre partagé avec Ed Sheeran et Future”. Aficia. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ “Taylor Swift, Ed Sheeran rock Jingle Ball with first live performance of 'End Game'. Entertainment. 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017. 
  5. ^ Calvario, Liz (2 tháng 12 năm 2017). “Taylor Swift and Ed Sheeran Are BFF Goals While Performing 'End Game' at Jingle Ball -- Watch!”. ET Online. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017. 
  6. ^ D'Aluisio, Alexandra (12 tháng 1 năm 2018). “Taylor Swift Made a Ton of Snake References in the “End Game” Video”. Clevver. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018. 
  7. ^ "Australian-charts.com - Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future - End Game". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  8. ^ "Ultratop.be - Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future - End Game" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2018.
  9. ^ "Ultratop.be - Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future - End Game" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2018.
  10. ^ "Taylor Swift - Chart history" Canadian Hot 100 của Taylor Swift. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  11. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Canada CHR/Top 40 của Taylor Swift. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  12. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Canada Hot AC của Taylor Swift. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  13. ^ “Top 100 Colombia – Del 02/03/2018 al 08/03/2018”. National Report. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018. 
  14. ^ “Top 20 Costa Rica – Del 12 al 18 de Marzo, 2018” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Monitor Latino. Ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2018. 
  15. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Digital Top 100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 20183 vào ô tìm kiếm. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018.
  16. ^ “Top 20 Anglo Republica Dominicana” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Monitor Latino. Ngày 18 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2018. 
  17. ^ “Top 20 El Salvador – Del 19 al 25 de Febrero, 2018” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Monitor Latino. Ngày 19 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2018. 
  18. ^ "Lescharts.com - Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future - End Game" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  19. ^ “IRMA – Irish Charts”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018. 
  20. ^ “Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future – End Game Media Forest”. Mediaforest.biz. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018. 
  21. ^ “NZ Heatseeker Singles Chart”. Recorded Music NZ. Ngày 11 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017. 
  22. ^ “BillboardPH 100”. Billboard Philippines. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018. 
  23. ^ "Listy bestsellerów, wyróżnienia :: Związek Producentów Audio-Video". Polish Airplay Top 20. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018.
  24. ^ “Portuguesecharts.com – Taylor Swift feat. Ed Sheeran & Future – End Game”. AFP Top 100 Singles. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  25. ^ "Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2018.
  26. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Singles Digital Top 100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 20183 vào ô tìm kiếm. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018.
  27. ^ "Archive Chart: 20180119" UK Singles Chart. Official Charts Company. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018.
  28. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Hot 100 của Taylor Swift. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  29. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Adult Pop Songs của Taylor Swift. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  30. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Dance/Mix Show Airplay của Taylor Swift. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  31. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Pop Songs của Taylor Swift. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2018.
  32. ^ "Taylor Swift - Chart history" Billboard Rhythmic Songs của Taylor Swift. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  33. ^ “ARIA Chart Watch #461”. auspOp. Ngày 24 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2018. 
  34. ^ “Brasil single certifications – Taylor Swift – End Game” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018. 
  35. ^ “Canada single certifications – Taylor Swift – End Game (Feat. Ed Sheeran & Future)”. Music Canada. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  36. ^ “American single certifications – Taylor Swift – End Game” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  37. ^ “Taylor Swift Sends Both 'New Year's Day' and 'End Game' to Radio”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017. 
  38. ^ “New USA Single”. Radio 1. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017. 
  39. ^ “BBC – Radio 1 – Playlist”. BBC Radio 1. 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.