Taylor Swift's Reputation Stadium Tour

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Taylor Swift's reputation Stadium Tour
Chuyến lưu diễn của Taylor Swift
220px
Album liên kếtreputation
Ngày bắt đầu8 tháng 5, 2018 (2018-05-08)
Ngày kết thúc21 tháng 11, 2018 (2018-11-21)
Số chặng diễn5
Số buổi diễn
  • 40 tại Bắc Mỹ
  • 6 tại Châu Âu
  • 5 tại Châu Đại Dương
  • 2 tại Châu Á
  • 53 tổng cộng
Doanh thu345.7 triệu USD[1]
Thứ tự buổi diễn của Taylor Swift

Taylor Swift's reputation Stadium Tour[2]chuyến lưu diễn hoà nhạc thứ năm của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ sáu của cô, Reputation. Chuyến lưu diễn bắt đầu vào ngày 8 tháng 5 năm 2018 tại Glendale và kết thúc vào ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại Tokyo, bao gồm 53 buổi biểu diễn. Các nghệ sĩ hỗ trợ cho chuyến lưu diễn gồm có Charli XCX, Camila CabelloBroods.

Một bộ phim tài liệu cùng tên được đạo diễn bởi Paul Dugdale phát hành vào ngày 31 tháng 12 năm 2018 trên Netflix. Bộ phim được ghi hình tại buổi diễn thứ hai ở Arlington, Texas vào ngày 6 tháng 10 năm 2018.[3]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2017, tạp chí Billboard thông báo rằng Swift sẽ sử dụng chương trình Verified Fan của hệ thống bán vé trực tuyến Ticketmaster để bán vé nhằm ngăn ngừa tình trạng bot và những tổ chức mua vé rồi bán lại với giá cao hơn. Chương trình, mang tên "Taylor Swift Tix", cho phép người hâm mộ đặt mua vé trước khi vé được bán rộng rãi bằng cách tham gia vào các hoạt động quảng bá để tăng cao cơ hội nhận mã truy cập đặt vé.[2][4]

Vào ngày 13 tháng 11 năm 2017, ban quản lý của Swift công bố thời gian diễn ra cho 27 buổi biểu diễn đầu tiên ở Bắc Mỹ cùng với trang Tickmaster.[5][6] Vé sau đó đã được mở bán vào ngày 13 tháng 12 năm 2017, ngày sinh nhật thứ 28 của Swift.

Vào cuối tháng 11, Swift đã công bố thêm 3 buổi diễn tại Manchester, Dublin, và Luân Đôn. Do nhu cầu đặt vé cao của người hâm mộ nên cô đã bổ sung thêm 1 buổi diễn nữa ở không chỉ 3 thành phố trên mà còn có cả những thành phố khác tại Bắc Mỹ như Pasadena, Chicago, Đông Rutherford, Foxborough, Toronto và Atlanta.[7][8] Vào ngày 3 tháng 12, Swift công bố thêm 5 buổi diễn tiếp theo tại châu Đại Dương.[9][10] Vào tháng 1 năm 2018, do nhu cầu mua vé to lớn của người hâm mộ, Swift tiếp tục bổ sung buổi biểu diễn thứ hai tại Santa Clara, Landover, Philadelphia, Minneapolis và Arlington và buổi biểu diễn thứ ba ở Đông Rutherford và Foxborough, với tổng cộng là 40 buổi diễn ở chặng Bắc Mỹ.[11]

Vào ngày 1 tháng 3 năm 2018, Swift chính thức thông báo Camila CabelloCharli XCX sẽ là khách mời mở màn cho chuyến lưu diễn. Camila Cabello trước đó cũng được đoán trước rằng sẽ là người mở màn cho chuyến lưu diễn của Swift vì lịch trình của chuyến lưu diễn Never Be the Same Tour của cô không trùng với Swift;[12] đài phát thanh thành phố Portland, Portland's Live 95.5 cũng công bố sự hiện diện của Cabello trong chuyến lưu diễn, cụ thể là bằng một bài viết đã bị xóa trên Twitter quảng cáo về một trò chơi rút thăm trúng thưởng với giải thưởng là một chuyến đi đến buổi hòa nhạc của Swift tại sân vận động Wembley, Luân Đôn vào ngày 22 tháng 6 năm 2018, một ngày trước khi Swift xác nhận thông tin này.[13]

Vào ngày 8 tháng 5 năm 2018, Swift đã công bố 2 buổi biểu diễn ở Tokyo, Nhật Bản. Nữ ca sĩ Charli XCX sẽ là người mở màn.[14]. Vào tháng 9 năm 2018, bộ đôi Broods được thông báo sẽ là người mở màn cho các buổi diễn thuộc chặn châu Đại Dương.[15]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn tại Levi's StadiumSanta Clara.

Chuyến lưu diễn đã đón nhận nhiều đánh giá tích cực, thường được nói đến như là chuyến lưu diễn tuyệt vời nhất trong sự nghiệp âm nhạc của Swift cho đến thời điểm hiện tại và là chuyến lưu diễn nổi bật nhất của năm 2018. Ed Masley đến từ báo The Arizona Republic, đã đánh giá "Có nhiều khoảnh khắc trong những màn trình diễn của Swift mà gợi cho ta thấy được rằng cô ấy đang biểu diễn tới tận những hàng ghế cuối cùng ở sân vận động chỉ đơn giản bằng việc chia sẻ âm nhạc với những người hâm mộ của cô", trong khi tán ngợi khâu thiết kế sản xuất của chuyến lưu diễn và đề cao sự liên kết giữa Swift và đám đông. Jim Harrington, đến từ The Mercury News, khen ngợi sự cải thiện trong kỹ năng hát và trình diễn của nữ ca sĩ qua từng năm: "Buổi biểu diễn của Swift khá đa dạng, cô ấy đều nổi trội ở bất cứ khía cạnh nào của buổi diễn". Chris Tuite, đến từ CBS San Francisco, đã viết: "Thứ duy nhất mà nổi bật hơn quang cảnh Swift trong khi thay đổi trang phục là những con rắn độc ác với kích thước khổng lồ mà xuất hiện như biểu tượng khắp sân khấu". Michael Tritsch từ 303 Magazine đã bình luận về chuyến lưu diễn: "Chuyến lưu diễn này đã đặt một viên gạch đổi mới và nâng cao tiêu chuẩn cho những buổi diễn tại các sân vận động trong tương lai" và "Danh tiếng của chuyến lưu diễn này đã đưa nó vào sử sách".

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng bán vé[sửa | sửa mã nguồn]

Sau bốn ngày bán vé thông qua chương trình Verified Fan và ba ngày bán theo cách thông thường bắt đầu từ ngày 13 tháng 12, chuyến lưu diễn đã thu về 180 triệu USD chỉ từ 33 buổi diễn ở Bắc Mỹ. Pollstar đã báo cáo với dữ liệu thu thập bởi the Gridiron Stadium Network, một công ty con thuộc NFL, đơn vị cùng cộng tác để tổ chức những buổi diễn tại những công trình của họ, cho thấy ít nhất 35,000 vé đã được bán vào ngày 18 tháng 12 ở mười sân vận động mà chuyến lưu diễn đi qua. Lượng vé bán ra tầm khoảng từ 35,419 vé ở Heinz Field đến mức 48,039 vé tại Lincoln Financial Field ở Philadelphia. Với hơn 47,000 vé đã được bán ra đã cho thấy doanh thu ở buổi diễn vào ngày 12 tháng 5 năm 2018 tại Levi's Stadium ở Santa Clara đã gần chạm mức 9 triệu USD, việc này đã khiến Swift bổ sung thêm 1 buổi diễn tại đây.

Theo StubHub, Reputation Stadium Tour là chuyến lưu diễn có lượng vé bán ra cao nhất đối với một nữ nghệ sĩ trong năm 2018 tại Anh Quốc.

Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy buổi trình diễn đầu tiên của chuyến lưu diễn đã mang lại 54 triệu USD với 390,000 vé được bán ra, đưa Swift dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard's Hot Tours tháng 6 năm 2018. Các buổi biểu diễn của nữ ca sĩ đều cháy vé với số lượng vé như 59,157 vé ở Glendale và 107,550 vé ở Santa Clara (2 đêm diễn), đạt doanh thu lần lượt 7,21 triệu USD và 14 triệu USD, trong khi những buổi diễn ở Pasadena đạt doanh thu tới gần 16,3 triệu USD và ở Seattle ước tính khoảng hơn 8,6 triệu USD. Những buổi diễn ở Louisville và Columbus, diễn ra vào tháng 7 năm 2018, thu về 11,5 triệu USD với khoảng 115,000 vé đã được bán, sau đó được cho biết là buổi diễn đã bán được nhiều vé nhất với giá vé cũng cao nhất, khoảng xấp xỉ 63,000 vé và thu lại 6,6 triệu USD.


Những kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn tại Sports Authority Field at Mile HighDenver, với tư cách nữ nghệ sĩ đầu tiên tổ chức buổi diễn tại đây.

Chuyến trình diễn đã tạo ra nhiều kỷ lục cả về doanh thu và người tham dự, vượt qua doanh thu 5,2 triệu $ của Metallica vào tháng 8 năm 2017 khoảng 2 triệu $. Với 59,157 vé được bán ra, nữ ca sĩ cũng đã phá vỡ kỷ lục về số người tham dự của One Direction's Where We Are Tour vào năm 2014 khoảng 2,633 seats. Với 14 triệu $ từ 107,550 vé được bán ra tại sân vận động Levi's [Levi's Stadium], cô ấy đã vượt qua kỷ lục của chính cô ấy cả về doanh thu và số người tham dự từ The 1989 World Tour vào năm 2015. Với hơn 118,000 người hâm mộ tham gia tại Rose Bowl, hai buổi trình diễn đã nhận được 16,2 triệu $ và tạo nên một kỷ lục mới về ngôi sao trình diễn solo, vượt qua kỷ lục của U2 vào năm 2017 khoảng 467,000 $. Tổng hợp lại tất cả những kỷ lục trước tạo bởi U2 đều đã bị phá vỡ tại sân vân động Seattle's CenturyLink Field, nơi mà nữ ca sĩ đã vượt qua Joshua Tree Tour 2017 khoảng 2.4 triệu $, và tại Denver's Sports Authority Field ở Mile High, nơi mà doanh thu của cô ấy đã vượt qua khoảng 6.6 triệu $ so với kỷ lục ban nhạc đã lập ra vào năm 2011 trong chuyến lưu diễn 360° Tour khoảng 1.2 triệu $.

Swift đã làm nên lịch sử khi trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên biểu diễn tại sân vận động Dublin's Croke Park hai lần, với khoảng 136,000 người tham dự trong cả hai đêm đó. Swift trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trình diễn ba đêm liên tiếp tại sân vận động MetLife [MetLife Stadium].

Danh sách tiết mục[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tiết mục này từ buổi trình diễn vào ngày 8 tháng 5 năm 2018 tại Glendale, Arizona. Không phải tiết mục nào cũng hiện diện trong những buổi diễn của chuyến lưu diễn.[16]

  1. "...Ready for It?"
  2. "I Did Something Bad"
  3. "Gorgeous"
  4. "Style" / "Love Story" / "You Belong with Me"
  5. "Look What You Made Me Do"
  6. "End Game"
  7. "King of My Heart"
  8. "Delicate"
  9. "Shake It Off" (with Camila Cabello and Charli XCX)
  10. "Dancing with Our Hands Tied"
  11. "All Too Well"
  12. "Blank Space"
  13. "Dress"
  14. "Bad Blood" / "Should've Said No"
  15. "Don't Blame Me"
  16. "Long Live" / "New Year's Day"
  17. "Getaway Car"
  18. "Call It What You Want"
  19. "We Are Never Ever Getting Back Together" / "This Is Why We Can't Have Nice Things"
Ghi chú
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Landover, đêm diễn thứ hai tại Philadelphia, và đêm diễn thứ ba tại East Rutherford, Swift trình diễn "So It Goes..." thay cho "Dancing with Our Hands Tied".[17]
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Philadelphia, Swift trình diễn hát chay "Our Song" và "Wildest Dreams" vì sự cố sân khấu sau màn trình diễn "Delicate".[18]
  • Trong đêm diễn thứ hai tại East Rutherford, Swift trình diễn "Clean" trước liên khúc "Long Live" / "New Year's Day".[19]
  • Trong các đêm diễn tại Seattle và Tokyo, chỉ có Charli XCX trình diễn "Shake It Off" cùng Swift.
  • Trong đêm diễn tại Perth, Swift trình diễn "Shake It Off" một mình.
  • Trong các đêm diễn tại Melbourne, Sydney, Brisbane, và Auckland, Swift trình diễn "Shake It Off" cùng Charli XCX và Georgia Nott của Broods.
  • Trong đêm diễn tại Sydney, Swift không trình diễn "Dancing With Our Hands Tied".
Bài hát ngẫu hứng

Swift đã trình diễn nhiều bài hát khác nhau từ các album phòng thu của mình tại mỗi buổi diễn thay cho "All Too Well", tất cả đều là phiên bản acoustic:[20]

  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Santa Clara, "Wildest Dreams".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Santa Clara, "The Best Day".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Pasadena, "Red".
  • Trong đêm diễn tại Seattle, "Holy Ground".
  • Trong đêm diễn tại Denver, "Teardrops on My Guitar".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Chicago, "Our Song".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Chicago, "22".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Manchester, "I Knew You Were Trouble".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Manchester, "I Don't Wanna Live Forever".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Dublin, "Mean".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Dublin, "How You Get the Girl".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại London, "So It Goes...".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại London, "Fifteen".
  • Trong đêm diễn tại Louisville, "Mine".
  • Trong đêm diễn tại Columbus, "Sparks Fly".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Landover, "State of Grace".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Landover, "Haunted".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Philadelphia, "Never Grow Up".
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Philadelphia, "Treacherous".
  • Trong đêm diễn tại Cleveland, "Babe".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại East Rutherford, "Welcome to New York".
  • Trong đêm diễn thứ hai East Rutherford, "Fearless".
  • Trong đêm diễn thứ ba tại East Rutherford, "Enchanted".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Foxborough, "22".
  • Trong đêm diễn thứ hai Foxborough, "Change".
  • Trong đêm diễn thứ ba tại Foxborough, "Ours".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Toronto, "Out of the Woods".
  • Trong đêm diễn thứ hai Toronto, "Come Back... Be Here".
  • Trong đêm diễn tại Pittsburgh, "A Place in This World".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Atlanta, "This Love".
  • Trong đêm diễn thứ hai Atlanta, "The Lucky One".
  • Trong đêm diễn tại Tampa, "Invisible".
  • Trong đêm diễn tại Miami Gardens, "Breathe".
  • Trong đêm diễn tại Nashville, "Better Man".
  • Trong đêm diễn tại Detroit, "Jump Then Fall".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Minneapolis, "Begin Again".
  • Trong đêm diễn thứ hai Minneapolis, "Tied Together with a Smile".
  • Trong đêm diễn tại Kansas City, "The Story of Us".
  • Trong đêm diễn tại Indianapolis, "Forever & Always".
  • Trong đêm diễn tại St. Louis, "Hey Stephen".
  • Trong đêm diễn tại New Orleans, "Speak Now".
  • Trong đêm diễn tại Houston, "Wonderland".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Arlington, "White Horse".
  • Trong đêm diễn tại Perth, "I Knew You Were Trouble".
  • Trong đêm diễn tại Melbourne, "I'm Only Me When I'm with You".
  • Trong đêm diễn tại Sydney, "22".
  • Trong đêm diễn tại Brisbane, "Starlight".
  • Trong đêm diễn tại Auckland, "Out of the Woods".
  • Trong đêm diễn đầu tiên tại Tokyo, "I Know Places"
  • Trong đêm diễn thứ hai tại Tokyo, "Wildest Dreams".
Khách mời đặc biệt

Swift đã tạo sự bất ngờ cho người hâm mộ tại một vài buổi diễn bằng việc mời các nghệ sĩ khác cùng lên sân khấu với tư cách khách mời đặc biệt và biểu diễn song ca cùng họ.

Lịch diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách ngày tháng buổi diễn, thành phố, quốc gia, địa điểm tổ chức, nghệ sĩ mở màn, số lượng vé bán ra, số lượng vé có sẵn và doanh thu
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Người mở màn Lượng vé bán Doanh thu
Bắc Mỹ[31]
8 tháng 5 năm 2018 Glendale Hoa Kỳ Sân vận động của trường đại học Phoenix Camila Cabello
Charli XCX
59,157 / 59,157 $7,214,478
12 tháng 5 năm 2018 Santa Clara Sân vận động Levi's 107,550 / 107,550 $14,006,963
13 tháng 5 năm 2018
18 tháng 5 năm 2018 Pasadena Rose Bowl 118,084 / 118,084 $16,251,980
19 tháng 5 năm 2018
22 tháng 5 năm 2018 Seattle CenturyLink Field Charli XCX[a] 56,021 / 56,021 $8,672,219
25 tháng 5 năm 2018 Denver Sports Authority Field at Mile High Camila Cabello
Charli XCX
57,140 / 57,140 $7,926,366
1 tháng 6 năm 2018 Chicago Soldier Field 105,208 / 105,208 $14,576,697
2 tháng 6 năm 2018
Châu Âu
8 tháng 6 năm 2018 Manchester Anh Sân vận động Etihad Camila Cabello
Charli XCX
77,258 / 77,258 $6,169,724
9 tháng 6 năm 2018
15 tháng 6 năm 2018 Dublin Ireland Croke Park 133,034 / 133,034 $8,567,769
16 tháng 6 năm 2018
22 tháng 6 năm 2018 Luân Đôn Anh Sân vận động Wembley 143,427 / 143,427 $12,214,933
23 tháng 6 năm 2018
Bắc Mỹ
30 tháng 6 năm 2018 Louisville Hoa Kỳ Sân vận động Papa John's Cardinal Camila Cabello
Charli XCX
52,138 / 52,138 $4,928,219
7 tháng 7 năm 2018 Columbus Sân vận động Ohio 62,897 / 62,897 $6,606,529
10 tháng 7 năm 2018 Landover FedExField 95,672 / 95,672 $11,396,004
11 tháng 7 năm 2018
13 tháng 7 năm 2018 Philadelphia Lincoln Financial Field 107,378 / 107,378 $11,951,047
14 tháng 7 năm 2018
17 tháng 7 năm 2018 Cleveland Sân vận động FirstEnergy 51,323 / 51,323 $5,148,757
20 tháng 7 năm 2018 East Rutherford Sân vận động MetLife 165,654 / 165,654 $22,031,386
21 tháng 7 năm 2018
22 tháng 7 năm 2018
26 tháng 7 năm 2018 Foxborough Sân vận động Gillette 174,764 / 174,764 $21,779,846
27 tháng 7 năm 2018
28 tháng 7 năm 2018
3 tháng 8 năm 2018 Toronto Canada Trung tâm Rogers 100,310 / 100,310 $11,177,000
4 tháng 8 năm 2018
7 tháng 8 năm 2018 Pittsburgh Hoa Kỳ Heinz Field 56,445 / 56,445 $6,230,876
10 tháng 8 năm 2018 Atlanta Sân vận động Mercedes-Benz 116,746 / 116,746 $18,089,415
11 tháng 8 năm 2018
14 tháng 8 năm 2018 Tampa Sân vận động Raymond James Stadium 55,909 / 55,909 $7,244,264
18 tháng 8 năm 2018 Miami Sân vận động Hard Rock 47,818 / 47,818 $7,072,164
25 tháng 8 năm 2018 Nashville Sân vận động Nissan 56,112 / 56,112 $9,007,179
28 tháng 8 năm 2018 Detroit Ford Field 49,458 / 49,458 $6,597,845
31 tháng 8 năm 2018 Minneapolis Sân vận động U.S. Bank 98,773 / 98,773 $10,242,023
1 tháng 9 năm 2018
8 tháng 9 năm 2018 Thành phố Kansas Sân vận động Arrowhead 58,611 / 58,611 $6,730,138
15 tháng 9 năm 2018 Indianapolis Sân vận động Lucas Oil 55,729 / 55,729 $6,531,245
18 tháng 9 năm 2018 St. Louis The Dome at America's Center 47,831 / 47,831 $4,884,054
22 tháng 9 năm 2018 New Orleans Mercedes-Benz Superdome 53,172 / 53,172 $6,491,546
29 tháng 9 năm 2018 Houston Sân vận động NRG 53,800 / 53,800 $9,350,275
5 tháng 10 năm 2018 Arlington Sân vận động AT&T 105,002 / 105,002 $15,006,157
6 tháng 10 năm 2018
Châu Đại Dương[33]
19 tháng 10 năm 2018 Perth Úc Sân vận động Optus Charli XCX
Broods
Không có Không có
26 tháng 10 năm 2018 Melbourne Sân vận động Marvel 63,027 / 63,027 $6,755,570
2 tháng 11 năm 2018 Sydney Sân vận động ANZ 72,805 / 72,805 $7,686,563
6 tháng 11 năm 2018 Brisbane The Gabba 43,907 / 43,907 $4,338,125
9 tháng 11 năm 2018 Auckland New Zealand Sân vận động Mount Smart 29,737 / 29,737 $3,617,601
Châu Á
20 tháng 11 năm 2018 Tokyo Nhật Bản Tokyo Dome Charli XCX 100,109 / 100,109 $14,859,847
21 tháng 11 năm 2018

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Taylor Swift Closes reputation Stadium Tour with $345 Million”. Billboard. 7 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018. 
  2. ^ a ă “Events”. Ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017. 
  3. ^ Abbruzzese, Jason. “Netflix's newest high-profile partner: Taylor Swift”. NBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2018. 
  4. ^ Gensler, Andy. “Taylor Swift And Live Nation Leverage Verified Fan Concert Tickets to Help Sell Music and Merch”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018. 
  5. ^ “TAYLOR SWIFT'S reputation STADIUM TOUR // FIRST ROUND OF DATES ANNOUNCED”. 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  6. ^ Stubblebine, Allison (13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Announces First Round of Reputation Stadium Tour Dates”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  7. ^ Stubblebine, Allison (29 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Adds 9 Dates to Reputation Tour Due To Popular Demand”. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017. 
  8. ^ Fletcher, Harry (1 tháng 12 năm 2017). “Taylor Swift adds extra dates to UK Reputation tour 2018: How to get tickets”. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017. 
  9. ^ McCabe, Kathy (3 tháng 12 năm 2017). “Taylor Swift to do a stadium tour of Australia in 2018”. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017. 
  10. ^ “Taylor Swift has a date with New Zealand”. 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017. 
  11. ^ Rice, Nicholas (3 tháng 1 năm 2018). “Taylor Swift Announces More North American Dates For the Reputation Stadium Tour”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ “Camila Cabello Appears to Be Supporting Taylor Swift on Tour”. MTV. 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018. 
  13. ^ Vulpo, Mike (28 tháng 2 năm 2018). “Is Camila Cabello Going on Tour With Taylor Swift? See the Tweet Raising Eyebrows”. E!. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018. 
  14. ^ Brooks, Dave (8 tháng 5 năm 2018). “Taylor Swift Adds Two Reputation Tour Dates in Tokyo”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  15. ^ “Broods to open for Taylor Swift when she hits New Zealand for first time in five years”. Stuff. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018. 
  16. ^ Sheffield, Rob (9 tháng 5 năm 2018). “Why Taylor Swift's 'Reputation' Tour Is Her Finest Yet”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018. 
  17. ^ Farley, Rebecca (11 tháng 7 năm 2018). “In Washington, D.C., Taylor Swift Finally Performed "So It Goes". Refinery29. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2018. 
  18. ^ Bailey, Alyssa. “Taylor Swift Had the Craziest Weekend and It All Started With a Stage Malfunction Mid-Concert”. Elle. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2018. 
  19. ^ Mastroggianis, Nicole (22 tháng 7 năm 2018). “Taylor Swift Gives "Once In A Life Time" Rain Show in East Rutherford”. iHeartRadio. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018. 
  20. ^ Iasimone, Ashley (26 tháng 5 năm 2018). “All the Surprise Songs Taylor Swift Has Performed on Her Reputation Stadium Tour B-Stage (So Far)”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2018. 
  21. ^ Kreps, Daniel (19 tháng 5 năm 2018). “Watch Taylor Swift Bring Out Shawn Mendes at Rose Bowl Concert”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018. 
  22. ^ Besanvalle, James (20 tháng 5 năm 2018). “Troye Sivan surprises Taylor Swift on stage, drops date and name of new album”. Gay Star News. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018. 
  23. ^ Bailey, Alissa (20 tháng 5 năm 2018). “Selena Gomez and Taylor Swift Performed Together on the Reputation Tour, and It Was a Total Love Fest”. ELLE. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2018. 
  24. ^ Whittum, Connor (22 tháng 6 năm 2018). “Taylor Swift & Niall Horan Sing 'Slow Hands' Together During London Reputation Tour Stop”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  25. ^ Kreps, Daniel (23 tháng 6 năm 2018). “Watch Taylor Swift, Robbie Williams Perform 'Angels' in London”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  26. ^ Trendell, Andrew (27 tháng 7 năm 2018). “Taylor Swift invites Hayley Kiyoko on stage to perform 'Curious'. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018. 
  27. ^ Kreps, Daniel (5 tháng 8 năm 2018). “Watch Taylor Swift Perform 'Summer of '69' With Bryan Adams in Toronto”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  28. ^ Lasimore, Ashley (25 tháng 8 năm 2018). “Taylor Swift Brings Tim McGraw & Faith Hill to the Stage to Sing 'Tim McGraw' in Nashville: Watch”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018. 
  29. ^ Angela Stefano (6 tháng 10 năm 2018). “Taylor Swift Invites Maren Morris to Sing ‘The Middle at Dallas Reputation Tour Stop [WATCH]”. The Boot. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018. 
  30. ^ Joseph Hudak (7 tháng 10 năm 2018). “See Sugarland, Taylor Swift’s First Ever Live Performance of ‘Babe’”. Rolling Stone, LLC. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018. 
  31. ^ “TAYLOR SWIFT'S reputation STADIUM TOUR // FIRST ROUND OF DATES ANNOUNCED”. Ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  32. ^ Aiello, McKenna (21 tháng 5 năm 2018). “Camila Cabello Cancels Her Performance at Taylor Swift's Concert After Hospitalization”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018. 
  33. ^ “Taylor Swift to kick off Australian leg of Reputation tour with mega WA show”. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu