How to Dismantle an Atomic Bomb

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
How to Dismantle an Atomic Bomb
How to Dismantle An Atomic Bomb.jpg
Album phòng thu của U2
Phát hành22 tháng 11 năm 2004
Thu âmTháng 11 năm 2003 – tháng 8 năm 2004
Thể loạiRock
Thời lượng49:03
Hãng đĩaIsland
Interscope (US.)
Sản xuấtSteve Lillywhite, cộng tác sản xuất cùng Chris Thomas, Jacknife Lee, Nellee Hooper, Flood, Daniel Lanois, Brian Eno, Carl Glanville
Thứ tự album của U2
All That You Can't Leave Behind
(2000)All That You Can't Leave Behind2000
How to Dismantle an Atomic Bomb
(2004)
No Line on the Horizon
(2009)No Line on the Horizon2009
Đĩa đơn từ How to Dismantle an Atomic Bomb
  1. "Vertigo"
    Phát hành: 8 tháng 11 năm 2004
  2. "Sometimes You Can't Make It on Your Own"
    Phát hành: 14 tháng 2 năm 2005
  3. "City of Blinding Lights"
    Phát hành: 6 tháng 6 năm 2005
  4. "All Because of You"
    Phát hành: 10 tháng 10 năm 2005

How to Dismantle an Atomic Bomb là album phòng thu thứ 11 của ban nhạc rock người Ireland U2, phát hành vào tháng 11 năm 2004. Tương tự với album trước đó, All That You Can't Leave Behind, How to Dismantle an Atomic Bomb tiếp tục thể hiện thứ nhạc rock kiểu mới sau khi ban nhạc nghiên cứu alternative rock và nhạc dance từ thập niên 1990. Album được sản xuất bởi Steve Lillywhite, hợp tác sản xuất cùng Flood, Jacknife Lee, Nellee Hooper, Chris Thomas, Daniel Lanois, Brian Eno và Carl Glanville.

Ca sĩ hát chính của ban nhạc, Bono, miêu tả "đây là album rock đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi đã mất tới 20 năm, hoặc tương đương thế, để có được album rock đầu tay"[1]. Cho dù đây không phải là một album chủ đề, song hầu hết các ca khúc đều được ra đời gắn liền với một sự kiện ngoài đời thực. Tình yêu và chiến tranh, hòa bình và hòa hợp, thậm chí cái chết cũng đã được nhắc tới trong album.

How to Dismantle an Atomic Bomb đã lập kỷ lục giành toàn bộ 9 giải Grammy được đề cử. Album cũng là album bán chạy nhất năm 2004[2] với hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới[3], theo kèm là các đĩa đơn thành công như "Vertigo", "City of Blinding Lights", và "Sometimes You Can't Make It on Your Own". Tạp chí Rolling Stone cũng xếp album ở vị trí số 68 trong danh sách "100 album xuất sắc nhất thập kỷ".

Viết nhạc và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Giọng ca chính Bono giải thích anh đã tự đặt một vài câu hỏi khó cho mình trước khi tiến hành thu âm: "Tôi muốn kiểm tra xem nơi tôi từng ở đến nơi tôi đang ở. Vì vậy tôi đã quay lại và tìm nghe tất cả những loại nhạc khiến tôi muốn lập ban nhạc, từ Buzzcocks, Siouxsie and the Banshees, Echo & The Bunnymen. Và thật thú vị, vẫn còn rất nhiều người trong các ban nhạc vẫn còn nghe loại nhạc đó. Vì vậy nó khiến chúng tôi trở nên hoàn toàn hợp thời."[4]

Nhằm tìm kiếm một âm thanh rock mạnh mẽ hơn All That You Can't Leave Behind,[5] U2 bắt đầu thu âm How to Dismantle an Atomic Bomb vào tháng 2 năm 2003 với nhà sản xuất Chris Thomas.[6] Sau chín tháng làm việc, ban nhạc đã có một chất liệu tốt cho album để sẵn sàng phát hành, nhưng họ không hài lòng với kết quả; tay trống Larry Mullen Jr. cho rằng các bài hát "chẳng có chút kỳ diệu nào".[5] Sau đó nhóm đã mời Steve Lillywhite đảm nhiệm vị trí nhà sản xuất ở Dublin vào tháng 1 năm 2004.[7] Một vài nhà sản xuất khác cũng được ghi chú trong album, bao gồm Daniel Lanois, Brian Eno, Flood, Carl Glanville và Nellee Hooper;[8] Bono thừa nhận rằng sự kết hợp của nhiều nhà sản xuất ảnh hưởng đến "sự kết dính trong âm thanh".[9]

Một bản demo của album (sao chép bởi guitarist The Edge) bị mất khi ban nhạc đang được chụp hình cho một tạp chí ở Pháp vào tháng 7 năm 2004. Bản demo có chứa các phiên bản chưa hoàn thiện của một số bài hát đưa vào album.[10] Ban nhạc phát biểu công khai rằng nếu những track đó không bị rò rỉ trực tuyến, họ sẽ ngay lập tức phát hành album qua iTunes.[11] Một vài tháng sau, album đã hoàn thiện bị rò rỉ trực tuyến, nhưng ban nhạc đã không phát hành nó sớm hơn như tuyên bố như trước đó.[12]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ Cơ đốc giáo đương đại Michael W. Smith đã gia nhập và cùng ban nhạc vào phòng thu làm việc trong những buổi thu thử Atomic Bomb, anh làm việc cùng nhóm ít nhất là một track có tựa đề là "North Star". Track đó sử dụng để tri ân Johnny Cash chưa nổi lên chính thức hay phi chính thức ở bất kì định dạng nào. Một bài hát có tựa đề "North Star" do Bono giới thiệu được chơi tại Turin trong chuyến lưu diễn U2 360° Tour, mặc dù vẫn chưa rõ liệu nó có là cùng một bài hát làm việc trong các buổi thu thử không.[13][14]

Một bản sớm nhất của "Love and Peace or Else", bắt nguồn từ những buổi thu thử cho All That You Can't Leave Behind, kế tiếp là các bài "Bloody Sunday", "Miss Sarajevo", "Please", và "Peace on Earth.[15] Đoạn verse và chorus (điệp khúc) nói về mối quan hệ từ viễn cảnh của những cư dân ở quốc gia đang phát triển, tập trung vào sự khác biệt giữa kế hoạch kinh tế xã hội dài hạn của phương Tây ("You speak in signs and wonders") và nhu cầu lương thực cấp thiết của các nước đang phát triển ("But I'm begging for the crumbs from your table"). Câu hát ("You speak in signs and wonders") mang ý nghĩa như một lời chỉ trích nhằm vào Giáo hội Công giáo.[16] Một màn trình diễn trong phòng thu cũng nằm trong đĩa DVD bonus; nó chỉ được chơi vài lần trong Vertigo Tour.[17]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn chính của album, "Vertigo" được phát hành ngày 24 tháng 9 năm 2004.[18] Bài hát đứng đầu trên bảng xếp hạng ở một số quốc gia, trong đó có Anh quốc, đồng thời đạt vị trí #31 trên Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 11 năm 2004,[19] và đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Modern Rock Tracks[20]UK Singles Chart.[21] Ca khúc cũng đứng đầu bảng xếp hạng tải kĩ thuật số tại Anh quốc và Hoa Kỳ, trở thành đĩa đơn kĩ thuật số bán chạy nhất của U2 tại Hoa Kỳ, với hai chứng nhận bạch kim.

Đĩa đơn thứ hai, "Sometimes You Can't Make It on Your Own" dược phát hành ngày 7 tháng 2 năm 2005.[22] Bài hát nói về mối quan hệ của Bono với người cha quá cố của anh. Ca khúc ra mắt ở vị trí quán quân trên UK Singles Chart,[23], trở thành đĩa đơn kế tiếp đầu tiên của U2 làm được điều này. Đĩa đơn cũng đạt vị trí #15 trên Adult Top 40[24] và góp mặt trong các bảng xếp hạng Pop 100 (#87),[25] Modern Rock Tracks (#29)[20] và Billboard Hot 100 (#97).[19]

Đón nhận của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
AnyDecentMusic? {{{ADM}}}
Metacritic 79/100[26]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[27]
Blender 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[28]
Entertainment Weekly B[29]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[30]
Los Angeles Times 4/4 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svg[31]
NME 9/10[32]
Pitchfork 6.9/10[33]
Q 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[34]
Rolling Stone 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[35]
Uncut 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[36]

How to Dismantle an Atomic Bomb đều nhận được hầu hết những đánh giá tích cực. Trên Metacritic, dựa trên phép tính điểm trung bình cộng trên thang điểm 100 cho đến những bài đánh giá từ các nhà phê bình chính, album nhận được số điểm trung bình 79/100 dựa trên 26 bài đánh giá.[26] Sau khi phát hành vào ngày 22 tháng 11 năm 2004, album ra mắt ở vị trí quán quân tại 34 quốc gia, trong đó có Billboard 200 của Hoa Kỳ (với doanh số 840,000 bản),[37] UK Albums Chart của Anh và ARIA Charts của Úc. Album tiêu thụ được hơn 9 triệu bản trên toàn cầu.[38] Theo số liệu từ Nielsen SoundScan, album đã tiêu thụ 3.3 triệu bản tại Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2014.[39]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như Supernatural của Santana, album đã được trao tổng cộng chín giải Grammy từ 2005 đến 2006, sau khi giành chiến thắng tất cả các hạng mục được đề cử. Tại lễ trao giải 2005, đĩa đơn chính từ album "Vertigo" giành chiến thắng cả ba hạng mục đề cử là Bài hát rock hay nhất,[40] Trình diễn song ca hoặc nhóm nhạc giọng rock xuất sắc nhất[41]Video hình thái ngắn xuất sắc nhất.[40] Năm 2006, riêng album đoạt Album rock xuất sắc nhấtAlbum của năm,[42] giúp U2 trở thành nhóm nhạc duy nhất giành giải này đến hai lần (lần đầu là với The Joshua Tree năm 1987).[43] Đĩa đơn "Sometimes You Can't Make It on Your Own" từ album giành giải Bài hát của năm[44]Trình diễn song ca hoặc nhóm nhạc giọng rock xuất sắc nhất.[45] "City of Blinding Lights" đoạt giải Bài hát rock hay nhất, trong khi nhà sản xuất Steve Lillywhite được trao giải Nhà sản xuất Phi cổ điển của năm.[46]

How to Dismantle an Atomic Bomb được chọn là album hay nhất năm 2004 bởi USA Today, PasteThe New York Times. Nhà phê bình Robert Hilburn của Los Angeles Times cũng chọn Atomic Bomb là album hay thứ nhì của năm, và được xếp thứ ba và bốn lần lượt bởi liveDaily và Q trong các danh sách album hay nhất năm của họ. Album cũng nằm trong Tốp 50 album của năm 2004 bởi Rolling Stone, và sau đó họ xếp album ở vị trí 68 trong danh sách album hay nhất thập niên và "Vertigo" xếp ở vị trí bài hát hay thứ 64.[47][48]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời viết bởi Bono, sáng tác khác ghi chú bên, toàn bộ phần nhạc soạn bởi U2.

STT Tên bài hátPhổ lời Sản xuất Thời lượng
1. "Vertigo"  BonoThe EdgeSteve Lillywhite 3:14
2. "Miracle Drug"  Bono and The EdgeSteve Lillywhite 3:59
3. "Sometimes You Can't Make It on Your Own"   Chris Thomas 5:08
4. "Love and Peace or Else"  Bono và The EdgeBrian Eno, Daniel Lanois 4:50
5. "City of Blinding Lights"   Flood 5:47
6. "All Because of You"   Steve Lillywhite 3:39
7. "A Man and a Woman"   Jacknife Lee 4:30
8. "Crumbs from Your Table"   Steve Lillywhite 5:03
9. "One Step Closer"   Thomas, Lanois 3:51
10. "Original of the Species"   Steve Lillywhite 4:41
11. "Yahweh"  Bono and The EdgeThomas 4:21
Tổng thời lượng:
49:03
Bonus track tại Anh và Nhật Bản
STT Tên bài hátPhổ lời Sản xuất Thời lượng
12. "Fast Cars"  Bono và The EdgeSteve Lillywhite 3:43
Tổng thời lượng:
53:09

"Fast Cars" là bonus track tại Anh, Nhật Bản và Ireland ấn bản CD, ấn bản Special Limited Edition trên toàn thế giới cũng như ấn bản kỹ thuật số, bao gồm cả The Complete U2. Bản mix mới có theo kèm đĩa đơn "All Because of You".

DVD (CD/DVD và ấn bản Special Limited)

U2 and 3 Songs
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "U2 and 3 Songs" (The Documentary) 20:02
2. "Sometimes You Can't Make It on Your Own" (Studio Performance) 5:09
3. "Crumbs from Your Table" (live) 5:00
4. "Vertigo" (Temple Bar Mix) 3:08
5. "Sometimes You Can't Make It on Your Own" (Acoustic Couch Mix) 4:43
6. "Vertigo"   3:23
Tổng thời lượng:
43:00

Bản viết tay phần lời của ca khúc "Sometimes You Can't Make It On Your Own" cũng có trong DVD trong như món quà lễ Phục sinh.

Thành viên thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn
Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất
IRE
[72]
AUS
[73]
BE (Wal)
[49]
CAN
[74]
UK
[75]
US
[74]
US Pop
[74]
2004 "Vertigo" 1 5 9 2 1 31 10
2005 "All Because of You" 4 23 36 1 4
"Sometimes You Can't Make It on Your Own" 3 19 32 1 1 97 87
"City of Blinding Lights" 8 31 23 2 2
"—" không có thứ tự cụ thể.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phim tài liệu "U2 and 3 Songs" ấn bản DVD giới thiệu về album How to Dismantle an Atomic Bomb.
  2. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  3. ^ How To Dismantle An Atomic Bomb by U2 (2004), besteveralbums.com
  4. ^ Martin, Dan (5 tháng 1 năm 2005). “The Gospel According to U2 - Part Two”. NME. 
  5. ^ a ă McCormick (2006), pp. 317–321
  6. ^ Fricke, David (30 tháng 12 năm 2004). “U2 Drops Bomb”. Rolling Stone. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016. 
  7. ^ McGee (2008), p. 266
  8. ^ Newman, Melinda (27 tháng 11 năm 2004). “Bombs Away! U2 Sets Sights on Top of Charts”. Billboard 116 (48): 1, 64. 
  9. ^ McCormick (2006), p. 329
  10. ^ “Police hunt for 'stolen' U2 album”. BBC News (BBC). 15 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  11. ^ “‘VERTIGO’ EARLY?”. NME. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018. 
  12. ^ “U2’S ‘BOMB’ WILL NOT DROP EARLY!”. NME. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018. 
  13. ^ Crouteau, Roberta (30 tháng 11 năm 2004). “Michael W. Smith: Ready for His Close-up”. CCM Magazine. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  14. ^ 'Torino, Torino...'. U2.com. Live Nation. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  15. ^ “The root cause of a lot of the problems in politics is hardness of the heart.”. U2 Sermons. 12 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  16. ^ McCormick (2006)
  17. ^ “U2 Setlist Archive-U2 Vertigo Tour Leg III/North America”. u2setlists.com. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  18. ^ "Vertigo". U2. Island Records. 2004. 
  19. ^ a ă “U2 chart history”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  20. ^ a ă “U2 chart history alternative chart”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  21. ^ “Official Singles Chart Top 100 2004”. Official Singles Chart. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  22. ^ How to Dismantle an Atomic Bomb. U2. Island Records. 2004. 
  23. ^ “Official Singles Chart Top 100 2005”. Official Singles Chart. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  24. ^ “U2 chart history Adult Top 40”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  25. ^ “U2 AllMusic”. webcitation. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  26. ^ a ă “Reviews for How To Dismantle An Atomic Bomb by U2”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013. 
  27. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “How to Dismantle an Atomic Bomb – U2”. AllMusic. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  28. ^ Powers, Ann (tháng 12 năm 2004). “U2: How to Dismantle an Atomic Bomb”. Blender (32): 132. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  29. ^ Browne, David (26 tháng 11 năm 2004). “How to Dismantle an Atomic Bomb”. Entertainment Weekly (794). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010. 
  30. ^ Petridis, Alexis (19 tháng 11 năm 2004). “U2, How to Dismantle an Atomic Bomb”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  31. ^ Hilburn, Robert (21 tháng 11 năm 2004). “U2's spirit is still on an upward drive”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010. 
  32. ^ Martin, Dan (13 tháng 11 năm 2004). “U2: How to Dismantle an Atomic Bomb”. NME: 55. 
  33. ^ Petrusich, Amanda (21 tháng 11 năm 2004). “U2: How to Dismantle an Atomic Bomb”. Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2011. 
  34. ^ “U2: How to Dismantle an Atomic Bomb”. Q (221): 126. Tháng 12 năm 2004. 
  35. ^ Sheffield, Rob (9 tháng 12 năm 2004). “How To Dismantle An Atomic Bomb”. Rolling Stone (963). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010. 
  36. ^ “U2 – How To Dismantle An Atomic Bomb”. Uncut (91): 136. Tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  37. ^ Whitmire, Margo (1 tháng 12 năm 2004). “U2's 'Bomb' Explodes at No. 1”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  38. ^ Nichols, Michelle (3 tháng 3 năm 2009). “New York City honors U2 by renaming street”. Reuters. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  39. ^ Hampp, Andrew; Halperin, Shirley (7 tháng 3 năm 2014). “No U2 Album, Tour Until 2015 (Exclusive)”. Billboard.com. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  40. ^ a ă “Grammy Award nominees in top categories”. USA Today (Gannett Company). Ngày 7 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. 
  41. ^ “Grammy Award nominees in top categories”. USA Today (Gannett Company). Ngày 7 tháng 2 năm 2005. 
  42. ^ “The Complete List of Grammy Nominations”. The New York Times (The New York Times Company). Ngày 8 tháng 12 năm 2005. tr. 1. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  43. ^ “Artist U2 in Grammy”. Grammy.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018. 
  44. ^ “The Complete List of Grammy Nominations”. The New York Times (The New York Times Company). 8 tháng 12 năm 2005. tr. 1. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  45. ^ “Complete list of Grammy Award nominations”. USA Today (Gannett Company). Ngày 8 tháng 12 năm 2006. 
  46. ^ “Complete list of Grammy Award nominations”. USA Today (Gannett Company). 8 tháng 12 năm 2006. 
  47. ^ “100 Best Albums of the 2000s: U2, 'How to Dismantle an Atomic Bomb'. Rolling Stone. 9 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  48. ^ “100 Best Songs of the 2000s: U2, 'Vertigo'. Rolling Stone. 9 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017. 
  49. ^ a ă â b c d đ “U2 – How to Dismantle an Atomic Bomb”. Hung Median. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  50. ^ “U2: Charts & Awards (Billboard Albums)”. Allmusic. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  51. ^ “Finnish charts”. finnishcharts.com. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  52. ^ a ă “Internet Archive Wayback Machine”. Web.archive.org. Ngày 4 tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  53. ^ “Top 75 Artist Album, Week Ending ngày 16 tháng 12 năm 2004”. Irish Recorded Music Association through chart-track.com. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  54. ^ “ハウ・トゥ・ディスマントル・アン・アトミック・ボム - U2/ オリコンランキング情報サービス「you大樹」” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  55. ^ “Oficjalna lista sprzedaży:: OLIS - Official Retail Sales Chart”. OLiS. Ngày 29 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  56. ^ “U2 – The Official Charts Company”. The Official UK Charts Company. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  57. ^ “How to Dismantle an Atomic Bomb – U2”. Billboard. Ngày 11 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  58. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2006 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  59. ^ “Gold & Platinum”. IFPI Austria (bằng tiếng Đức). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.  Note: U2 must be searched manually.
  60. ^ “Gold and Platinum Search: How to Dismantle an Atomic Bomb”. Music Canada. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  61. ^ “Kulta- ja platinalevyt IFPI.fi”. IFPI. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  62. ^ “Finland album certifications – U2 – How to Dismantle an Atomic Bomb” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010. 
  63. ^ “Les Certifications”. Disque en France (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Edition Phonographique. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  64. ^ Jaclyn Ward - Fireball Media Ltd. - http://www.fireballmedia.ie (ngày 1 tháng 10 năm 1962). “IRMA”. Irishcharts.ie. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  65. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2005年8月”. RIAJ (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  66. ^ “NVPI”. Nvpi.nl. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  67. ^ “New Zealand album certifications – U2 – How to Dismantle an Atomic Bomb”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  68. ^ “Poland album certifications – U2 – How to Dismantle an Atomic Bomb” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  69. ^ “Top 50 Albumes 2005” (PDF). PROMUSICAE. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  70. ^ “Certified Awards Search”. BPI. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009.  Note: U2 must be searched manually.
  71. ^ “Gold and Platinum Database Search”. RIAA. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010.  Note: U2 must be searched manually.
  72. ^ “Search the charts”. Irishcharts.ie. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009.  Note: U2 must be searched manually
  73. ^ “1ste Ultratop-hitquiz”. Ultratop. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009. 
  74. ^ a ă â “U2: Charts and Awards”. Allmusic. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  75. ^ “U2 singles”. Everyhit.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009.  Note: U2 must be searched manually.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Encore của Eminem
Australian ARIA Albums Chart quán quân
29 tháng 11 năm 2004 – 5 tháng 12 năm 2004
Kế nhiệm:
Love. Angel. Music. Baby. của Gwen Stefani
Tiền nhiệm:
Watra của Wilki
Polish Albums Chart quán quân
29 tháng 11 năm 2004 – 12 tháng 12 năm 2004
Kế nhiệm:
Bravo Hits Zima 2005 của Różni Wykonawcy
Tiền nhiệm:
Encore của Eminem
UK Albums Chart quán quân
4 tháng 12 năm 2004 – 24 tháng 12 năm 2004
Kế nhiệm:
Greatest Hits của Robbie Williams
Tiền nhiệm:
Encore của Eminem
Billboard 200 quán quân
5 tháng 12 năm 2004 – 11 tháng 12 năm 2004
Kế nhiệm:
MTV Ultimate Mash-Ups Presents: Collision Course của Jay-Z & Linkin Park