Drones (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Drones
MuseDronesCover.jpg
Album phòng thu của Muse
Phát hành5 tháng 6, 2015 (2015-06-05)
Thu âm3 tháng 10 năm 2014 – 1 tháng 4 năm 2015[1][2]
Phòng thuThe Warehouse Studio
(Vancouver, British Columbia)[3][4]
Thể loại
Thời lượng52:40
Hãng đĩa
Sản xuất
Thứ tự album của Muse
Live at Rome Olympic Stadium
(2013)Live at Rome Olympic Stadium2013
Drones
(2015)
Đĩa đơn từ Drones
  1. "Dead Inside"
    Phát hành: 23 tháng 3, 2015 (2015-03-23)
  2. "Mercy"
    Phát hành: 18 tháng 5, 2015 (2015-05-18)
  3. "Revolt"
    Phát hành: 4 tháng 2, 2015 (2015-02-04)
  4. "Aftermath"
    Phát hành: 11 tháng 3 năm 2016[8]
  5. "Reapers"
    Phát hành: 16 tháng 4 năm 2016

Drones là album phòng thu thứ bảy của ban nhạc rock người Anh Muse. Album phát hành vào ngày 5 tháng 6 năm 2015 ở châu Âu và vào 8 tháng 6 năm 2015 ở Vương quốc Anh[9] thông qua hai hãng thu âm Warner Bros.Records và Helium-3. Drones là một album với chủ đề là hành trình của nhân vật chính, từ bị ruồng bỏ cho đến lúc được truyền giáo để trở thành một "chiếc máy bay không người lái" và cuối cùng đã bỏ đi.[10] Muse có ý định quay trở lại với những chất liệu rock đơn giản gồm guitar-bass-trống của các album trước.[11] Album nhận được những ý kiến trái chiều từ giới phê bình; các nhà phê bình đánh giá cao phần âm nhạc, nhưng ngược lại, chỉ trích phần ca từ của các bài hát.

Drones được thu âm trong khoảng thời gian giữa tháng 10 năm 2014 và tháng 4 năm 2015 tại The Warehouse Studio ở Vancouver, British Columbia và được đồng sản xuất bởi ban nhạc và Robert John "Mutt" Lange.[12][13][14] Đảm nhiệm phần đồ họa cho album là nghệ sĩ người Hoa Kỳ Matt Mahurin.[15][16] Album đã đoạt giải Grammy cho Album rock xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy lần thứ 58.[17]

Bối cảnh sản xuất và ghi âm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các album trước đó là The Resistance (2009) và The 2nd Law (2012), Muse đã trải nghiệm với dòng nhạc giao hưởng và điện tử.[18][19] Tháng 12 năm 2013, Muse phát hành một album trực tiếp và video Live at Rome Olympic Stadium; nhà viết nhạc Matthew Bellamy cho biết ban nhạc muốn album này "thể hiện được một số những điều quan trọng mà chúng tôi đã và đang thực hiện vì trong tương lai, chúng tôi muốn làm một điều gi đó khác."[18]

Muse sớm bắt tay vào quá trình viết nhạc cho album thứ bảy sau khi kết thúc chuyến lưu diễn âm nhạc ở Rome. Bellamy nói rằng album "sẽ là toàn bộ những gì mà chúng tôi đã trải nghiệm thêm được từ hai album trước đó... Có lẽ tôi có cảm nhận rằng album này sẽ làm tốt việc tái kết nối và nhắc nhở chúng ta một điều căn bản rằng ta là ai."[18]

Tháng 10 năm 2014, Muse đặt chân đến The Warehouse Studio ở Vancouver.[4][20] Sau hai album tự sản xuất trước đó, lần này Muse quyết định làm việc với nhà sản xuất Robert John "Mutt" Lange trong Drones.[21][22][23][24] Buổi thu âm đầu tiên khép lại vào ngày 19 tháng 10, và ban nhạc bảo rằng nó "đầy cảm xúc".[25] Muse quay trở lại phòng thu âm này vào tháng 11 năm 2014.[26] Ngày 1 tháng 4 năm 2015, tay trống Dominic Howard và tay phối nhạc Rich Costey viết trên tài khoản Instagram rằng họ đã hoàn tất công đoạn phối nhạc cho album.[1][2]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Drones là một album có chủ đề về sự tha hóa nhân cách trong những cuộc chiến tranh thời kì hiện đại.[27] Câu chuyện mở đầu với "Dead Inside", trong đó nhân vật chính đã mất hi vọng và bị tổn thương sâu sắc bởi những vũ khí nguy hiểm trong "Psycho". Anh ta cuối cùng đã bỏ đi, nổi loạn và chiến thắng kẻ thù.[14]

Trả lời những câu hỏi của người hâm mộ trên Twitter vào tháng 9 năm 2014, Bellamy nói rằng chủ đề của album bao gồm cả về hệ sinh thái sâu, khoảng đồng cảm giữa nóng và lạnh trong tâm lý học và Chiến tranh thế giới thứ ba.[28] Vào tháng 3 năm 2015, Bellamy nói:

Trong một cuộc phỏng vấn với kênh BBC Radio 1 vào tháng 3 năm 2015, Bellamy mô tả Drones như là "một ẩn dụ hiện đại cho sự thiếu đồng cảm... Trong những công nghệ hiện đại và đặc biệt hiện rõ trong những cuộc chiến tranh không người lái, người ta hoàn toàn có thể thực hiện những điều kinh khủng, ở một khoảng cách rất xa, mà thực sự không có chút cảm xúc gì trước hậu quả của nó; thậm chí cho rằng hành động này chỉ là trách nhiệm của bản thân, bằng những cách khác nhau."[30]

Dưới góc nhìn của chính ban nhạc và người hâm mộ, album được cho là một sự trở lại với những âm thanh đặc sệt phong cách rock và ít dính dáng đến những thể loại khác.[31][32]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 1 năm 2015, Muse tiết lộ tựa đề của album trong một video có chứa tiếng của bàn phối nhạc, những bản mẫu âm thanh và có xuất hiện dòng chữ: "Nghệ sĩ - Muse, Album - Drones". Video này được đăng tải trên tài khoản Instagram của ban nhạc.[33] Muse bắt đầu sử dụng hashtag "#MuseDrones" trên Twitter và Instagram.[34][35] Vào ngày 8 tháng 3, ban nhạc công bố một đoạn ngắn trong bài hát mới "Psycho" và cho biết thêm rằng ca khúc "đã được phối trong một thời lượng được quy định hết sức chặt chẽ".[36]

Vào ngày 12 tháng 3, Muse ra mắt một video chứa lời bài hát "Psycho" trên kênh YouTube của ban nhạc và cho phép bài hát có sẵn để tải xuống khi đặt trước album.[37] Từ ngày 15 đến ngày 24 tháng 3, ban nhạc đã chơi trong chuyến lưu diễn Psycho UK Tour với 6 buổi biểu diễn tại các địa điểm nhỏ trên toàn Vương quốc Anh.[29] Vào ngày 23 tháng 3, "Dead Inside" được phát hành thành đĩa đơn mở đường cho album với một video lời nhạc trên kênh YouTube của Muse.[38][39] Ngày 18 tháng 5, Muse ra mắt video lời nhạc cho "Mercy" và ra mắt bài hát trên Spotify.[40] Ngày 29 tháng 5, một video lời nhạc khác của "Reapers" được đăng tải trên YouTube,[41] tiếp sau đó là "The Handler" vào ngày 2 tháng 6[42] và "[JFK]" cùng với "Defector" vào ngày 3 tháng 6.[43]

Trả lời phỏng vấn của Radio 1's Big Weekend vào tháng 5 năm 2015, ban nhạc cho biết nhóm đã thực hiện chuyến lưu diễn Drones World Tour để hỗ trợ và quảng bá cho album.

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Drones ra mắt tại vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200, bán ra 84.000 bản trong tuần đầu phát hành (79.000 bản là album truyền thống), thế chỗ của album quán quân tuần trước, How Big, How Blue, How Beautiful của Florence and the Machine. Đây là lần đầu tiên kể từ sau năm 1956, hai nghệ sĩ người Anh liên tiếp ra mắt ở ngôi đầu của bảng xếp hạng. Doanh số album truyền thống cũng giúp cho Drones giành ngôi quán quân bảng xếp hạng Top Album Sales.[44] Trước đó, các chuyên gia trong ngành công nghiệp ghi âm đã dự báo album có thể ra mắt ở vị trí quán quân với doanh số khoảng 75.000 đơn vị.[45]

Album cũng ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của 21 quốc gia trên toàn cầu, trong đó có Vương quốc Anh, Pháp, Nhật Bản (bảng xếp hạng quốc tế), Úc, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, New Zealand, Ireland, Argentina, Colombia, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Hồng Kông (bảng xếp hạng quốc tế), Hàn Quốc (bảng xếp hạng quốc tế), Bồ Đào Nha, Nga (bảng xếp hạng chính), Singapore và Đài Loan (bảng xếp hạng chính). Album cũng ra mắt trong top 3 ở Ý, Thụy Điển, Canada, Áo, Hi Lạp, Đức và Indonesia.

Trên bảng xếp hạng UK Albums Chart, album cũng khời động ở vị trí quán quân với doanh số xấp xỉ 73.000 bản, qua đó trở thành album quán quân thứ năm của ban nhạc tại thị trường Vương quốc Anh và là album có doanh số trong tuần đầu phát hành cao thứ ba năm 2015, tiếp nối các album quán quân trước đó là Absolution (2003), Black Holes and Revelations (2006), The Resistance (2009) và The 2nd Law (2012).[46] Công ty Official Charts Company cũng thông báo rằng Drones đã trải qua tuần thứ hai ở ngôi vị quán quân của bảng xếp hạng[47] với 24.445 bản (996 đơn vị từ các dịch vụ streaming), nâng tổng doanh số hai tuần đầu phát hành của album lên 97.308 bản.[48]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
AnyDecentMusic? {{{ADM}}}
Metacritic 63/100[49]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[27]
Billboard 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[50]
Los Angeles Times 1.5/4 saoStar half.svgStar empty.svgStar empty.svg[51]
NME 7/10[52]
The Observer 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[53]
Pitchfork 4.5/10[54]
Q 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[55]
Rolling Stone 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[56]
The Telegraph 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[57]
Time Out 1/5 saoStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svg[58]
Kerrang! 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[49]

Drones nhận được nhiều đánh giá trái chiều. Trên Metacritic, trang đưa ra cách chấm điểm với thang điểm 100 dựa trên các bài đánh giá của hệ thống các nhà phê bình âm nhạc, album hiện đang nắm giữ 64 điểm dựa theo 24 bài nhận xét, chín trong số đó là các nhận xét ưa thích.[49]

Kerrang! cho Drones điểm số hoàn hảo, đánh giá album "hết sức cổ điển, đã thể hiện đầy sắc sảo và tập trung vào những gì đang tồn tại trong tên gọi của nhạc rock cao thượng."[49] Q viết rằng mặc dù Muse đã ghi điểm cho sự trở lại với bản chất của họ, "Drones không khác nào một album quay về căn bản của garage rock... vừa vặn với chủ đề là câu chuyện về sự kiểm soát tâm trạng, nó là một album của những điều thú vị nằm rải rác."[55] David Fricke của tạp chí Rolling Stone gọi album  "thực sự là một niềm vui tội lỗi" và ca ngợi "sự cập nhật đầy đặn những âm thanh guitar-bass-trống vốn đã là bổn phận" từ những album trước đó của ban nhạc là "điều mà Muse thực hiện tốt nhất"[56] Tờ NME cho rằng  "thương hiệu cho chủ đề âm nhạc của Muse trong album: tẩy não, siêu năng lượng của sự vận động chiến tranh, sự ỉm đi của sự thật và sự cấp bách của việc gạt đi những bàn tay giết chóc loài người, vẫn có sức lan tỏa trong năm 2015, nhưng bằng một cách gián tiếp... Âm nhạc của Muse một lần nữa đã hướng đúng với sự mạo hiểm [của Bellamy]"[52]

AllMusic viết rằng "rất khó để phủ nhận kết luận [của Muse] là chiến tranh rất tồi tệ, nhưng xu hướng tô đậm mọi thứ, in nghiêng những từ ngữ chính là một điều rất giá trị trong âm nhạc."[27] Kitty Empire của The Observer viết rằng mặc cho lời các bài hát có phần "tầm thường" và có chủ định gây "nhầm lẫn" cho người nghe, một vài ca khúc trong Drones có "sự dồn tâm sức tuyệt vời; thể hiện kịp thời nhu cầu của âm nhạc đại chúng để truyền đạt cả tư tưởng và sự hối hả trong hạnh phúc."[53] Ian Cohen của Pitchfork lại phát hiện thấy Drones còn thiếu sự khôn ngoan và chỉ trích phần lời bài hát, nhận xét rằng: "Bất cứ niềm vui nào với nhạc cảm du dương đáng để ngưỡng mộ của Bellamy hay những đoạn hook được thổi phồng lên đều là không đúng, vì sự ngoan cố trong âm nhạc của Muse đã chứng minh rằng ý nghĩa âm nhạc của họ không chỉ đơn thuần là vui vẻ, nó còn sâu sắc hơn thế."[54] Oliver Keens của Time Out London gọi chủ đề về "máy bay không người lái" của album là "thiếu tế nhị và thô kệch" và câu chuyện được kể "thật hết sức đần độn như thức ăn của chó vậy – với những lời nói đùa nhạt nhẽo của những học thuyết về âm mưu đã trở thành "bong bóng"... Chúng ta đã từng than vãn rằng các nhạc sĩ đã không viết về chính trị nữa. Sự cố gắng này có lẽ là để giúp cho những điều tốt hơn."[58]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Năm Giải Sản phẩm được đề cử Người nhận giải Hạng mục Kết quả
2016 Giải Grammy[59] Drones Muse Album rock xuất sắc nhất Đoạt giải
Danh sách của giới phê bình
Ấn phẩm Danh hiệu Năm Xếp hạng
NME Album của năm 2015 của NME 2015

Danh sách và thứ tự các bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời và nhạc sáng tác bởi Matthew Bellamy

Drones —Phiên bản chuẩn
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Dead Inside"   4:22
2. "[Drill Sergeant]"   0:21
3. "Psycho"   5:16
4. "Mercy"   3:51
5. "Reapers"   5:59
6. "The Handler"   4:33
7. "[JFK]"   0:54
8. "Defector"   4:33
9. "Revolt"   4:05
10. "Aftermath"   5:47
11. "The Globalist"   10:07
12. "Drones"   2:49
Tổng thời lượng:
52:40
Ghi chú

Những người thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
  • [a]: người thực hiện việc chuyển giao dữ liệu vào các thiết bị lưu trữ

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày phát hành Phiên bản Nhãn hiệu
Australia[95] 5 tháng 6 năm 2015 CD
CD+DVD
LP
CD+DVD+LP
Tải kĩ thuật số
Warner Bros.
Áo[96]
Phần Lan[97]
Đức[98]
Ireland[99]
Hà Lan[95]
New Zealand[95]
Thụy Sĩ[100]
United Kingdom[9] 8 tháng 6 năm 2015
Pháp[101]
Ba Lan[102]
Canada[103] 9 tháng 6 năm 2015
Italy[104]
Tây Ban Nha[105]
Hoa Kỳ[106]
Nhật Bản[95] 10 tháng 6 năm 2015
Na Uy[107]
Thụy Điển[108]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Dom Howard Instagram”. Instagram. Ngày 1 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ a ă “Rich Costey Instagram”. Instagram. Ngày 1 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  3. ^ Drones (album liner notes). Muse. Warner Bros. Records / Helium-3. 2015. 
  4. ^ a ă “Muse are finish with the first session of the new album!”. Matter of Sound. Ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Muse - Drones”. PopMatters. Ngày 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015. 
  6. ^ “Muse, Paul Weller and FFS bring back the 1970s we should have had”. Smh.com. Ngày 13 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015. 
  7. ^ Harley, Kevin (ngày 6 tháng 6 năm 2015). “Muse, Drones, album review: unrepentantly ambitious and laced with emotional intrigue”. The Independent. 
  8. ^ “Muse - Aftermath (Radio Edit) (File)”. Discogs. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ a ă Britton, Luke Morgan (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Muse announce new album 'Drones' for June and confirm live dates beginning Sunday”. NME. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  10. ^ “MUSE: 'DRONES IS ABOUT ABANDONMENT AND LOSS OF HOPE'. Gigwise. Ngày 25 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ Greene, Andy (ngày 8 tháng 5 năm 2015). “Inside Muse's 'Drones' Strike: Matt Bellamy on High-Concept LP”. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ Khomami, Nadia (ngày 26 tháng 1 năm 2015). “Muse confirm new album title 'Drones' in latest in-the-studio video”. NME. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ Carter, Emily (ngày 6 tháng 2 năm 2015). “Muse Confirm Seventh Album, Drones”. Kerrang!. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ a ă Davidson, Amy (ngày 5 tháng 2 năm 2015). “Muse appear to confirm Drones as new album title with cryptic photos”. Gigwise. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ Mahurin, Matt (ngày 6 tháng 2 năm 2015). “MUSE PROJECT”. mattmahurin.com. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ Shutler, Ali (ngày 8 tháng 2 năm 2015). “Matt Mahurin will be behind the artwork for Muse's new album 'Drones'. DIY. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ “58th Annual GRAMMY Awards Winners & Nominees”. The Recording Academy. 15 tháng 2 năm 2016. Truy cập 15 tháng 2 năm 2016. 
  18. ^ a ă â Greene, Andy (ngày 2 tháng 12 năm 2013). “Muse Singer Matt Bellamy: Live DVD Completes an 'Upside-Down Journey'. Rolling Stone. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  19. ^ “Muse: 'Our new album is set for Classic FM'. NME. Ngày 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ Brandle, Lars (ngày 6 tháng 10 năm 2014). “Muse Returns to the Studio”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ Renshaw, David (ngày 24 tháng 10 năm 2014). “Muse working with AC/DC producer on new studio album”. NME. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ Trendell, Andrew (ngày 24 tháng 10 năm 2014). “Muse working with AC/DC producer Robert 'Mutt' Lange on new album”. Gigwise. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  23. ^ Goodacre, Kate (ngày 26 tháng 10 năm 2014). “Muse join forces with producer Mutt Lange for new studio album”. Digital Spy. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ “Inside Muse's 'Drones' Strike: Matt Bellamy on High-Concept LP”. Rolling Stone. 
  25. ^ Van Nguyen, Dean (ngày 19 tháng 10 năm 2014). “Muse complete 'emotional' first session for new album”. NME. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ Trendell, Andrew (ngày 5 tháng 11 năm 2014). “Muse 'back in action' in studio to finish seventh album”. Gigwise. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ a ă â Erlewine, Steven Thomas. “Drones - Muse: Overview”. AllMusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015. 
  28. ^ Khomami, Nadia (ngày 5 tháng 2 năm 2015). “Muse confirm new album title 'Drones' on Instagram”. NME. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ a ă Morris, Andy; Trendell, Andrew (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Muse announce Drones album and UK Psycho Tour”. Gigwise. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  30. ^ Britton, Luke Morgan (ngày 24 tháng 3 năm 2015). “Muse say new album 'Drones' is 'a modern metaphor for what it is to lose empathy'. NME. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ “Muse Drones Album Interview And Review By Jane Gazzo | Music”. Triple M. Ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  32. ^ Gwilym Mumford. “Muse: Drones review – the band's most focused work in a decade | Music”. The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  33. ^ “Muse Instagram video”. Instagram. Ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  34. ^ “#MuseDrones Instagram”. Instagram. Ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  35. ^ “#MuseDrones Twitter”. Twitter. Ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  36. ^ "Psycho" Instagram video”. Instagram. Ngày 8 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  37. ^ “Muse - Psycho [Official Lyric Video]”. YouTube. Ngày 12 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ Cooper, Leonie (ngày 23 tháng 3 năm 2015). “Muse unveil new single 'Dead Inside' - listen”. NME. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ “Muse - Dead Inside [Official Lyric Video]”. YouTube. Ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “Muse: Stream New Single ‘Mercy’ Taken From Seventh Studio Album ‘Drones’”. Inveterate. Ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  41. ^ “Muse - Reapers [Official Lyric Video]”. YouTube. Ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  42. ^ “Muse - The Handler [Official Lyric Video]”. YouTube. Ngày 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015. 
  43. ^ “Muse - JFK + Defector [Official Lyric Video]”. YouTube. Ngày 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ Caulfield, Keith (ngày 17 tháng 6 năm 2015). “Muse Earns Its First No. 1 Album on Billboard 200 Chart”. billboard.com. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  45. ^ Caulfield, Keith (ngày 11 tháng 6 năm 2015). “Muse Aiming for First No. 1 Album on Billboard 200 Chart”. billboard.com. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  46. ^ Sexton, Paul (ngày 15 tháng 6 năm 2015). “Muse's 'Drones' Opens At No. 1 in U.K.”. billboard.com. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  47. ^ Moss, Liv (ngày 17 tháng 6 năm 2015). “Muse’s Drones heading for second week at Number 1”. officialcharts.com. The Official Charts Company. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  48. ^ Johnes, Alan (ngày 22 tháng 6 năm 2015). “Official Charts Analysis: Muse’s Drones hover at No.1 for second week - Music Week: Home Stream”. mediaor.com. Music Week. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  49. ^ a ă â b “Reviews for Drones by Muse”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  50. ^ Aswad, Jem (ngày 12 tháng 6 năm 2015). “Muse Aims High But Hits Somewhere in the Middle With ‘Drones’: Album Review”. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015. 
  51. ^ Roberts, Randall (ngày 9 tháng 6 năm 2015). “Concept album by Muse just drones on”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  52. ^ a ă Beaumont, Mark (ngày 27 tháng 5 năm 2015). “NME Reviews - Muse - 'Drones'. NME. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  53. ^ a ă Empire, Kitty (ngày 7 tháng 6 năm 2015). “Muse: Drones review – an Orwellian breakup album”. The Guardian. Guardian Media Group. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  54. ^ a ă Cohen, Ian (ngày 9 tháng 6 năm 2015). “Muse: Drones”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  55. ^ a ă Perry, Andrew (tháng 7 năm 2015). “High Voltage”. Q (348): 110. 
  56. ^ a ă Fricke, David (ngày 9 tháng 6 năm 2015). “Drones: Muse – Warner Bros.”. Rolling Stone. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  57. ^ McCormick, Neil (ngày 6 tháng 6 năm 2015). “Muse, Drones, review: 'more than a little Spinal Tap'. The Telegraph. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  58. ^ a ă Keens, Oliver (ngày 5 tháng 6 năm 2015). “Muse – 'Drones' album review”. Time Out. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  59. ^ “58th Annual GRAMMY Awards Winners & Nominees”. The Recording Academy. 15 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  60. ^ “NME'S Albums of the Year 2015”. nme.com. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 
  61. ^ “Muse: Drones (CD/DVD)(Limited Edition)”. Amazon.com. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015. 
  62. ^ "Muse – Drones". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  63. ^ "Muse - Drones" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  64. ^ "Muse – Drones" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  65. ^ "Muse – Drones" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  66. ^ "Muse Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Muse. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
  67. ^ "Muse – Drones". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  68. ^ "Muse: Drones" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015.
  69. ^ "Muse – Drones". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015.
  70. ^ "Top 100 Longplay". Charts.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015.
  71. ^ “Official IFPI Charts - Top-75 Albums Sales Chart - Week: 24/2015”. IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  72. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
  73. ^ "GFK Chart-Track". Chart-Track.co.uk. GFK Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  74. ^ "Muse – Drones". Italiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
  75. ^ 22 tháng 6 năm 2015/ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  76. ^ "South Korea GAON Albums Chart". On the page, select "{{{year}}}" and then "2015.06.07~2015.06.13" to obtain the corresponding chart. Korean Charts. GAON. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  77. ^ "South Korea GAON International Albums Chart". Chọn "{{{year}}}" sau đó "2015.06.07~2015.06.13" để xem album cần thiết. Korean Charts. GAON. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
  78. ^ "Muse – Drones". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  79. ^ "Muse – Drones". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
  80. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  81. ^ "Muse – Drones". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
  82. ^ 20 tháng 6 năm 2015 "ngày 20 tháng 6 năm 2015 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  83. ^ "Muse – Drones". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
  84. ^ "Muse – Drones". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
  85. ^ "Muse – Drones". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  86. ^ 14 tháng 6 năm 2015 "ngày 14 tháng 6 năm 2015 Top 40 Official UK Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  87. ^ "Muse Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Muse. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  88. ^ Ryan, Gavin (ngày 5 tháng 9 năm 2015). “ARIA Albums: The Weeknd Takes Top Spot On Australian Chart”. Noise11. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015. 
  89. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2015”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  90. ^ “Canada album certifications – Muse – Drones”. Music Canada. 
  91. ^ “Italy album certifications – Muse – Drones” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý.  Chọn "2015" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Drones" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  92. ^ “Russia album certifications – Muse – Drones” (bằng tiếng Nga). National Federation of Phonogram Producers (NFPF). 
  93. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Muse; 'Drones')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. 
  94. ^ “Britain album certifications – Muse – Drones” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn Gold trong nhóm lệnh Certification. Nhập Drones vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  95. ^ a ă â b [liên kết hỏng]
  96. ^ “Drones CD von Muse bei weltbild.at bestellen”. Weltbild.at. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  97. ^ “Muse: Drones - Levykauppa Äx”. Levykauppax.fi. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  98. ^ “Drones: Amazon.de: Musik”. Amazon.de. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  99. ^ “Drones by Muse”. iTunes (IE). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  100. ^ “Drones - MUSE - CD kaufen” (bằng tiếng (tiếng Đức)). Exlibris.ch. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  101. ^ “Découvrez Drones - Édition limitée CD+ DVD: Muse: Amazon.fr: Musique”. Amazon.fr. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  102. ^ “Nowy album Muse "Drones" Premiera w czerwcu” (bằng tiếng Ba Lan). Warner Music Poland. Ngày 12 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  103. ^ Muse (Artist). “Drones [CD + DVD]: Muse: Amazon.ca: Music”. Amazon.ca. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  104. ^ Muse (Artista). “Drones: Muse: Amazon.it: Musica”. Amazon.it. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  105. ^ “Drones: MUSE: Amazon.es: Música”. Amazon.es. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  106. ^ Payne, Chris (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Muse Reveals Release Date, Art & Track List for New 'Drones' Album”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  107. ^ “Drones (2LP) - Vinyl LP - Muse - Musikk - CDON.COM”. Cdon.no. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015. 
  108. ^ “Drones (2LP) - Vinyl LP - Muse - Musik - CDON.COM”. Cdon.se. Ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015.