AC/DC

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AC/DC
Rock band in performance on a well-lit but hazy stage. At the back is a guitarist; there are two more guitarists, a vocalist off to one side, and a drummer in the rear.
AC/DC, từ trái sang phải: Brian Johnson, Malcolm Young, Phil Rudd, Angus Young, Cliff Williams, biểu diễn tại Tacoma, Washington, 31 tháng 8, 2009.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Sydney, Australia
Thể loại Hard rock
Heavy metal
Blues rock
Rock and roll
Năm hoạt động 1973 (1973)–nay
Hãng đĩa Albert, EMI, Columbia, Epic, Atlantic, Atco, Elektra, East West
Hợp tác với Geordie, The Easybeats, Fraternity, The Valentines, Rhino Bucket
Thành viên hiện tại
Angus Young
Malcolm Young
Cliff Williams
Brian Johnson
Phil Rudd
Thành viên cũ
Bon Scott
Dave Evans
Mark Evans
Simon Wright
Chris Slade

AC/DC là một band nhạc hard rock Australia, được thành lập năm 1973 bởi 2 anh em nhà Young, Malcolm YoungAngus Young - họ tiếp tục là thành viên của nhóm cho đến khi sức khỏe của Malcolm tệ đi và rời nhóm vào năm 2014[1]. AC/DC thường được coi là một band nhạc hard rock hoặc blues rock và là band nhạc tiên phong của dòng nhạc heavy metal[2][3] (nhưng theo chính AC/DC thì nhạc của họ chỉ đơn giản là "rock 'n' roll"[4]).

AC/DC dã có một số thay đổi về đội hình trước khi album đầu tiên của nhóm High Voltage ra đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1975. Malcolm và Angus là những thành viên còn lại duy nhất trong band. Thành viên trở nên ổn định cho đến khi tay bass Mark Evans được thay bởi Cliff William vào năm 1977 cho album Powerage. Trong những tháng ghi âm album Highway to Hell, Bon Scott - ca sĩ chính và là người đồng soạn nhạc của band đã ra đi vào ngày 19 tháng 2 năm 1980, sau một đêm tiêu thụ nhiều rượu mạnh. Nhóm xem xét giải tán band nhạc, nhưng với sự hỗ trợ và khuyến khích từ gia đình của Scott, AC/DC đã phấn chấn trở lại, quyết định tiếp tục và tìm giọng ca mới[5]. Cựu ca sĩ nhóm Geordie, Brian Johnson đã thử giọng và được chọn là người thay thế cho Scott. Cuối năm đó, band nhạc ra đời album mới Back in Black, để tưởng nhớ Bon Scott. Album đã đưa họ đến tầm cao mới và trở thành album bán chạy nhất của nhóm, trên 10,000 bản sao chép mỗi ngày trong tuần đầu tiên.

Album tiếp theo của nhóm, For Those About to Rock We Salute You, là album đầu tiên vươn tới vị trí số một ở Hoa Kỳ. AC/DC từ chối công bố việc sa thải tay trống Phil Rudd vào năm 1983, và thay thế bởi Simon Wright - tay trống tương lai của Dio band. Nhóm nhạc dần hồi sinh vào đầu những năm 1990 với sự ra đời của The Razors Edge. Phil Rudd trở lại vào năm 1994 và đóng góp cho album mới của nhóm vào năm 1995 Ballbreaker, sau khi Chris Slade - người đã cùng với band nhạc từ năm 1989 - 1994 rời đi. Stiff Upper Lip được phát hành vào năm 2000 được đánh giá cao bởi các nhà phê bình. Album Black Ice, phát hành vào ngày 20 tháng 10 năm 2008 trở thành album bán chạy thứ hai trong năm. Đó là cú hit lớn nhất trên các bảng xếp hạng kể từ For Those About to Rock, nó đã vươn tới vị trí số 1 của tất cả các bảng xếp hạng trên thế giới. Đội hình của nhóm không thay đổi cho đến khi Malcolm Young nghỉ hưu và Rudd có rắc rối với pháp luật.

AC/DC đã bán được hơn 200 triệu records trên toàn cầu bao gồm 71.5 triệu album chỉ riêng thị trường Mĩ, khiến họ trở thành một trong những ban nhạc bán chạy nhất tại Mĩ và một trong những ban nhạc bán chạy nhất thế giới mọi thời đại. Back in Black đã bán trên 50 triệu bản trên toàn cầu, làm nó trở thành album bán chạy đứng thứ 5 trong lịch sử, và album bán chạy thứ 3 cho nhóm nhạc. Album đã bán 22 triệu bản chỉ riêng tại thị trường Mĩ, nơi nó có vị trí thứ 6 cho album bán chạy nhất mọi thời đại. AC/DC đứng thứ 4 trong danh sách 100 nghệ sĩ hard rock vĩ đại nhất của VH1, và đứng thứ 7 trong những ban nhạc heavy metal vĩ đại nhất mọi thời đại của MTV. Vào năm 2004, AC/DC xếp hạng thứ 72 trong danh sách của Rolling Stone. Nhà sản xất Rick Rubin, người đã viết một tiểu luận về các ban nhạc cho danh sách của Rolling Stone đã đề cập đến AC/DC như một ban nhạc Rock n Roll vĩ đại nhất trong lịch sử. Vào năm 2010 AC/DC xếp vị trí thứ 23 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Ba anh em Malcolm, Angus, và George Young sinh ra tại Glasgow, Scotland, chuyển tới Sydney cùng gia đình năm 1963. George là người đầu tiên theo học guitar. Anh trở thành thành viên của band nhạc the Easybeats, một trong những band nhạc thành công nhất nước Úc những năm 1960. Năm 1966, họ trở thành band nhạc rock đầu tiên ở Úc có hit nổi tiếng thế giới với ca khúc "Friday on My Mind").[6] Malcolm tiếp bước George chơi cho 1 band nhạc ở Newcastle, New South Wales, có tên The Velvet Underground (không phải ban nhạc The Velvet UndergroundNew York)[7]. Người anh lón nhất của họ Alex Young quyết định ở lại London để theo đuổi sở thích âm nhạc.

Tháng 11 năm 1973, Malcolm và Angus Young thành lập AC/DC sau khi ban nhạc The Velvet Underground của Malcolm tan rã, họ tuyển mộ tay bass Larry Van Kriedt, giọng ca chính Dave Evans, và tay trống Colin Burgess(thành viên cũ của Masters Apprentices).[8]. Cái tên AC/DC được lấy ý tưởng sau khí chị gái của họ, Margaret Young thấy chữ viết tắt AC/DC trên một chiếc máy hút bụi trong nhà. AC/DC là viết tắt của "alternating current/direct current" (dòng điện xoay chiều/dòng điện một chiều). Anh em họ cảm thấy cái tên này tượng trưng được cho phong cách tràn đầy năng lượng trong phong cách biểu diễn của họ. AC/DC được phát âm rời từng chữ, mặc dù ở Úc, band được gọi là "Acca Dacca". AC/DC được thiết kế với một tia sét ở giữa chữ AC và DC, và được sử dụng ở tất cả các album, ngoại trừ phiên bản quốc tế Dirty Deeds Done Dirt Cheap.

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thành lập, sự thành công của AC/DC được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ nhóm huyền thoại của Úc, Ray Arnold và đồng sự của ông Alan Kissack. Gene Pierson đã đặt nhóm chơi tại Bondi Lifesaver vào đêm giao thừa mừng năm mới 1973.

Lúc đó, Angus Young đã tạo cho mình phong cách trình diễn trong đồng phục của trường học và đó cũng là ý tưởng của chị anh ta. Angus còn thử nhiều trang phục khác như: Spider-man, Zorro, gorilla, và phiên bản hài superman, với tên gọi Super-Ang. Trong những ngày đầu, các thành viên của ban nhạc ăn mặc theo kiểu glam và satin (kiểu cách, bóng bẩy), nhưng phong cách trang phục này đã bị bỏ rơi khi họ nhìn thấy nhóm nhạc Skyhooks đã áp dụng phong cách đó trên sân khấu.

Anh em nhà Young quyết định rằng Evans không phù hợp là người đứng trước nhóm vì họ cảm thấy anh ta như một glam rocker giống Gary Glitter. Trên sân khấu, Evans thỉnh thoảng bị thay thế bởi người quản lý đầu tiên của nhóm Dennis Laghlin, đồng thời là ca sĩ chính nhóm Serbet sau này

Kỷ nguyên của Bon Scott (1974-1980)[sửa | sửa mã nguồn]

Hành trình bắt đầu (1974-1977)[sửa | sửa mã nguồn]

Nổi tiếng toàn cầu (1976-1980)[sửa | sửa mã nguồn]

Cái chết của Scott (1980)[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ nguyên của Brian Johnson (1980-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi sinh (1980-1983)[sửa | sửa mã nguồn]

Rudd rời đi và sự suy yếu (1983-1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại thời kỳ hưng thịnh (1987-1990)[sửa | sửa mã nguồn]

Lấy lại sự nổi tiếng (1990-1993)[sửa | sửa mã nguồn]

Khẳng định vị thế (1994-2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Black Ice (2008–11)[sửa | sửa mã nguồn]

Rock or Bust, tour kỷ niệm 40 năm, sự ra đi của Malcolm Young, rắc rối với Phil Rudd (2011–present)[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm sau đó AC/DC cho ra 2 album đầu tay là High VoltageT.N.T. trong năm 1975 tại Úc với người sản xuất chính là George Young. Album High Voltage sau đó được phát hành lại tại Anh năm 1976.

AC/DC đã trải qua một số thay đổi nhân sự trước khi cho ra album đầu tiên như tay trống mới Phil Rudd, tay bass mới Mark Evans, rồi Dave Evans bị thay thế bởi Bon Scott (ca sĩ chính cũ của The Spektors). Sau đó nhân sự của band không thay đổi cho tới khi tay bass Mark Evans được thay thế bởi Cliff Williams năm 1977 trong album Powerage. Trong khi đang chuẩn bị thu âm album mới (album Back in Black sau đó) thì giọng ca chính Bon Scott đã qua đời vào ngày 19 tháng 2 năm 1980 sau một đêm uống quá nhiều rượu mạnh tại một câu lạc bộ ở London. Trong 1 khoảng thời gian ngắn sau đó band nhạc có ý định giải tán nhưng cha mẹ của Scott đã thuyết phục họ đi tìm 1 giọng ca mới và tiếp tục sự nghiệp. Và thành viên cũ của band nhạc Geordie, ca sĩ Brian Johnson đã được chọn thay thế Scott. Cuối năm đó, band nhạc giới thiệu album bán chạy nhất trong sự nghiệp của họ và đứng thứ 2 trong danh sách album bán chạy nhất thế giới, Back in Black.

Album tiếp theo, For Those About to Rock We Salute You, là album đầu tiên của nhóm chiếm được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Mỹ. Các album tiếp sau đều lọt vào các vị trí cao trong bảng xếp hạng Anh và Mỹ như Flick of the Switch (1983), Fly on the Wall (1985) và Blow Up Your Video (1988). Sau album Flick of the Switch năm 1983, tay trống Phil Rudd rời band và được thay thế bởi Simon Wright (Simon Wright sau này chuyển sang chơi cho ban nhạc Dio vào năm 1990). Phil Rudd sau đó trở lại chơi vào năm 1994(thay thế cho Chris Slade, người đã thay thế Simon Wright chơi từ năm 1990 tới 1994) và tham gia vào album Ballbreaker. Từ sau đó tới nay nhân sự của band không có gì thay đổi. Album Stiff Upper Lip được phát hành năm 2000 và nhận được nhiều phản hồi từ giới phê bình. Và album mới nhất của band, Black Ice, được phát hành ngày 20 tháng 10 năm 2008, là album làm nên lich sử khi chiếm vị trí số 1 trên các bảng xếp hạng album tại 29 nước trên thế giới.[9][10]. Tháng 9 năm 2014, do vấn đề về sức khỏe Malcolm đã chính thức rời band nhạc và album tiếp theo Rock Or Bust là album đầu tiên của band nhạc mà không có sự tham gia của Malcolm. Band nhạc cũng công bố tour lưu diễn kỷ niệm 40 năm thành lập với 1 thành viên mới là Steve Young, cháu của Angus va Malcolm.[11]

Tính tới năm 2010, AC/DC đã bán được hơn 200 triệu album trên toàn thế giới,[12] trong đó có 71 triệu album bán được ở Mỹ.[13]. Album Back in Black bán được 49 triệu album trên toàn thế giới, trở thành album bán chạy thứ 2 trong lịch sử sau album Thriller của vua nhạc pop Michael Jackson.[14][15] Back in Black cũng là album bán chạy thứ 5 tại Mỹ album với 22 triệu bản.[16] AC/DC được xếp thứ tư trong bảng xếp hạng 100 nghệ sĩ Hard Rock vĩ đại nhất của VH1[17][18] và được xếp thứ 7 trong bảng xếp hạng các band nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại của MTV.[19] Năm 2004, AC/DC được Rolling Stone xếp hạng số 71 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.[20]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Angus Young – lead guitar (1973–nay)
  • Steve Young – rhythm guitar, backing vocals (2014–nay)
  • Cliff Williams – bass, backing vocals (1977–nay)
  • Brian Johnson – lead vocals (1980–nay)
  • Phil Rudd – drums (1975–1983, 1994–nay)

Thành viên cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album[sửa | sửa mã nguồn]

Album Phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS
[21]
AUT
[22]
CAN
[23]
FRA
[24]
GER
[25]
NOR
[26]
NZ
[27]
SWE
[28]
SWI
[29]
UK
[30]
US
[31]
1975 High Voltage (Australia) 7
T.N.T. (Australia)
  • Phát Hành: tháng 12, 1975
  • hãng: Albert Productions
1 35
1976 High Voltage (International) 7 146
Dirty Deeds Done Dirt Cheap (Australia)
  • Phát Hành: 20 tháng 9, 1976
  • Hãng: Albert Productions
4
Dirty Deeds Done Dirt Cheap (International)
  • Phát Hành: 17 tháng 12, 1976
  • Hãng: Atlantic Records
15 20 50 3
1977 Let There Be Rock (Australia)
  • Phát Hành: 21 tháng 3 1977
  • Hãng: Albert Productions
19
Let There Be Rock (International)
  • Phát Hành: 23 tháng 6, 1977
  • Hãng: Atlantic Records
9 42 29 17 154
1978 Powerage
  • Phát hành: 25 tháng 5, 1978
  • Hãng: Atlantic Records
22 10 19 26 133
1979 Highway to Hell
  • Phát Hành: 27 tháng 7, 1979
  • Hãng: Atlantic Records
13 38 40 2 37 46 24 57 8 17
1980 Back in Black
  • Phát Hành: 25 tháng 7, 1980
  • Hãng: Atlantic Records
1 6 1 1 42 8 24 12 36 1 4
1981 For Those About to Rock
  • Phát Hành: 23 tháng 11, 1981
  • Hãng: Atlantic Records
3 7 4 1 6 6 9 3 1
1983 Flick of the Switch
  • Phát Hành: 15 tháng 8, 1983
  • Hãng: Atlantic Records
3 9 12 5 4 8 8 28 4 15
1985 Fly on the Wall
  • Phát Hành: 28 tháng 6, 1985
  • Hãng: Atlantic Records
4 24 30 19 17 22 10 19 7 32
1988 Blow Up Your Video 2 15 14 21 3 3 4 4 2 12
1990 The Razors Edge
  • Phát Hành: 24 tháng 9, 1990
  • Hãng: Atlantic Records
3 11 1 5 55 2 2 5 2 4 2
1995 Ballbreaker 1 2 4 2 4 4 2 1 1 6 4
2000 Stiff Upper Lip 3 1 7 2 1 6 12 1 2 12 7
2008 Black Ice 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • US: 2× Platinum[32]
  • CAN: 5× Platinum[34]
  • UK: Platinum[33]
  • AUS: 5× Platinum[39]
  • GER: 5× Platinum[35]
  • FIN: 2× Platinum[36]
2014 Rock Or Bust
  • Phát hành: 28 tháng 11 2014
  • Hãng: Albert / Columbia
"—" không được thống kê.

Album hát live[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS AUT CAN FRA GER NOR NZ SWE SWI UK US US CAN UK] AUS
1978 If You Want Blood You've Got It
  • Released: 13 tháng 10, 1978
  • Hãng: Atlantic Records
37 10 13 113 Platinum Gold
1992 Live 1 21 21 1 15 10 3 25 10 5 15 3× Platinum Platinum Gold 3× Platinum[39]
Live: 2 CD Collector's Edition
  • Released: 27 tháng 10, 1992
  • Hãng: Atco Records
44 7 7 5 9 5 34 2× Platinum
1997 Live from the Atlantic Studios
Let There Be Rock: The Movie
  • Released: 14 tháng 11, 1997
  • Hãng: East West Records
"—" không được thống kê.

Album nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS
[21]
AUT
[22]
CAN
[23]
FRA
[24]
GER
[25]
NOR
[26]
NZ
[27]
SWE
[28]
SWI
[29]
UK
[30]
US
[31]
1986 Who Made Who
  • Phát hành: 24 tháng 5, 1986
  • Hãng: Atlantic Records
4 28 12 30 24 21 21 11 33
  • US: 5× Platinum[32]
2010 Iron Man 2
  • Phát hành: 19 tháng 4, 2010
  • Hãng: Columbia Records
1 1 1 4
"—" không được thống kê.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “AC/DC 'ROCK OR BUST'”.  Alberts Management. Retrieved 24 September 2014.
  2. ^ Dale Hoiberg biên tập (ngày 24 tháng 9 năm 2007). “AC/DC”. Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite (ấn bản 2008). ISBN 1-59339-292-3. 
  3. ^ Dale Hoiberg biên tập (ngày 24 tháng 9 năm 2007). “heavy metal”. Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite (ấn bản 2008). ISBN 1-59339-292-3. 
  4. ^ Engleheart, Murray (ngày 18 tháng 11 năm 1997). AC/DC — Bonfire. 
  5. ^ Wall, Mick (2012). AC/DC: Hell Aint a Bad Place to Be. London: Orion Publishing group. ISBN 978-1-4091-1535-9.
  6. ^ Baker, Glenn A. “History of Albert Music”. Albert Music. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ Walker, Clinton (2001). Highway to Hell: The Life and Times of AC/DC Legend Bon Scott. tr. 128–133. ISBN 1-891241-13-3. 
  8. ^ “Rock Snaps”. Australian Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  9. ^ “AC/DC's 'Black Ice' Debuts at #1 in 29 Countries”. Blabbermouth.net (Roadrunner Records). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  10. ^ “AC/DC Completes Recording New Album”. Blabbermouth.net. Ngày 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008. 
  11. ^ “AC/AC to release new album Rock Or Bust”. 
  12. ^ Howard Stern Show, 2008, Brian Johnson and Angus Young interview, XM/Sirius Satelite Radio.
  13. ^ “Top Selling Artists”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  14. ^ Levine, Robert (ngày 12 tháng 10 năm 2008). “Ageless and Defiant, AC/DC Stays on Top Without Going Digital”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ “AC/DC, fuoco alle polveri: <<Lasciate che ci sia il rock!>>”. Gazzetta di Parma. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2009. 
  16. ^ “Top 100 Albums”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  17. ^ “100 Greatest artists of hard rock”. VH1. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  18. ^ Rock On The Net: VH1: 100 Greatest Hard Rock Artists: 1–50.
  19. ^ “The Greatest Metal Bands of All Time”. MTV. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  20. ^ “The Greatest Artists of All Time: 72) AC/DC”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. 
  21. ^ a ă “AC/DC discography”. Rockdetector. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2008. 
  22. ^ a ă “AC/DC discography”. Austrian charts (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  23. ^ a ă “AC/DC discography”. Canadian album charts. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008. 
  24. ^ a ă “Note: You must select AC/DC”. Infodisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  25. ^ a ă “AC/DC discography”. German charts (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  26. ^ a ă “AC/DC discography”. Norwegian charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  27. ^ a ă “AC/DC discography”. New Zealand charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  28. ^ a ă “AC/DC discography”. Swedish charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  29. ^ a ă “AC/DC discography”. Diw Offizielle Schweizer Hitparade und Music Community (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  30. ^ a ă “UK Albums chart”. EveryHit.com. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  31. ^ a ă “AC/DC Artist Chart History - Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2008. 
  32. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o RIAA Gold and Platinum Search for albums by AC/DC, ngày 24 tháng 5 năm 2008
  33. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Certified Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2008. 
  34. ^ a ă â b c “CRIA Database”. Cria.ca. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  35. ^ a ă “Gold/Platin–Datenbank” [Vàng/Bạch kim–Dữ liệu chứng nhận] (bằng Tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ a ă â b c “Musiikkituottajat - Tilastot - Kulta- ja platinalevyt > AC/DC”. Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011. 
  37. ^ a ă “ARIA album accreditations for Stiff Upper Lip”. Aria.com.au. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  38. ^ “ARIA album accreditations for Black Ice”. Aria.com.au. 31 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  39. ^ a ă “http://www.aria.com.au/pages/ARIACharts-Accreditations-2009Albums.htm”. Aria.com.au. 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bunton, Richard (1983). AC/DC: Hell Ain't No Bad Place to Be. Omnibus Books. ISBN 0-7119-0082-5. 
  • Dome, Malcolm (1982). AC/DC. Proteus Books. ISBN 0-86276-011-9. 
  • Engleheart, Murray (2006). AC/DC: Maximum Rock & Roll. Harper Collins. ISBN 978-0-7322-8964-5. 
  • Holmes, Tim (1986). AC/DC (Monsters of Metal). Ballantine. ISBN 0-345-33239-3. 
  • Huxley, Martin (1996). AC/DC: The World's Heaviest Rock. Lightning Source Inc. ISBN 0-312-30220-7. 
  • Stenning, Paul (2005). AC/DC: Two Sides to Every Glory. Chrome Dreams. ISBN 1-84240-308-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:AC/DC Bản mẫu:AC/DC singles Bản mẫu:NormdatenBản mẫu:Link GA Bản mẫu:Link GA Bản mẫu:Link GA Bản mẫu:Link GA