Iron Maiden

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Iron Maiden
IronMaidencollage2.jpg
Các thành viên từ trái qua: Steve Harris , Dave Murray , Adrian Smith , Bruce Dickinson , Nicko McBrain , Janick Gers .
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Leyton, Luân Đôn, Anh
Thể loại Heavy metal
Năm hoạt động 1975–nay
Hãng đĩa EMI, Universal, Sanctuary, Columbia, Portrait, Epic, Capitol, Harvest
Hợp tác với The Entire Population of Hackney, Gogmagog, Praying Mantis, Psycho Motel, Samson, Trust, Urchin
Website www.ironmaiden.com
Thành viên hiện tại
Bruce Dickinson
Dave Murray
Adrian Smith
Steve Harris
Nicko McBrain
Janick Gers
Cựu thành viên
Cựu thành viên

Iron Maiden là một ban nhạc heavy metal lẫy lừng thành lập ở Leyton , phía đông London năm 1975 . Qua nhiều lần thay đổi đội hình , các thành viên hiện tại là : Bruce Dickinson (lead vocals) , Steve Harris (bass guitar-nhạc sĩ chính) , Janick Gers , Dave Murray , Adrian Smith (guitars) và Nicko McBrain (drum) . Trong đó Steve HarrisDave Muray là 2 thành viên duy nhất vẫn giữ nguyên kể từ khi nhóm thành lập .

Tính đến thời điểm hiện tại ,ban nhạc đã có 38 album bao gồm: 16 studio album , 11 live album , 4 album dạng EP và 7 collection album .

Là tiên phong cho dòng nhạc NWOBHM , "ông lớn" Iron Maiden đã đạt được nhiều thành công vang dội nhất định trong thập niên 80 . Sau cú debut gây kinh ngạc với album đầu tay cùng tên (1980) và "Killers" (1981) , Maiden liên tiếp và không ngừng cho ra những 'siêu phẩm' album như "The Number of The Beast" (1982) , "Piece of Mind" (1983) , "Powerslave" & chuyến lưu diễn "Live After Death" (1985) , "Somewhere in Time" (1986) và "Seventh Son of a Seventh Son" (1988)... qua đó liên tiếp giành những danh hiệu album bạch kim hay vàngAnhMỹ trong giai đoạn hoàng kim này . Đồng thời giúp cho Maiden đạt được vị trí quan trọng trong giới Metal .

Đến những năm 90 , 2 album tiếp theo như "No Prayer for the Dying" (1990) và "Fear of the Dark" (1992) cũng khá thành công cho đến khi ban nhạc không có sự góp giọng của Bruce và tiếng guitar của Adrian Smith trong các album "The X Factor" (1995) và "Virtual XI" (1998) (Blaze Bayley là ca sĩ trong hai album này) từ năm 1995-1998 . Nhưng sự thay đổi này không mấy thành công cho Maiden ở giai đoạn này , sau đó đội hình được ổn định lại cho đến hiện tại khi Bruce DickinsonAdrian Smith trở về và cống hiến tiếp cho ban nhạc 1 "siêu phẩm" album khác ở năm 2000 , đó là "Brave New World" .

Album gần đây nhất của nhóm mang tên "The Book of Souls" ra mắt vào gần cuối năm 2015 , và đã là 5 năm kể từ album trước đó "The Final Frontier" (2010) .

Với sự phát triển không ngừng của dòng nhạc heavy metal đang làm chủ âm nhạc , Iron Maiden cùng những cái tên như Metallica , AC/DC , Guns N' Roses , Judas Priest hay Manowar , Megadeth đã tạo ra những lò lửa metal bùng cháy khắp thế giới nơi mà họ đặt chân trong giai đoạn 70-90 thế kỷ trước .

Phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Nhắc tới cái tên "Iron Maiden" người ta lại nghĩ ngay đến 1 hình thức tra tấn thời trung cổ , nghĩ ngay đến hình ảnh ...1 người đàn bà . Tất nhiên âm nhạc của họ cũng không khác gì "trung cổ" . Nhắc đến "Iron Maiden" , người hâm mộ lại nghĩ ngay đến những bìa album hình ma quỷ ghê rợn của họ . Các thành viên trong ban nhạc vốn bị ảnh hưởng bởi những phim , văn học kinh dị , họ có cả 1 "nhân vật tượng trưng" mang tên "Eddie the Head" - thứ đã gắn bó với họ trong các album , single , music video và ngay cả trên sân khấu.

Ban nhạc với tay bassist đa tài kiêm người viết nhạc chính cho nhóm - Steve Harris người đã dẫn dắt lối đi âm nhạc cho IM là thành phần không thể thiếu . Kỹ thuật bè gãy guitar "mạch lạc , không giới hạn" của bộ đôi Dave Muray/Adrian Smith, tiếng trống "mát rượi" của Nicko McBrain đi cùng vị frontman đa tài Bruce Dickinson luôn có khả năng khuấy động khán giả mà không giới hạn sự rộng-hẹp của show diễn,đưa các thính giả vào 1 thế giới ảo đậm chất nguyên thủy mang tên "Iron Maiden" , phả vào những đồng nghiệp khác sự hưng phấn và bạn luôn thấy được sự hoàn hảo của "trinh nữ sắt" trên đấu trường âm nhạc .

Sự ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Về khía cạnh âm nhạc , Iron Maiden đã tạo ra ảnh hưởng và cảm hứng cho nhiều ban nhạc và nghệ sĩ thế hệ kế tiếp trong vòng 40 năm qua . Lối chơi heavy metal thuần khiết rắn chắc , mạch lạc , nhanh nhẹn mang đậm tính kỹ thuật , đa dạng giai điệu là cơ sở các band sau này .

In Flames ,1 đại diện tiêu biểu đến từ Thụy Điển chơi melodic death metal tạo ra thứ âm nhạc đi từ dạo khúc nhẹ nhàng của Iron Maiden cho đến sự cao trào , mạnh bạo một phần từ death metal , thứ mà khán giả thấy được trong hầu hết các album của họ với thời lượng track dài , giai điệu mạch lạc , chau truốt hoa mỹ . Chính Jesper Strömblad - cựu guitarist của In Flames đã từng đề cập rằng ban nhạc đã dùng âm thanh du dương của Iron Maiden để kết hợp với death metal !

Matt Heafy (Trivium) nói rằng :"Nếu không có Iron Maiden , Trivium chắc chắn không thể tồn tại" . Các thành viên trong những ban nhạc khác như Fozzy , 3 Inches of Blood , Dream Theater cũng thừa nhận Iron Maiden là tiền đề cho họ thành lập . Sự phát triển của NWOBHM tại Anh quốc đã lan đến nền âm nhạc của Mỹ vào giữa những năm 90 , thứ họ gọi là "New Wave of American Heavy Metal" cùng với hàng ngàn ban nhạc mở ra thời kỳ mới cho Metal.

Danh sách thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại
Thành viên tour diễn (khác)
Cựu thành viên

Hát chính:

Chơi guitar:

Tay trống:

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]