Indie rock

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Indie rock
Nguồn gốc từ loại nhạc Alternative rock, new wave, post-punk, garage rock
Khởi nguồn từ văn hóa Đầu những năm 1980, AnhMỹ
Nhạc cụ điển hình Guitar, bass, Trống, bàn phím, hát
Độ phổ biến Nổi tiếng ở Anh, Bắc MỹNhật từ đầu những năm 2000
Tiểu thể loại
Thể loại hỗn hợp phong cách
Sân khấu vùng
Nhiều nơi trên thế giới: AnhIrelandScotlandIsraelWalesMỹCanadaThụy ĐiểnNhậtÚcMalaysia - IndonesiaPhápThổ Nhỉ Kỳ
Chủ đề liên quan
Timeline of alternative rock, chủ nghĩa DIY

Indie rock là một thể loại alternative rock có nguồn gốc tại Anh và Mỹ từ những năm 1980. Đây là một thể loại khá đa dạng, với các tiểu thể loại bao gồm indie pop, jangle pop, lo-fi, và một số khác nữa. Indie rock ban đầu được sử dụng để mô tả các hãng thu âm, thuật ngữ này dần gắn liền với âm nhạc mà các hãng đĩa sản xuất và ban đầu có thể được sử dụng thay thế với alternative rock. Vì các ban nhạc grungepunk revival ở Mỹ, và Britpop ở Anh, trở nên đại chúng vào thập niên 1990, indie rock được dùng để chỉ các ban nhạc "ngoài cuộc" và nằm trong giới nhạc ngầm, đồng thời nó cũng phát triển một số tiểu thể loại và phong cách liên quan. Vào những năm 2000, kết quả của những thay đổi trong ngành công nghiệp âm nhạc và tầm quan trọng ngày càng tăng của Internet, một số nghệ sĩ indie rock bắt đầu nhận được thành công thương mại.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Căn nguyên: Cuối thập niên 1970 và thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

College rock và noise rock[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: College rockNoise rock
The Jesus and Mary Chain biểu diễn tại California năm 2007

Phim tài liệu 'Music for Misfits: The Story of Indie' của BBC[1] xác định sự hình thành của indie là vào năm 1977 khi ban nhạc Manchester Buzzcocks tự mình ra mắt Spiral Scratch EP. Dù Buzzcocks thường được xem là một nhóm punk, BBC và một số khác[2] cho rằng sự phát hành độc lập của Spiral Scratch đã dẫn đến việc tạo nên thuật ngữ 'indie' ('indie' là cách viết rút gọn của 'independent').

Vào giữa thập niên, từ "indie" ban đầu được dùng để mô tả âm nhạc do các hãng đĩa post-punk sản xuất (nhưng không dùng để chỉ chính hãng đĩa).[3] Giới indie rock tại Mỹ có tiền thân là college rock[4] với những nhóm như R.E.M.The Smiths.[5] Các ban nhạc này đi ngược với những gì synthpop thống trị đầu thập niên 1980 đã làm,[6][7] và giúp truyền cảm hứng cho jangle pop; một số ban nhạc quan trọng khác gồm 10,000 Maniacsthe dB's từ nước Mỹ, và The HousemartinsThe La's từ Anh quốc. Tại Mỹ, thuật ngữ "college rock" được gắn kết đặc biệt với âm thanh thô ráp, nặng tiếng biến âm của Pixies, Hüsker Dü, Minutemen, Meat Puppets, Dinosaur Jr., và The Replacements.[5]

Một phân nhánh thô bạo và nghịch tai của punk là noise rock, nhấn mạnh vào tiếng guitar điện ồn ào bị biến âm và tiếng trống mạnh mẽ, đại diện bởi các ban nhạc như Sonic Youth, Swans, Big BlackButthole Surfers.[8] Một số hãng đĩa indie rock nổi bật được thành lập vào thập niên 1980. Số này có Dischord Records (Washington, DC) năm 1980, Sub Pop Records (Seattle) năm 1986,[9] Matador Records (Thành phố New York) và Merge Records (Durham, Bắc Carolina) năm 1989. Touch and Go Records của Chicago được thành lập như một fanzine năm 1979 và bắt đầu phát hành nhạc vào thập niên 1980.[10]

Indie pop[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Indie pop

Tại Anh Quốc, băng cassette C86, một album tổng hợp của NME với sự góp mặt của Primal Scream, The Pastels, The Wedding Present và nhiều nhóm khác, cho thấy sự phát triển của giới indie Anh vào năm 1986. Nó giúp định hình giới indie pop theo sau.[11][12] Tiền thân của indie popJosef KOrange Juice của Postcard, cùng vài nghệ sĩ của một vài hãng đĩa đáng chú ý khác gồm Creation, SubwayGlass.[13] The Jesus and Mary Chain kết hợp "sự ồn ào sầu muộn" của the Velvet Underground với giai điệu pop của Beach Boys và lớp sản xuất "Wall of Sound" của Phil Spector,[14][15] còn New Order lại xuất hiện từ sự tan rã của nhóm post-punk Joy Division và thử sức với technohouse.[16]

The Jesus and Mary Chain, Dinosaur Jr, và dream pop của Cocteau Twins, là nguồn ảnh hưởng nền tảng cho phong trào shoegazing cuối thập niên 1980. My Bloody Valentine, sau đó là SlowdiveRide, tạo nên lớp "hỗn âm" ồn ào che đậy tiếng hát và giai điệu bằng những đoạn riff dài, drone-ing, tiếng biến âm và hồi âm.[17] Một phong trào lớn nữa là Madchester. Xoay quanh The Haçienda, một nightclub tại Manchester do New Order sở hữu và Factory Records, các nghệ sĩ Madchester như Happy MondaysThe Stone Roses kết hợp những "điệu" (rhythm) nhảy acid house, Northern soulfunk với guitar pop giàu giai điệu.[18]

Phát triển: Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Alternative trở nên đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Alternative rock
Stephen Malkmus của Pavement.

Thập niên 1990 đem đến nhiều thay đổi lớn đến giới alternative rock. Những ban nhạc grunge như Nirvana, Pearl Jam, Soundgarden, Hole, và Alice in Chains đạt thành công thương mại, trở nên nổi tiếng và lan rộng danh tiếng.[19] Những nhóm pop punk như Green DayThe Offspring cũng trở nên phổ biến và nhiều khi được gộp vào thể loại "alternative".[20] Tương tự, tại Anh Quốc, Britpop của BlurOasis liên tục leo bảng xếp hạng.[21]

Thuật ngữ "indie rock" dần gắn kết với những ban nhạc vẫn giữ vững được tình trạng độc lập của họ.[19] Thậm chí những nhóm grunge, sau đột phá thương mại, cũng bắt đầu chơi nhạc mang màu sắc độc lập hơn.[22]

Đa dạng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới cuối thập niên 1990, indie rock đã phát triển một số tiểu thể loại và phong cách liên quan. Lo-fi (viết tắt của low fidelity) từ phong trào do-it-yourself từ bỏ những kỹ thuật thu âm tốt và được đi đầu bởi những nghệ sĩ như Beck, Sebadoh hay Pavement;[20] nhiều ban nhạc của Elephant 6 (Neutral Milk Hotel, Elf Powerof Montreal) cũng đi theo con đường lo-fi.[23] Talk TalkSlint truyền cảm hứng cho post-rock (một phong cách nhạc ảnh hưởng bởi jazz và âm nhạc điện tử, tiên phong bởi những nhóm chủ chốt như Bark Psychosis và tiếp nối bởi Tortoise, StereolabLaika),[24][25] và giúp dẫn tới math rock, một loại nhạc có kết cấu phức tạp, lấy tiếng guitar chơi cầu kỳ làm nền tảng, được phát triển bởi các nhóm như Polvo hay Chavez.[26]

Trái lại, sadcore của American Music Club hay Red House Painters nhấn mạnh nỗi đau và sự chịu đựng qua việc sử dụng cả nhạc cụ điện và acoustic giàu tính giai điệu,[27] trong khi sự "tái xuất" của Baroque pop như một sự đối lập với lo-fi và experimental khi nhấn mạnh vào giai điệu và nhạc cụ cổ điển với những nhóm như Arcade Fire, Belle and SebastianRufus Wainright.[28]

Dấu hiệu của thành công thương mại: thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Music for Misfits: The Story of Indie - Episode guide - BBC Four”. BBC. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016. 
  2. ^ “A definition of indie music”. www.23indie.com. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ S. Brown and U. Volgsten, Music and Manipulation: on the Social Uses and Social Control of Music (Berghahn Books, 2006), ISBN 1-84545-098-1, p. 194.
  4. ^ A. Earles, Husker Du: The Story of the Noise-Pop Pioneers Who Launched Modern Rock (Voyageur Press, 2010), ISBN 0-7603-3504-4, p. 140.
  5. ^ a ă “College rock”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  6. ^ S. T. Erlewine, “The Smiths”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2011 .
  7. ^ S. T. Erlewine, “R.E.M.”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2011 .
  8. ^ “Noise Rock”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011 .
  9. ^ R. Weinstein (23 tháng 4 năm 2001), “An Interview with Bruce Pavitt”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  10. ^ A. Earles, Husker Du: The Story of the Noise-Pop Pioneers Who Launched Modern Rock (Voyageur Press, 2010), ISBN 0-7603-3504-4, p. 72.
  11. ^ M. Hann (23 tháng 4 năm 2001), “Fey City Rollers”, guardian.co.uk, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  12. ^ N. Hasted (27 tháng 10 năm 2006), “How an NME cassette launched indie music”, Independent.co.uk, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  13. ^ N. Abebe (24 tháng 10 năm 2005), “Twee as Fuck: The Story of Indie Pop”, Pitchfork Media, Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2011 .
  14. ^ “The Jesus and Mary Chain Biography”, Rolling Stone, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  15. ^ “the Jesus and Mary Chain”, Encyclopædia Britannica, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  16. ^ S. T. Erlewine, "British Alternative Rock", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1346–7.
  17. ^ “Shoegaze”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2011 .
  18. ^ “Madchester”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011 .
  19. ^ a ă “Indie rock”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2011 .
  20. ^ a ă S. T. Erlewine, "American Alternative Rock / Post Punk", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1344–6.
  21. ^ A. Bennett and J. Stratton, Britpop and the English Music Tradition (Aldershot: Ashgate Publishing, 2010), ISBN 0-7546-6805-3, p. 93.
  22. ^ C. Swanson "Are We Still Living in 1993?", retrieved 26 February 2013.
  23. ^ D. Walk, "The Apples in Stereo: Smiley Smile", CMJ New Music, Sep 1995 (25), p. 10.
  24. ^ S. Taylor, A to X of Alternative Music (London: Continuum, 2006), ISBN 0-8264-8217-1, pp. 154–5.
  25. ^ “Post rock”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2011 .
  26. ^ “Math rock”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2011 .
  27. ^ “Sadcore”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2011 .
  28. ^ “Chamber pop”, Allmusic, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2011 .