Âm nhạc Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Âm nhạc Nhật Bản bao gồm nhiều thể loại với nhiều cách thể hiện khác nhau trong cả âm nhạc hiện đại lẫn truyền thống. Âm nhạc trong tiếng Nhật gọi là 音楽 (ongaku), là sự kết hợp của 2 từ kanji 音 "On" (âm thanh) với kanji 楽 "gaku" (thưởng thức).[1] Nhật bảnlà thị trường băng đĩa lớn nhất thế giới, với 2 tỷ đô vào năm 2014 và là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 với tổng doanh thu bán lẻ vào năm 2014 là 2,6 tỷ đô[2] – chủ yếu là nghệ sỹ quốc nội với 37 trên 50 album bán chạy nhất[3] và 49 trên 50 đĩa đơn bán chạy nhất vào năm 2014.[4]

Âm nhạc địa phương thường xuất hiện tại các địa điểm karaoke, được thuê từ các hãng thu âm. Âm nhạc truyền thống của Nhật hơi khác với phuơgn Tây ở chỗ chúng thường dự trên khoảng dừng khoảng nghỉ của lấy hơi hơn là căn chính xác thời gian.[5]

Âm nhạc truyền thống và dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai hình thưucs âm nhạc được công nhận là cổ nhất của âm nhạc truyền thống Nhật Bản. Đó là  shōmyō (声明 hay 聲明?) hay Phật hát, và gagaku (雅楽?) hay dàn âm nhạc triều đình, cả hai đều có lịch sử từ thời NaraHeian.[6] Gagaku là loại ca nhạc cổ được biểu diễn trong cung điện hoàng gia từ thời Heian[phạt cần]. Kagura-uta (神楽歌), Azuma-asobi(東遊) và Yamato-uta (大和歌) là các tiết mục địa phương. Tōgaku (唐楽) và komagaku xuất phát từ thời nhà Đường của Trung Quốc thông qua bán đảo Hàn Quốc[phạt cần]. Thêm vào đó, gagaku chia ra làm kangen (管弦) (âm nhạc nhạc cụ) và bugaku (舞楽) (nhảy đi kèm với gagaku).

Bắt nguồn từ đầu thế kỷ 13 chính là honkyoku (本曲 "bản gốc"). Có bản chơi đơn là shakuhachi (尺八) được chơi bởi các nhà sư của trường thiền Fuke của phái phật Sơn[phạt cần]. Những thầy tu này, gọi là komusō ("hư vô tăng"), chơi honkyoku để xin bố thí và sự khai sáng. Trường Fuke đã ngừng hoạt động từ thế kỷ 19 nhưng các bản viết và truyền miệng của honkyoko vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, mặc dù thường xuất hiện trong bối cách các buổi biểu diễn.[phạt cần] Các samurai vẫn thường nghe và tham gia biểu diễn trong các hoạt động âm nhạc này và qua đó làm phong phú thêm cho cuộc sống và hiểu biết của mình.[phạt cần].

Âm nhạc truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn Biwa hōshi, Heike biwa, mōsō, và goze[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn Biwa.

biwa (琵琶 - Tiếng Trung: pipa), một dạng đàn cổ ngắn, được chơi bởi những người nghệ sỹ lang thang (biwa hōshi) (琵琶法師, và các bài hát thì như những câu chuyện.[phạt cần]Truyện nổi tiếng nhất là Heike truyền kỳ, một câu truyện về chiến thắng oanh liệt của nhà Minamoto trước nhà Taira[phạt cần]. Biwa hōshi bắt đầu tổ chức thành những hội (tōdō) cho nhưng người trông có vẻ yếu ớt vào đầu thế kỷ 13. Hiệp hội này cuối cùng cũng nắm giữ phần lớn của nền văn hóa âm nhạc Nhật Bản.[phạt cần] biwa trở thành nhạc cụ truyền thống Nhật .

Thêm vào đó, nhiều nhóm nhạc công mù nhỏ lẻ khác được thành lập ở khu vực Kyushu[phạt cần]. Những nhạc công đó, được gọi là mōsō (盲僧 thầy tu mù) đi quanh khu vực địa phuơng và thi hành nhiều hoạt động tôn giáo và bán tôn giáo để trừ tà và mang lại sức khỏe và may mắn. Họ cũng duy trì các tiết mục thuộc thể loại cổ. Biwa mà họ chơi nhỏ hơn nhiều so với chiếc Heike biwa (平家琵琶) được chơi bởi những nhạc công biwa hōshi.[phạt cần]

Nhà văn Làccadiio Hearn đã đề cập trong cuốn Kwaidan: những câu truyện và nghiên cứu về điều dị thường "Mimi-nashi Hoichi" (Hoichi không tai), một câu truyện ma Nhật Bản về một nhạc công biwa hōshi biểu diễn bài "Heike truyền kỳ"

Những người phụ nữ mù, được gọi là goze (瞽女), cũng đi khắp vùng đất từ thời trung cổ, ca hát đi kèm với chơi trống.[phạt cần] Từ thế kỷ mười bảy họ vẫn thường chơi đàn koto hay shamisen. Các tổ chức Goze xuất hiện trên khắp vùng, và tồn tại cho đến ngày nay tại tỉnh Niigata.[phạt cần]

Taiko[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn Taiko

Taiko (太鼓) là một loại trống Nhật bản có nhiều kích thước khác nhau và được sử dụng để chơi nhiều thể loại nhạc. Chúng đang trở nên nổi tiếng trong mấy năm trở lại đây do là nhạc cụ chính của tiết mục đồng diễn dựa trên nhiều điển tích và nhạc lễ hội thời xưa.Những bài trống Taiko đồng diễn trên trống lớn được gọi là kumi-daiko. Mặc dù nguồn gốc không rõ ràng, trống Taiko có lịch sử kéo dài đến tận thể kỷ thứ 7 với bằng chứng là tượng đất sét của một người đánh trống. Tuy trống Taiko cũng du nhập vào Trung quốc, nhưng nhạc cụ và giai điệu vẫn mang phong cách Nhật Bản .[7] Taiko được sử dụng trong thời kỳ đó như một công cụ để hăm dọa kẻ địch hoặc đưa ra mệnh lệnh trên chiến trường. Taiko sau đó tiếp tục dùng cho nhạc tôn giáo như của Phật giáo hay Shintō. Trong quá khứ, những người chơi thường là người sùng đạo, thường chỉ trong những dịp đặc biệt và trong nhóm nhỏ, nhưng rồi những người già (hoặc hiếm khi là phụ nữ) cũng chơi trống Taiko trong những lễ hội bán tôn giáo như là lễ hội Bon.

References[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kenkyusha's New Japanese-English Dictionary, ISBN 4-7674-2015-6
  2. ^ “The International Federation of the Phonographic Industry Releases Its 2014 Data on the World Music Market”. aramajapan.com. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  3. ^ “2014 Oricon Yearly Album Ranking TOP50”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  4. ^ “2014 Oricon Yearly Single Ranking TOP50”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Classical Japanese Music: Gagaku Court Music, Shakuhachi Flutes, The Koto, Biwa And Other Traditional Instruments - Japan”. Facts and Details. 27 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ Malm, William P. (1959). Japanese Music and Musical Instruments (ấn bản 1). Tokyo & Rutland, Vt.: C. E. Tuttle. 
  7. ^ History of Taiko [1] "鼓と太鼓のながれ" - 中国の唐からわが国に入ってきたいろんな太鼓が、時代と共にどのように変遷してきたかを各種の資料からまとめると、次のようになる。