Âm nhạc Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Âm nhạc Nhật Bản bao gồm nhiều thể loại với nhiều cách thể hiện khác nhau trong cả âm nhạc hiện đại lẫn truyền thống. Âm nhạc trong tiếng Nhật gọi là 音楽 (ongaku), là sự kết hợp của 2 từ kanji 音 "On" (âm thanh) với kanji 楽 "gaku" (thưởng thức).[1] Nhật bản là thị trường băng đĩa lớn nhất thế giới, với 2 tỷ đô vào năm 2014 và là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 với tổng doanh thu bán lẻ vào năm 2014 là 2,6 tỷ đô[2] – chủ yếu là nghệ sỹ quốc nội với 37 trên 50 album bán chạy nhất[3] và 49 trên 50 đĩa đơn bán chạy nhất vào năm 2014.[4]

Âm nhạc địa phương thường xuất hiện tại các địa điểm karaoke, được thuê từ các hãng thu âm. Âm nhạc truyền thống của Nhật hơi khác với phuơgn Tây ở chỗ chúng thường dự trên khoảng dừng khoảng nghỉ của lấy hơi hơn là căn chính xác thời gian.[5]

Âm nhạc truyền thống và dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai hình thức âm nhạc được công nhận là cổ nhất của âm nhạc truyền thống Nhật Bản. Đó là shōmyō (声明 hay 聲明?) hay Phật hát, và gagaku (雅楽?) hay dàn âm nhạc triều đình, cả hai đều có lịch sử từ thời NaraHeian.[6] Gagaku là loại ca nhạc cổ được biểu diễn trong cung điện hoàng gia từ thời Heian[phạt cần]. Kagura-uta (神楽歌), Azuma-asobi(東遊) và Yamato-uta (大和歌) là các tiết mục địa phương. Tōgaku (唐楽) và komagaku xuất phát từ thời nhà Đường của Trung Quốc thông qua bán đảo Hàn Quốc[phạt cần]. Thêm vào đó, gagaku chia ra làm kangen (管弦) (âm nhạc nhạc cụ) và bugaku (舞楽) (nhảy đi kèm với gagaku).

Bắt nguồn từ đầu thế kỷ 13 chính là honkyoku (本曲 "bản gốc"). Có bản chơi đơn là shakuhachi (尺八) được chơi bởi các nhà sư của trường thiền Fuke của phái phật Sơn[phạt cần]. Những thầy tu này, gọi là komusō ("hư vô tăng"), chơi honkyoku để xin bố thí và sự khai sáng. Trường Fuke đã ngừng hoạt động từ thế kỷ 19 nhưng các bản viết và truyền miệng của honkyoko vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, mặc dù thường xuất hiện trong bối cách các buổi biểu diễn.[phạt cần] Các samurai vẫn thường nghe và tham gia biểu diễn trong các hoạt động âm nhạc này và qua đó làm phong phú thêm cho cuộc sống và hiểu biết của mình.[phạt cần].

Âm nhạc truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn Biwa hōshi, Heike biwa, mōsō, và goze[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn Biwa.

biwa (琵琶 - Tiếng Trung: pipa), một dạng đàn cổ ngắn, được chơi bởi những người nghệ sỹ lang thang (biwa hōshi) (琵琶法師, và các bài hát thì như những câu chuyện.[phạt cần]Truyện nổi tiếng nhất là Heike truyền kỳ, một câu truyện về chiến thắng oanh liệt của nhà Minamoto trước nhà Taira[phạt cần]. Biwa hōshi bắt đầu tổ chức thành những hội (tōdō) cho nhưng người trông có vẻ yếu ớt vào đầu thế kỷ 13. Hiệp hội này cuối cùng cũng nắm giữ phần lớn của nền văn hóa âm nhạc Nhật Bản.[phạt cần] biwa trở thành nhạc cụ truyền thống Nhật .

Thêm vào đó, nhiều nhóm nhạc công mù nhỏ lẻ khác được thành lập ở khu vực Kyushu[phạt cần]. Những nhạc công đó, được gọi là mōsō (盲僧 thầy tu mù) đi quanh khu vực địa phuơng và thi hành nhiều hoạt động tôn giáo và bán tôn giáo để trừ tà và mang lại sức khỏe và may mắn. Họ cũng duy trì các tiết mục thuộc thể loại cổ. Biwa mà họ chơi nhỏ hơn nhiều so với chiếc Heike biwa (平家琵琶) được chơi bởi những nhạc công biwa hōshi.[phạt cần]

Nhà văn Làccadiio Hearn đã đề cập trong cuốn Kwaidan: những câu truyện và nghiên cứu về điều dị thường "Mimi-nashi Hoichi" (Hoichi không tai), một câu truyện ma Nhật Bản về một nhạc công biwa hōshi biểu diễn bài "Heike truyền kỳ"

Những người phụ nữ mù, được gọi là goze (瞽女), cũng đi khắp vùng đất từ thời trung cổ, ca hát đi kèm với chơi trống.[phạt cần] Từ thế kỷ mười bảy họ vẫn thường chơi đàn koto hay shamisen. Các tổ chức Goze xuất hiện trên khắp vùng, và tồn tại cho đến ngày nay tại tỉnh Niigata.[phạt cần]

Taiko[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn Taiko

Taiko (太鼓) là một loại trống Nhật bản có nhiều kích thước khác nhau và được sử dụng để chơi nhiều thể loại nhạc. Chúng đang trở nên nổi tiếng trong mấy năm trở lại đây do là nhạc cụ chính của tiết mục đồng diễn dựa trên nhiều điển tích và nhạc lễ hội thời xưa.Những bài trống Taiko đồng diễn trên trống lớn được gọi là kumi-daiko. Mặc dù nguồn gốc không rõ ràng, trống Taiko có lịch sử kéo dài đến tận thể kỷ thứ 7 với bằng chứng là tượng đất sét của một người đánh trống. Tuy trống Taiko cũng du nhập vào Trung quốc, nhưng nhạc cụ và giai điệu vẫn mang phong cách Nhật Bản .[7] Taiko được sử dụng trong thời kỳ đó như một công cụ để hăm dọa kẻ địch hoặc đưa ra mệnh lệnh trên chiến trường. Taiko sau đó tiếp tục dùng cho nhạc tôn giáo như của Phật giáo hay Shintō. Trong quá khứ, những người chơi thường là người sùng đạo, thường chỉ trong những dịp đặc biệt và trong nhóm nhỏ, nhưng rồi những người già (hoặc hiếm khi là phụ nữ) cũng chơi trống Taiko trong những lễ hội bán tôn giáo như là lễ hội Bon.

Nhạc đông diễn taiko được cho là phát minh bởi Daihachi Oguchi vào năm 1951. Là một ty trống nhạc Jazz, Oguchi đã lồng ghép nhạc nền của mình với dàn trống Taiko mà chính tay ông thiết kế. Phong cách mạnh mẽ của ông đã làm cho nhóm nhạc nổi tiếng cả Nhật Bản, và góp phần làm cho vùng Hokuriku là trung tâm của nhạc Taiko. Các nhóm nhạc nổi lên từ phong trào này bảo gồm nhóm Oedo Sukeroku Daiko, với Seido Kobayashi. Năm 1969 chứng kiến nhóm mang tên Za Ondekoza thành lập bởi Tagayasu Den; Za Ondekoza đã tập trung các nhạc công trẻ để cải tiến một dòng của nhạc Taiko, cái mà trước đó được sử dụng như phong tục địa phương. Vào những năm 1970, chính phủ Nhật Bản trợ cấp tiền để bảo tồn văn hóa Nhật Bản, và nhiều cộng đồng Taiko đã ra đời. Vào thế kỷ tiếp, các nhóm Taiko đã vươn ra thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Một ví dụ điển hình cho nhóm nhạc Taiko hiện đại là nhóm Gocoo.

Nhạc dân gian Min'yō[sửa | sửa mã nguồn]

Một phụ nữ dân gian Nhật Bản cầm đàn shamisen, 1904

Nhạc dân gian Nhật Bản ( min'yõ) có thể được gộp và phân loại theo nhiều cách nhưng thường được chia theo 4 loại chính: nhạc công việc, nhạc tôn giáo( như là sato kagura, nhạc Thần đạo(Shinto), nhạc dùng trong dịp tụ tập như cưới hỏi, ma chay, lễ hội ( đặc biệt là lễ hội Obon) và nhạc thiếu nhi( warabe uta)

Trong min'yō, các ca sỹ thường chơi kèm với đàn 3 dây được gọi là shamisen, trống taiko, và một sáo trúc gọi là shakuhachi.[8] Nhạc cụ khác cũng có thể đi kèm như là sáo ngang shinobue, một cái chuông gọi là kane, một cái trống tay gọi là tsuzumi, và/hoặc đàn tam thập lục được biết như koto. Ở Okinawa, nhạc cụ chính là sanshin. Đây là những nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản, nhưng thiết bị hiện đại, như cái guitar điện và nhạc cụ điện tử, cũng được dùng ngày nay, khi những ca sỹ enka hát những bài min'yō truyền thống.[9]

Khi đề cập tới min'yō, người ta thường có những khái niệm như là ondo, bushi, bon uta, và komori uta. Một ondo thường dùng để miêu tả các bài hát với các nhịp đặc biệt có thể được nghe như nhịp 2/4 (mặc dù người biểu diễn không thường đánh nhịp theo nhóm). Những bài thường dùng ở lễ Obon sẽ thường là ondo. Bushi là một bài hát với một giai điệu đặc biệt. Ngay từ cái tên, "bushi" là tổ hợp của hai từ "giai điệu" và "nhịp điệu". Từ này ít khi dùng một mình mà đứng trước những khái niệm nói đến địa điểm, nghề nghiệp, tên riêng hoặc những gì tuơng tự. Bon uta, giống như tên gọi, là những bài hát cho Obon, lễ hội đèn lồng của người chết. Komori uta là bài hát ru trẻ con. Tên các bài hát của nhạc min'yo thường bao gồm các khái niệm miêu tả, thường là ở cuối, thường là ở cuối. Ví dụ như: Tokyo Ondo, Kushimoto Bushi, Hokkai Bon Uta, và Itsuki no Komoriuta.

Rất nhiều bài hát trong số đó bao gồm thêm nhấn âm vào các âm tiết và tiếng hô (kakegoe). Kakegoe thường là tiếng cổ vũ nhưng trong nhạc min'yō, chúng thường dùng như một phần của đồng ca. Có nhiều loại kakegoe, dù ở từng vùng thì khác nhau. Ví dụ như trong vùng Okinawa, tiếng hô thường là "ha iya sasa!". Trong đại lục Nhật Bản,chúng ta có khả năng nghe thấy tiếng "a yoisho!," "sate!," hoặc "sore!". Những tiếng hô khác như là "a donto koi!," và "dokoisho!"

Gần đây, có một hệ thống phường hội gọi là iemoto đã được áp dụng cho vài thể loại min'yō. Hệ thống này đầu tiên được phát triển để chuyển giao các loại nhạc cổ điển như nagauta, shakuhachi, hay nhạc koto, nhưng kể từ khi người ta chứng minh được là nó cũng mang lại lợi ích cho giảng viên và được hộ trợ bới sinh viên đang mong muốn có được tấm bằng certificates of proficiency và các tên tuổi nghệ sỹ mong muốn truyền bá các dòng nhạc như min'yō, Tsugaru-jamisen và các hình thức âm nhạc khác không được chuyển giao không chính thưc. Ngày nay, min'yō được truyền lại trong các tổ chức gia đình không theo huyết thống và các khóa học việc dài hạn đang rất phổ biến .

Nhạc dân gian Okinawan[sửa | sửa mã nguồn]

Umui, nhạc tôn giáo, shima uta, nhạc múa, và đặc biệt là kachāshī, nhạc chúc mừng kỷ niệm, đều nổi tiếng.

Nhạc dân gian Okinawan khác biệt so với nhạc dân gian trên đại lục Nhật Bản theo nhiều cách khác nhau.

Đầu tiên, Okinawan thường sử dụng đàn sanshin  trong khi trên đất liền Nhật, người ta sử dụng đàn Shamisen.  Nhạc cũ khác của okinawan là sanba (nhạc cụ tạo ra tiếng lách cách như chiếc catanhet), taiko và kỹ thuật huýt sáo the thé gọi yubi-bue (指笛?) (指笛?).

Thứ hai, về khóa nhạc. Một ngũ cung, mà trong đó hơi giống với ngũ cung của nhạc lý phương tây, thường được nghe trong các bản nhạc min'yō trên những đảo chính của Nhật bản. Trong ngũ cung này, âm át dưới và âm dẫn (âm 4 và âm 7 trong âm giai của phương Tây) sẽ bị lược bỏ, tạo ra âm giai mà không có nửa cung giữa mỗi nốt. (Đồ, rê, Mi, Vậy, La trong solfeggio, hay 1, 2, 3, 5, and 6) Okinawan min'yō, tuy nhiên, có đặc điểm là có âm giai bao gồm cả nửa cung đã bị lược bỏ đi như ngũ cung đề cập ở trên sau khi đã được phân tích trong nhạc lý của phương Tây. Thực tế, hầu hết âm giai thường dùng trong Okinawan min'yō gồm âm độ 1, 2, 3, 4, 5, 6, và 7.

Nhạc cụ truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biwa (琵琶)
  • Fue (笛)
  • Hichiriki (篳篥)
  • Hocchiku (法竹)
  • Hyōshigi (拍子木)
  • Kane (鐘)
  • Kakko (鞨鼓)
  • Kokyū (胡弓)
  • Koto (琴)
  • Niko (二胡)
  • Okawa (hay Ōtsuzumi) (大鼓)
  • Ryūteki (竜笛)
  • Sanshin (三線)
  • Shakuhachi (sáo trúc) (尺八)
  • Shamisen (三味線)
  • Shime-Daiko (締太鼓)
  • Shinobue (篠笛)
  • Shō (笙)
  • Suikinkutsu (水琴窟)
  • Taiko (i.e. Wadaiko) 太鼓~和太鼓
  • Tsuzumi (鼓) (hay Kotsuzumi)

Sự du nhập của âm nhạc phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc pop truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Minh Trị duy tân, âm nhạc phương Tây đã du nhập vào Nhật Bản. Một công chức, tên là Izawa Shuji, biên soạn các bài hát như 'Auld Lang Syne" và giao nhiệm vụ sử dụng ngũ cung.[phạt cần] Âm nhạc phương Tây, đặc biệt là hành khúc, sớm trở nên nổi tiếng ở Nhật.[phạt cần] Hai thể loại âm nhạc được phát triển trong thời kỳ này là shoka, được sáng tác để mang âm nhạc phương Tây vào trường học, và gunka, hành khúc kết hợp với vài yếu tố của nước mình..[phạt cần]

Khi Nhật Bản chuyển sang chế độ dân chủ gián tiếp ở cuối thế kỷ 19, các nhà lãnh đạo đã thuê ca sỹ để bán những bài hát mang theo thông điệp của họ vì việc diễn thuyết trước công chúng bị cấm. Những nghệ sỹ đường phố gọi là enka-shi.[phạt cần] Cũng vào cuối thế kỷ 19, một loại hình hát rong đã trở nên nổi tiếng ở vùng Osaka gọi là rōkyoku. Hai ngôi sao nổi tiếng Yoshida Naramaru và Tochuken Kumoemon cũng trở nên nổi tiếng từ thời kỳ này.[phạt cần]

Ichiro Fujiyama, một ca sỹ ryūkōka có tầm ảnh hưởng.

kayōkyoku là tên của dòng nhạc pop phương Tây, được cho là xuất hiện lần đầu trong vở kịch hồi sinh bởi Tolstoy. Bài hát "Kachūsha không Uta", sáng tác bởi Shinpei Nakayama, và do ca sỹ Sumako Matsui hát vào năm 1914. Những bài hát đã hết sức thành công trong giới enka-shi, và là một trong những bản thu âm lớn đầu tiên của Nhật Bản.[phạt cần] . Ryūkōka, một thể loại nhạc đi theo phong cách cổ điển phương Tây, đã phủ sóng trên toàn quốc trước thời kỳ chiến tranh.[phạt cần] Ichiro Fujiyama trở nên nổi tiếng trong thời kỳ tiền chiến tranh, nhưng sau đó các bài hát về chiến tranh lại được ưa chuộng trong Thế Chiến II.[phạt cần]

Kayōkyoku đã trở thành một ngành công nghiệp trọng yếu, đặc biệt là sau sự xuất hiện của siêu sao Misora Hibari.[phạt cần]Từ những năm 1950, tango và các loại nhạc Latin khác, đặc biệt là âm nhạc Cuba, đã rất nổi tiếng ở Nhật bản.[phạt cần] Một thể loại tango của Nhật ,gọi là dodompa, cũng được phát triển. Kayōkyoku dần dần có mối liên hệ hoàn toàn với cấu trúc âm nhạc truyền thống Nhật Bản, trong khi nhiều bài hát theo phong cách phương tây xuất hiện gọi là J-pop (Japanese pop).[phạt cần] Nhạc Enka, sau khi theo cấu trúc âm nhạc truyền thống Nhật Bản, đã trở nên khá nổi tiếng trong thời kỳ hậu chiến, mặc dù từ những năm 1970 không còn được ưa chuộng và được ít giới trẻ yêu thích.[phạt cần] Các ca sĩ enka nổi tiếng bao gồm Hibari Misora, Saburo Kitajima, Ikuzo Yoshi và Kashiwada Hikawa.

Âm nhạc nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cổ điển phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cổ điển phương Tây có sức hút mạnh mẽ ở Nhật Bản, và Nhật Bản cũng là một trong những thị trường âm nhạc quan trọng cho thể loại âm nhạc truyền thống này, cùng[phạt cần]với Toru Takemitsu (nổi tiếng trong việc đánh giá phim và những tác phẩm tiên phong) là người được biết đến nhiều nhất.[phạt cần] Nhạc trưởng Seiji Ozawa cũng hết sức có tiếng tăm. Kể từ năm 1999 nghệ sỹ dương cầm Fujiko Hemming, nhờ chơi những bản của LisztChopin, đã trở nên nổi tiếng và bán được hàng triệu đĩa CD.[phạt cần] Nhật bản cũng là nhà của ban nhạc giao hưởng dẫn đầu thế giới.[phạt cần]Tokyo Kosei Gió Orchestra, và phần lớn cuộc thi âm nhạc nào, giải thi đấu quốc gia All-Japan Band Association.[phạt cần] Nhạc cổ điển phương Tây không đại diện cho văn hóa gốc của Nhật. Những người Nhật đầu tiền được tiếp xúc với nhạc cổ điển phương Tây vào nửa cuối thế kỷ 19, sau hơn 200 năm bế quan tỏa cảng .[phạt cần] Sau đó, người Nhật Bản nghiêm túc du nhập nhạc cổ điển và biến thể loại này thành một phần của nền văn hóa.

Các dàn giao hưởng
  • Gunma Symphony Orchestra
  • Hiroshima Symphony Orchestra
  • Hyogo Performing Arts Center Orchestra
  • Japan Philharmonic Orchestra
  • Kanagawa Philharmonic Orchestra
  • Kyoto Symphony Orchestra
  • Kyushu Symphony Orchestra
  • Nagoya Philharmonic Orchestra
  • New Japan Philharmonic
  • NHK Symphony Orchestra
  • Orchestra Ensemble Kanazawa
  • Osaka Philharmonic Orchestra
  • Sapporo Symphony Orchestra
  • Tokyo Metropolitan Symphony Orchestra
  • Tokyo Philharmonic Orchestra
  • Tokyo City Philharmonic Orchestra
  • Tokyo Symphony Orchestra
  • Yamagata Symphony Orchestra
  • Yomiuri Nippon Symphony Orchestra

Jazz[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 1930s (ngoại trừ trong Thế Chiến II, khi nó bị hạn chế do được coi là thứ âm nhạc của kẻ thù)[phạt cần] jazz đã có sức hút lớn ở Nhật Bản.[phạt cần] Nhật Bản là thị trường quan trọng của thể loại nhạc này và có khi có những bản thu âm chỉ có ở thị trường Nhật Bản mà không phải ở Mỹ hay Châu Âu. Một số lượng các nhạc sỹ nhạc Jazz Nhật đã dành được thành công ở nước ngoài lẫn trong nước.[phạt cần] Các nhạc sỹ như June (sinh ra ở Nhật Bản) và Dan (Nhật kiều thế hệ thứ 3, thuộc ban nhạc Hiroshima), và Sadao Watanabe có lượng lớn người hâm mộ ở ngoại quốc .

Gần đây, câu lạc bộ nhạc jazz hay nu-jazz đã trở nên nổi tiếng với số lượng lớn giới trẻ Nhật Bản.[phạt cần] Các DJs bản địa như Ryota Nozaki (Jazztronik), hai anh em Okino Shuya và Okino Yoshihiro của Kyoto Jazz Massive, Toshio Matsuura (cựu thành viên của United Future Organization) và DJ Shundai Matsuo, người tạo ra của sự kiện nổi danh DJ hàng tháng, Creole ở Beppu, Nhật Bản cũng như nghệ sĩ nhạc nu-jazz, Sleepwalker, GrooveLine, và Soil & "Pimp" Sessions đã mang đến sự thay đổi lớn trong quan điểm truyền thống về nhạc jazz ở Nhật Bản.

Một số ban nhạc mới bao gồm Ego-Wrappin'Sakerock cùng với các nhạc sĩ nhạc thể nghiệm như Otomo Yoshihide và Keiji Haino.

Các thể loại nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

J-Pop[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48, một nhóm nhạc thần tượng nữ đã bán được hơn 30 triệu đĩa.

J-pop, viết tắt của nhạc pop Nhật, là khái niệm về một thể loại nhạc du nhập vào xu thế âm nhạc Nhật Bản vào những năm 1990. J-pop hiện đại có nguồn gốc từ nhạc popnhạc rock những năm 1960, như là ban nhạc The Beatles, dẫn đến những ban nhạc như Happy End kết hợp rock với âm nhạc Nhật Bản.[10] J-pop còn được định nghĩa rộng hơn bởi những những ban nhạc New Wave như là Yellow Magic OrchestraSouthern All Stars vào cuối những năm 1970.[11] Cuối cùng, J-pop thay thế cho kayōkyoku ("giai điệu pop ", một thuật ngữ cho nhạc pop Nhật từ những năm 1920 đến những năm 1980) trong bối cảnh âm nhạc Nhật Bản.[12] Thuật ngữ được tạo ra bởi giới truyền thông Nhật Bản để phân biệt nhạc Nhật với nhạc nước ngoài.

Những thần tượng âm nhạc đóng một vai trò lớn trong thị trường âm nhạc Nhật, với những nhóm nhạc thần tượng nữ và nam thường xuyên dẫn đầu bản xếp hạng đĩa đơn. Trong đó bao gồm các ban nhạc như Arashi, có đĩa đơn bán chạy nhất năm 2008 và 2009, và nhóm AKB48, với đĩa đơn bán chạy nhất kể từ năm 2010.

Nhạc sàn và nhạc disco[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1984, nhạc sỹ người Mỹ Michael Jackson trở thành nghệ sỹ phương Tây đầu tiên có album([ Thriller]) bán hơn 1 triệu bản theo như bảng xếp hạng Oricon.[13] Phong cách của ông được coi như hình mẫu cho nhạc nhảy Nhật Bản, dẫn đầu danh sách ưa thích của công tyAvex Group và Johnny & Associates.[14]

Năm 1990, hãng Avex Trax bắt đầu phát hành loạt đĩa mang tên Super Eurobeat ở Nhật. Nhạc Eurobeat ở Nhật bản đã làm nên sự thành công của hình thức nhảy nhóm Para Para. Trong khi những nghệ sĩ của hãng Avex như là Every Little ThingAyumi Hamasaki trở nên nổi tiếng trong những năm1990, những tên tuổi mới cũng nổi lên vào cuối những năm 1990 bao gồm Hikaru UtadaMorning Musume. Album ra mắt của Hikaru Utada, First Love, trở thành album bán chạt nhất của Nhật với 7 triệu bản, còn Ayumi Hamasaki trở thành nữ nghệ sỹ và nhạc sỹ solo hàng đầu của Nhật, và Morning Musume vẫn là nhóm nhạc nữ được biết đến nhiều nhất của nền công nghiệp nhạc pop Nhật Bản.

Rock[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm 1960, nhiều ban nhạc rock Nhật chịu ảnh hưởng bởi dòng nhạc Rock phương Tây như của ban Beatles, Bob Dylan, và the Rolling Stones, cùng với dòng nhạc khác như nhạc dân gian Appalachian, psychedelic rock, mod và các thể loại tương tự: một hiện tượng mang tên Group Sounds  (G. S.). John lennon của nhóm nhạc The Beatles sau này trở thành một trong những hình tượng nhạc sỹ phương Tây nổi tiếng nhất ở Nhật Bản.[15] Group Sounds là một thể loại rock Nhật Bản nổi tiếng vào giữa cho đến cuối những năm 1960.[phạt cần] Sau sự bùng nổ của thể loại nhạc này, có một vài nhạc sỹ sáng tác nổi danh. Nobuyasu Okabayashi là người đầu tiên được biết đến rộng rãi.[phạt cần] Wataru Takada, chịu ảnh hưởng bởi ca sỹ Woody Guthrie, cũng trở nên nổi tiếng.[phạt cần]. Họ đều đi theo phong cách của nhạc dân gian Mỹ nhưng thay vào đó là viết lời ca Nhật Bản. Takada sử dụng thơ hiện đại Nhật Bản cho lời nhạc, trong khi Kazuki Tomokawa sử dụng lời thơ của Chuya Nakahara. Tomobe Masato, lấy cảm hứng từ Bob Dylan, viết lên những bản nhạc được đánh giá rất cao.[phạt cần] The Tigers lại là nhóm nhạc nổi tiếng nhất của thể loại nhạc này trong thời kỳ đó. Sau đó, là vài thành viên của  The Tigers, The Tempters và The Spiders, tách nhóm và thành lập ra siêu ban nhạc Pyg.

Dòng nhạc rock kết hợp với nhạc dân gian đã được hình thành từ những năm 1960.[phạt cần] Những ban nhạc như Happy End được coi là gần như là đã tạo ra thể loại nhạc này. Vào những năm 1970, thể loại nhạc này càng trở nên nổi tiếng hơn.[phạt cần] Những ban nhạc như Champloose, cùng với Carol (dẫn dắt bởi Eikichi Yazawa), RC Succession và Shinji Harada đặc biệt nổi tiếng và giúp định hình giai điệu của thể loại này. Đôi lúc, vào buổi đầu cuối những thập niêm 60, hoạt động mạnh vào những năm 70, có những nhạc sĩ kết hợp nhạc rock với nhạc dân gian Mỹ và các yếu tố nhạc pop, thường được người Nhật gọi là nhạc "dân gian" do dùng đàn guitar acoustic. Trong đó, có những ban nhạc là  Off Course, Tulip, Alice (dẫn dắt bởi Shinji Tanimura), Kaguyahime, Banban, Garo và Gedō hoặc các nghệ sỹ độc tấu như Yosui Inoue, Yuming, và Iruka. Các nhóm sau này, như Kai Band (dẫn dắt bởi Yoshihiro Kai) và  Southern All Stars thời kỳ đầu, cũng gắn liền với phong trào trên.

A colour photograph of three members of Yellow Magic Orchestra at the front of a stage
Ban nhạc Yellow Magic Orchestra, năm 2008

Một số nhạc sỹ Nhật Bản đã bắt đầu thử nghiệm nhạc cụ điện tử vào rock vào đầu những năm 1970. Ví dụ điển hình như Isao Tomita, với album kết hợp nhạc cụ điện tử với nhạc rock đương đại và pop, Electric Samurai: Switched on Rock, vào năm 1972.[16] Một vài bản thu khác bao gồm album Ice World (1973) của Inoue Yousui và album sử dụng Progressive rock, Benzaiten (1974), của  Osamu Kitajima. Cả hai đều có sự đóng góp của Harruomi Hosono, người mà sau này lập ra ban nhạc mang tên "Yellow Magic Band" (sau này đổi thành "Yellow Magic Orchestra") vào năm 1977.[17]

References[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kenkyusha's New Japanese-English Dictionary, ISBN 4-7674-2015-6
  2. ^ “The International Federation of the Phonographic Industry Releases Its 2014 Data on the World Music Market”. aramajapan.com. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  3. ^ “2014 Oricon Yearly Album Ranking TOP50”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  4. ^ “2014 Oricon Yearly Single Ranking TOP50”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Classical Japanese Music: Gagaku Court Music, Shakuhachi Flutes, The Koto, Biwa And Other Traditional Instruments - Japan”. Facts and Details. 27 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ Malm, William P. (1959). Japanese Music and Musical Instruments (ấn bản 1). Tokyo & Rutland, Vt.: C. E. Tuttle. 
  7. ^ History of Taiko [1] "鼓と太鼓のながれ" - 中国の唐からわが国に入ってきたいろんな太鼓が、時代と共にどのように変遷してきたかを各種の資料からまとめると、次のようになる。
  8. ^ Malm, William P. (1963), Nagauta: The Heart of Kabuki Music, Westport, Conn.: Greenwood Press 
  9. ^ Hughes, David W. (2008). Traditional folk song in modern Japan: sources, sentiment and society. Folkestone, UK: Global Oriental Ltd. ISBN 978-1-905246-65-6. 
  10. ^ [cần dẫn nguồn]
  11. ^ “New Music” (bằng tiếng Japanese). Who.ne.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  12. ^ “J-POPって何だろう?そして今、改めて歌謡曲の魅力とは?” (bằng tiếng Japanese). Chūkyō Television Broadcasting. 2008. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2009. 
  13. ^ さよならポップス界のピーターパン 栄光と奇行と (bằng tiếng Nhật). Asahi Shimbun. 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009. 
  14. ^ さよならポップス界のピーターパン 栄光と奇行と (bằng tiếng Nhật). Asahi Shimbun. 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2009. 
  15. ^ [cần dẫn nguồn]
  16. ^ Mark Jenkins (2007), Analog synthesizers: from the legacy of Moog to software synthesis, Elsevier, pp. 133–4, ISBN 0-240-52072-6, retrieved 2011-05-27 
  17. ^ Harry Hosono And The Yellow Magic Band – Paraiso'Harry Hosono And The Yellow Magic Band – Paraiso trên Discogs