AKB48

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
AKB48
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánAkihabara, Tokyo, Nhật Bản Nhật Bản
Thể loạiJ-Pop
Năm hoạt động2005 (2005)–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitewww.akb48.co.jp
Thành viên
Thông tin YouTube
Kênh
Năm hoạt động2006—nay
Thể loạiÂm nhạc
Lượt đăng ký2,46 triệu (tính đến 27/2/2021)
YouTube Silver Play Button 2.svg 100.000 lượt đăng ký 2010
YouTube Gold Play Button 2.svg 1.000.000 lượt đăng ký 2015

AKB48 (tiếng Nhật: エーケービー フォーティーエイト Ēkēbī Fōtīeito, tiếng Anh: A.K.B. Forty-Eight) là một nhóm nhạc thần tượng nữ nổi tiếng nhất Nhật Bản, được thành lập bởi Yasushi Akimoto và rất nổi tiếng tại Nhật Bản [1], thường được mô tả như là một hiện tượng xã hội[2]. Hiện nay, nhóm có khoảng 600 thành viên ở độ tuổi từ 13 đến giữa độ tuổi 29[3].AKB48 hiện đang nắm giữ kỷ lục Guinness World Records về "Nhóm nhạc Pop có số lượng thành viên đông nhất"[4]. Họ cũng là một trong những nhóm nhạc có doanh thu cao nhất trên thế giới, với doanh thu kỷ lục bán đĩa năm 2011 là trên 211 triệu USD và năm 2012 là 226 triệu USD chỉ riêng ở Nhật Bản.[5]

40 đĩa đơn mới nhất của nhóm liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng Đĩa đơn hàng tuần của Oricon và bán trên triệu bản. Tính đến năm 2018, AKB48 trở thành nhóm nhạc có doanh thu bán đĩa kỉ lục 56 triệu bản sao được bán ra theo Oricon [6].Đĩa đơn bán chạy nhất của họ "Teacher,Teacher" bán được hơn 3 triệu bản trong năm 2018 theo Billboard/Soundscan [7] và tổng cộng tất cả 3,8 triệu phiếu bầu đĩa đơn tổng tuyển cử (nếu tính thêm hình thức bỏ phiếu khác). Trong năm 2010, ca khúc "Beginner" và "Heavy Rotation" xếp hạng đầu tiên và thứ hai trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất của Nhật Bản trong năm,[8] trong khi vào năm 2011, 5 đĩa đơn của AKB48 chiếm đóng cả năm vị trí đầu của Bảng xếp hạng đĩa đơn Oricon hàng năm [9]. Tính đến tháng 4/2019, nhóm đã bán được hơn 60 triệu bản ghi âm[10], bao gồm 6 triệu bản album, và theo bảng xếp hạng của Oricon, AKB48 giữ kỷ lục cho đĩa đơn bán ra tại Nhật Bản bởi một nhóm nhạc nữ. Từ năm 2010 đến 2019, các đĩa đơn của AKB48 đã chiếm ít nhất hai vị trí đầu của Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng năm của Oricon.

Không giống như các nhóm nhạc thần tượng khác ở Nhật Bản, AKB48 hoạt động theo mô hình "Thần tượng mà bạn có thể gặp mặt" ("Idol you can meet") và có nhà hát hát riêng ở Akihabara, Tokyo, được đặt trên tầng 8 của tòa nhà Don Quijote, nơi họ biểu diễn trong tuần và có nhiều suất diễn vào thứ Bảychủ nhật, nhóm còn có các buổi concert tại các sự kiện trước công chúng và sự kiện "bắt tay" (Handshake Event), nơi người hâm mộ có thể gặp các thành viên trong nhóm. Một đĩa đơn hiện tại của AKB48 chứa từ 4 đến 5 bài hát (kèm 4-5 PV [Promotional video - Phim video quảng bá] của bài đó) nhưng chỉ bài hát chính được quảng bá trên các chương trình âm nhạc, truyền hình, quảng cáo và phim. Akimoto đã mở rộng mô hình trên thành một số nhóm chị em ở Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Phillippines, Ấn Độ, và Việt Nam.

Ban đầu AKB48 được chia thành ba đội (Team) chính: Team A, Team K, Team B sau này có thêm Team 4Team 8, nhóm có các thành viên từ 47 tỉnh thành Nhật Bản. Ban đầu là thế hệ thứ nhất (tuyển đợt đầu) là Team A, thế hệ thứ 2 là Team K, thế hệ thứ 3 là Team B. Nhưng sau đợt cải tổ lại nhóm vào cuối năm 2009, thành viên các team đã được sắp xếp lại phù hợp với phong cách từng team. Hiện tại trong 4 Team, còn 1 thành viên lứa đầu, 1 thành viên thế hệ thứ 3, một số thành viên thế hệ thứ 4, 5, 6, 7, 9 và 10, các thành viên mới nhất thuộc thế hệ thứ 16. Okabe Rin (sinh năm 1996) là đội trưởng của Team A, Komiyama Haruka (sinh năm 1998) là đội trưởng của Team K, Iwatate Saho (sinh năm 1994) là đội trưởng của Team B, và Murayama Yuiri (sinh năm 1997) là đội trưởng của Team 4.

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hát AKB48 tại Akihabara, Tokyo

AKB48 ra đời theo mô hình "Thần tượng mà bạn có thể gặp mặt" (Idol you can meet). Thần tượng Nhật Bản là những nghệ sĩ biểu diễn trực tiếp thu hút sự ủng hộ của fan, việc tương tác với fan giúp họ duy trì và gia tăng lượng fan hâm mộ trung thành. Yasushi Akimoto cho biết ông muốn tạo ra nhóm nhạc thần tượng độc đáo, không giống như các nhóm nhạc thần tượng khác, họ sẽ biểu diễn tại các buổi concert, chủ yếu xuất hiện trên truyền hình và sẽ biểu diễn thường xuyên tại nhà hát của chính họ, ngoài ra fan hâm mộ có thể gặp các thành viên trong nhóm trực tiếp tại các sự kiện "bắt tay" (Handshake Event).

Nhóm được chia thành nhiều Team, để giảm bớt khối lượng công việc của các thành viên (vì suất diễn gần như hàng ngày của nhà hát chỉ có một team tại một thời điểm) và cho phép AKB48 biểu diễn đồng thời ở một số nơi. Theo cựu thành viên Misaki Iwasa, mỗi team có một hình tượng riêng: Team A đại diện cho tự do; Team B với hình tượng thần tượng cùng trang phục dễ thương, còn Team K với hình tượng mạnh mẽ. Ban đầu, mỗi team sẽ có 16 thành viên với tổng số là 48, nhưng số thành viên của nhóm đã thay đổi theo thời gian, và đã vượt quá 120 người. Các thành viên mới được gọi là thực tập sinh (研究生, kenkyūsei) sẽ có thời điểm biểu diễn thay thế.

Nhắc đến cái tên AKB48, nhiều người nghĩ rằng số lượng thành viên của nhóm là 48 người. Tuy nhiên, số 48 được lấy từ tên văn phòng hội chủ tịch, "office48". Văn phòng được đặt ở tỉnh Chiba, và trong tiếng Nhật thì "Chiba" đọc giống "48". Đây cũng là “đại bản doanh” nơi những cô gái thường xuyên biểu diễn.

Độ tuổi của các thành viên từ tuổi thiếu niên đến hơn 20, và được chọn từ các buổi thử giọng. Các thành viên không được phép hẹn hò và phải ửng xử tốt trước công chúng[11]; nếu vi phạm sẽ bị phạt, nặng nhất là bị đuổi khỏi nhóm. AKB48 có một hệ thống cho phép các thành viên "tốt nghiệp"- nghĩa là rời khỏi nhóm và được thay thế bằng các thực tập sinh được thăng cấp, đồng thời sẽ có buổi biểu diễn tốt nghiệp trước khi rời nhóm.[12]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2005–2006: Ra đời & 2 thế hệ đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

AKB48 chuẩn bị cho buổi ra mắt vào tháng 3/2006

Vào tháng 7 năm 2005, Yasushi Akimoto tổ chức buổi thử giọng để ra mắt nhóm nhạc nữ mới. Trong số 7.924 người tham gia, 24 người được chọn là thành viên thuộc thế hệ đầu tiên, sau đó họ trải qua 1 tháng huấn luyện trước khi ra mắt[13]. Ngày 8 tháng 12, nhóm ra mắt tại nhà hát với 20 cô gái là tiền thân của Team A[14], biểu diễn "Party ga Hajimaru yo" (PARTY が 始 ま る よ) trước 7 khán giả và tăng dần sau đó. 20 cô gái đó là: Itano Tomomi,Kawasaki Nozomi, Kojima Haruna, Komatani Hitomi, Maeda Atsuko, Masuyama Kayano, Minegishi Minami, Nakanishi Rina, Narita Risa, Ohe Tomomi, Oshima Mai,Sato Yukari, Takahashi Minami, Tojima Hana, Usami Yuki, Orii Ayumi, Hoshino Michiru, Urano Kazumi, Watanabe Shiho,Hirajima Natsumi[15] Vào tháng 1 năm 2006, Shinoda Mariko gia nhập Team A với tư cách là thành viên "thế hệ 1,5" khi trước đó cô không vượt qua được vòng thi tuyển thế hệ đầu nhưng quyết tâm tìm cơ hội để gia nhập nhóm bằng cách làm phục vụ tại quán cafe gần nhà hát, các fan đã gửi thư xin cho cô một cơ hội nữa (để được vào nhóm, cô đã học thuộc lời và vũ đạo của tất cả 16 bài A1 Stage chỉ trong 4 ngày)[16]

Buổi thử giọng thứ 2 được tổ chức với sự hợp tác cùng NTT DoCoMo vào tháng 2 năm 2006, lần này các ứng viên gửi video thử giọng qua điện thoại. Trong số 11.892 người tham gia, 19 ứng viên đã được chọn và 17 người gia nhập Team K vào tháng 4: Akimoto Sayaka, Umeda Ayaka, Oshima Yuko, Ohori Megumi, Oku Manami, Ono Erena, Kasai Tomomi, Kobayashi Kana, Sato Natsuki, Noro Kayo, Hayano Kaoru, Masuda Yuka, Matsubara Natsumi, Miyazawa Sae, Imai Yu, Uemura Ayako,Takada Ayana [17], Team K biểu diễn Party ga Hajimaru yo, trong khi Team A chuyển sang biểu diễn Aitakatta[18][19]

AKB48 phát hành đĩa đơn đầu tiên "Sakura no Hanabiratachi" vào tháng 2 năm 2006, lọt vào bảng xếp hạng Top 10 hàng tuần của Oricon với doanh thu tuần đầu tiên là 22.011 bản[20]. Ngày 31 tháng 3, Usami Yuki -thành viên của Team A là người đầu tiên tốt nghiệp[21]. Vào ngày 7 tháng 6, nhóm phát hành đĩa đơn thứ hai "Skirt, Hirari", bán được 13.349 bản trong ngày đầu tiên[22]. Nhóm xuất hiện trên truyền hình 2 ngày sau, và ký hợp đồng với DefStar Records (công ty con của Sony Music Entertainment) vào tháng 8.[23]

2006–2007: Set List: Greatest Songs 2006–2007[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10 năm 2006, AKB48 công bố buổi thử giọng cho Team B để tuyển thành viên thế hệ thứ 3[24], đã có 13 cô gái được chọn trong số 12.828 người tham gia, đó là: Inoue Naru, Oota Aika, Kashiwagi Yuki, Katayama Haruka, Kikuchi Ayaka, Saotome Miki, Tanabe Miku, Nakagawa Haruka, Nakaya Sayaka, Noguchi Reina, Matsuoka Yuki, Yonezawa Rumi,Watanabe Mayu.[25][26]

Đĩa đơn đầu tay dưới thời DefStar Records, "Aitakatta", do 20 thành viên Team A và K thực hiện phát hành vào ngày 25 tháng 10, ra mắt ở vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon, bán được 25.544 bản trong 6 tuần đầu tiên[27], và có tổng cộng 65 tuần trên bảng xếp hạng[28]. Vào 3–4 tháng 11, nhóm biểu diễn buổi concert đầu tiên, "AKB48 First Concert: Aitakatta ~ Hashira wa Nai ze! ~" tại Nippon Seinenkan ở Shinjuku. Nhóm biểu diễn "Aitakatta" trong chương trình truyền hình đêm giao thừa NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 58 tại phần "Nihon ga Hokoru Saisentan! Special Medley". Với 43 thành viên, nhóm lập kỷ lục về "bài hát có nhiều thành viên nhất trong một nhóm cùng biểu diễn trên sân khấu". Vào tháng 12, sự thay đổi đầu tiên đã được thực hiện: Kazumi Urano, Shiho Watanabe, và Natsumi Hirajima chuyển từ Team A sang Team B với nhiệm vụ hỗ trợ cho đàn em của mình.

Đĩa đơn thứ 2 "Seifuku ga Jama o Suru" phát hành vào ngày 31 tháng 1 năm 2007[29], ra mắt ở vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10. MV và lời bài hát gây ra tranh cãi và đánh giá tiêu cực vì có liên quan đến “Enjo-kosai”[30]. Vào ngày 18 tháng 3, AKB48 phát hành "Keibetsu Shiteita Aijō"; ra mắt ở vị trí thứ 8 trên bảng xếp hạng Oricon, tụt xuống hạng 98 trong tuần thứ 2. Buổi concert thứ 2 "AKB48 Haru no Chotto dake Zenkoku Tour ~ Madamada daze AKB48! ~" vào ngày 10 tháng 3[31], có doanh thu bán vé kém[32].

Vào tháng 4 năm 2007, AKB48 đăng danh sách Team B trên trang web nhóm, ít hơn 5 thành viên so với ban đầu, lần đầu tiên số thành viên của nhóm là 48. Đĩa đơn thứ 4, "Bingo!", phát hành vào ngày 18 tháng 7. Đĩa đơn thứ 6- "Yūhi o Miteiru ka?", phát hành vào Halloween 2007 và bán được 18.429 bản[33] (ít nhất trong tất cả các đĩa đơn của nhóm)[34].

2008–2010: Kamikyokutachi[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2008, AKB48 phát hành album đầu tiên Set List: Greatest Songs 2006–2007. Đĩa đơn thứ 7 (thứ 9 tổng thể) "Romance, Irane", phát hành vào ngày 23 tháng 1 và đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10 trong tuần đầu tiên.[35]

AKB48 biểu diễn tại Japan Expo ở Paris năm 2009

Vào ngày 27 tháng 2, nhóm phát hành đĩa đơn thứ 8 "Sakura no Hanabiratachi 2008"- tải bản đĩa đơn đầu tay từ Team A, do 10 thành viên Team A, 6 từ Team K và 5 từ Team B thể hiện[36]. CD của đĩa đơn bao gồm poster, và chương trình quảng bá trong đó fan hâm mộ thu thập 44 poster sẽ được mời tham gia sự kiện đặc biệt. Chương trình sau đó đã bị DefStar Records hủy bỏ do lo ngại về khả năng vi phạm luật chống độc quyền.[37]

Vào tháng 6 năm 2008, AKB48 thành lập nhóm chị em SKE48 tại Sakae, Nagoya[38]. Vào tháng 8, nhóm chuyển từ hãng đĩa DefStar Records sang King Records, Ayaka Kikuchi là thành viên đầu tiên bị đuổi khỏi nhóm vì vi phạm kỷ luật khi để lộ ảnh chụp với bạn trai[39]. Kikuchi trở lại nhóm sau buổi thử giọng năm 2010.[40]

Vào ngày 22 tháng 10, đĩa đơn thứ 10 "Ōgoe Diamond" phát hành dưới nhãn đĩa You Be Cool!/ KING RECORDS[41]. Với sự xuất hiện của Matsui Jurina (11 tuổi khi đó) làm center (thành viên trung tâm) cũng như trên bìa đĩa, đây là đĩa đơn đầu tiên có sự góp mặt của một thành viên trong nhóm chị em của AKB48[42] và ra mắt ở vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon Top 10 hàng tuần.[43]

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 11 "10nen Sakura" vào ngày 4 tháng 3 năm 2009, đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon tuần đầu, đây là đĩa đơn đầu tiên bán được hơn 100.000 bản[44]. Đĩa đơn thứ 12 "Namida Surprise!" phát hành vào ngày 24 tháng 6 bán được 104.180 bản trong tuần đầu tiên trên bảng xếp hạng Oricon[45]. Đĩa đơn thứ 13 "Iiwake Maybe" phát hành ngày 26 tháng 8 [46]. Vượt mặt đối thủ SMAP, đĩa đạt vị trí số 1 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng ngày của Oricon và hạng 2 trên Bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon.[47]

Team A là khách mời danh dự tại Japan Expo ở Paris từ 2 đến 5 tháng 7 năm 2009, biểu diễn "Ōgoe Diamond" bản tiếng Anh[48]. Nhóm ra mắt tại Hoa Kỳ với buổi biểu diễn tại Webster Hall ở New York vào 27 tháng 9.[49]

Vào tháng 10, 3 đĩa đơn "10nen Sakura", "Namida Surprise!""Iiwake Maybe" được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) cấp chứng nhận vàng.[50] Đĩa đơn thứ 14 "River" phát hành vào ngày 21 tháng 10 đứng đầu bảng xếp hạng Top 10 Oricon hàng tuần và là đĩa đơn đứng hạng 1 đầu tiên của nhóm.[51]

Vào ngày 31 tháng 12, AKB48 biểu diễn bản remix đặc biệt RIVER-Surprise tại NHK Kouhaku uta gassen lần thứ 60. 72 thành viên từ AKB48 bao gồm thực tập sinh và 3 thành viên SKE48 tham gia biểu diễn.

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 15 "Sakura no Shiori" vào ngày 17 tháng 2 năm 2010. Trong tuần đầu tiên, đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Oricon với hơn 300.000 bản được bán ra, kỷ lục của một nữ nghệ sĩ Nhật Bản trong 7 năm[52]. Đây là đĩa đơn cuối cùng của nhóm đến khi phát hành album đầu tiên thuộc King Records "Kamikyokutachi" đứng đầu bảng xếp hạng album Oricon và được RIAJ chứng nhận đĩa bạch kim kép với doanh số hơn 500.000 bản.[53]

2010–2011: Koko ni Ita Koto[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm phát hành đĩa đơn thứ 16 - "Ponytail to Chouchou" vào ngày 26 tháng 5 năm 2010, vượt xa so với trước đó với hơn 400.000 bản được bán ngày đầu tiên và hơn 513.000 bản trong tuần đầu tiên[54]. Vào ngày 27 tháng 4, Anime Expo thông báo AKB48 sẽ là khách mời danh dự và nhóm biểu diễn vào ngày 1 tháng 7 tại Nokia Theatre.[55]Nhóm ra mắt single thứ 17- Heavy Rotation (ヘビーローテーション) vào 18/8, trụ vững trên bảng xếp hạng JOYSOUND trong 43 tuần[56]

AKB48 biểu diễn tại Anime Festival Asia 2010

Vào ngày 23 tháng 10, AKB48 đại diện cho Nhật Bản dự Asia Song Festival lần thứ 7 do Quỹ Trao đổi Văn hóa Quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation for International Culture Exchange-KOFICE) tổ chức tại Sân vận động Olympic Seoul. Bốn ngày sau, nhóm phát hành đĩa đơn thứ 18- "Beginner", bán được 826.989 bản trong tuần đầu, doanh số cao nhất trong tuần đầu tiên cho đĩa đơn của một nhóm nhạc thần tượng nữ[57][58]. Thành viên Mayu Watanabe xuất hiện trên bìa tạp chí thần tượng UP to boy số tháng 12 cùng Airi Suzuki của nhóm nhạc nữ đồng hương Cute- sự hợp tác đầu tiên giữa Hello! Project và AKB48.[59]

Vào tháng 11/2010, AKB48 tham gia một số sự kiện bên ngoài Nhật Bản. Vào ngày 20 tháng 11, 12 thành viên biểu diễn tại Japanese Pop Culture Festival ở Moscow[60]. Nhóm biểu diễn tại Singapore trong sự kiện Anime Festival Asia X và tại Singapore Toy, Games and Comics Convention[61][62]. Những thành viên tốt nghiệp năm 2010 bao gồm thành viên thế hệ thứ 2 Erena Ono, người rời đi vào ngày 27 tháng 9 để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất ở nước ngoài.[63][64]

AKB48 tham dự Asia Song Festival 2010 tại Hàn Quốc

Vào ngày 8/12, AKB48 kỷ niệm 5 năm ra mắt với buổi biểu diễn đặc biệt cùng tất cả các thành viên, bao gồm các thành viên tốt nghiệp. Tất cả thực tập sinh thế hệ thứ 9 cũng được thăng cấp.[65]

Vào năm 2011, nhóm ra mắt đĩa đơn thứ 20- "Sakura no Ki ni Narō" phát hành vào ngày 16 tháng 2, bán được 655.000 bản trong ngày đầu tiên, vượt qua con số 568.000 bản của "Beginner"[66][67]. Vào cuối tuần đầu tiên, đĩa đơn đã bán được 942.479 bản, đây là đĩa đơn bán được nhiều nhất và nhanh nhất của nhóm tại Nhật Bản kể từ năm 2000[68], nhóm ra mắt bộ phim tài liệu đầu tiên mang tên DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?" vào ngày 22 tháng 1.[69]

Vào ngày 21 tháng 2, nhóm công bố album thứ 3 Koko ni Ita Koto (こ こ に い た こ と) bao gồm 11 bài hát và dự kiến ​​phát hành vào ngày 6 tháng 4[70]. Do ảnh hưởng từ trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011, nhóm dừng các buổi biểu diễn tại Nhà hát và hủy bỏ một số sự kiện trước công chúng. AKB48 bắt đầu dự án quyên góp cứu trợ nạn nhân động đất và sóng thần "Dareka no Tame ni" (誰かのために). Yokohama Arena- Một trong những địa điểm tổ chức, được sử dụng cho sự kiện từ thiện kéo dài hai ngày từ ngày 26 tháng 3 và 12 thành viên AKB48 đã tham dự Liên hoan phim quốc tế Okinawa hôm đó với mục đích tương tự. Vào ngày 15 tháng 3, AKB48 cùng các nhóm chị em SKE48, SDN48 và NMB48 và các cộng sự từ công ty quản lý AKS đã quyên góp 500 triệu yên cho việc cứu trợ[71]. Việc phát hành Koko ni Ita Koto bị hoãn lại cho đến ngày 8 tháng 6, với một phần số tiền thu được dành để quyên góp cho các nạn nhân[72]. Vào ngày 1 tháng 4, nhóm phát hành đĩa đơn từ thiện "Dareka no Tame ni-誰かのために"  dưới dạng kỹ thuật số, tất cả số tiền thu được dành cho cứu trợ các nạn nhân động đất và sóng thần.[73]

2011–2012: 1830 m[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm công bố ra mắt nhóm chị em HKT48 tại Fukuoka- Kyushu, đặt nhà hát tại Hawks Town Mall vào 1/5/2011[74], sau đó 2 ngày nhóm thông báo mở nhà hát tại Singapore đặt tại *scape Youth Park, cùng cửa hàng AKB48 shop, nhóm là khách mời biểu diễn tại lễ trao giải Golden Melody Awards thứ 22 vào tháng 6[75]

Nhóm ra mắt single thứ 21-"Everyday, Kachūsha" vào 25/5, đạt kỷ lục tẩu tán trong 1 ngày (942,475 bản) cũng như trong 1 tuần (1,333,969 bản)[76]

Cửa hàng AKB48 tại Singapore

Nhóm ra mắt Team 4 vào 7/6, với 16 thành viên do Mina Ōba làm đội trưởng, đến 28/6, Akimoto Yasushi công bố ra mắt nhóm Nogizaka46 (乃木坂46)- được coi là "đối thủ chính thức" (公式ライバル kōshiki raibaru?) của AKB48 với 20 thành viên, ông đồng thời hợp tác cùng Sony Music Japan cho việc phát triển nhóm

Nhóm ra mắt single thứ 22- "Flying Get" (フライングゲット, Furaingugetto), bán được 1,025,952 bản trong 1 ngày, đồng thời là single thứ 4 bán được hợn 1 triệu bản trong tuần đầu (1,354 triệu bản)[77], 2 single tiếp theo "Kaze wa Fuiteiru" (26/10- 1,045,937 bản) + "Ue kara Mariko" (7/12-1,199,000 bản) đều vượt mốc 1 triệu bản trong tuần đầu[78][79], riêng single "Flying Get" (フライングゲット, Furaingugetto) đat giải Grand Prix tại lễ trao giải Japan Record Awards lần thứ 53

Sang năm 2012, Oricon công bố nhóm đá bán được 11,787,000 bản CD, vượt mặt nhóm  Morning Musume (11,774,000 bản) trước đó, nhóm nhỏ Baby Blossom  trình diễn single thứ 25 "Give Me Five!" tại sự kiện "AKB48 Request Hour Set List Best 100 2012" ngày 22/1, sau đó ra mắt vào 15/2

Phim tài liệu thứ 2 - Documentary of AKB48: Show Must Go On Shōjo-tachi wa Kizutsuki Nagara, Yume wo Miru, công chiếu ngày 27/1 thu về 4 triệu $ doanh thu, phim anime AKB0048 phát sóng từ 29/4 đến 22/7 do Yoshimasa Hiraike đạo diễn, cùng Akimoto sản xuất+ viết kịch bản, 9 thành viên của AKB48+ các nhóm chị em lồng tiếng cho các nhân vật chính, hát ca khúc chủ để mở màn & kết phim

2 thành viên Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48) thay thế Natsumi Hirajima và Rumi Yonezawa do vi phạm kỷ luật, nhóm quyết định 5 thực tập sinh sẽ thắng cấp vào Team 4, nâng số thành viên lên 16, nhóm sẽ trình diễn tại Tokyo Dome- điều nhóm quyết tâm thực hiện từ khi ra đời

Thành viên chủ lực Maeda Atsuko thông báo rời nhóm vào 25/3, do đó AKB48 quyết định cô sẽ có buổi biểu diễn tốt nghiệp tại Tokyo Dome vào 26/8[80]

Vào 26/3, nhóm công bố buổi Tổng tuyển cử cho single thứ 27- "Gingham Check", với 243 thành viên từ các nhóm chị em tham dự, cùng việc bỏ phiếu cho single thứ 26- ("Manatsu no Sounds Good!"). Tổng tuyển cử tổ chức hôm 6/6, Oshima Yuko cùng Watanabe Mayu và Kashiwagi Yuki là 3 thành viên xếp hạng cao nhất

AKB48 công bố nhóm nhạc chị em nước ngoài thứ 3-SNH48 đặt tại Thượng Hải, Sashihara Rino chuyển sang nhóm HKT48 do scandal đời tư, 6 thành viên thuộc 2 thế hệ 10+11 thăng cấp ngày 24/6, cùng cuộc thi oẳn tù tì để tìm đội hình cho single thứ 29- "Eien Pressure"[81]

Nhóm ra mắt album thứ 4- 1830m vào 15/8[82], sau đó 9 ngày nhóm công bố sắp xếp lại đội hình vào buổi concert tại Tokyo Dome: Team 4 giải thể, các thành viện sẽ chuyển sang 3 team còn lại, Oota Aika sang HKT48,  Haruka Nakagawa sang nhóm JKT48 tại Indonesia, Sae Miyazawa + Mariya Suzuki sang nhóm SNH48, Minami Takahashi trở thành tổng quản của AKB48, các đội trưởng Team A, Team K, Team B lần lượt thuộc về Shinoda Mariko, Oshima Yuko và Umeda Ayaka

2012–2014: Tsugi no Ashiato[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ra mắt ca khúc nhạc phim Wreck-It Ralph- "Sugar Rush", lập kỷ lục Guinness cho nhóm nhiều thành viên nhất trong game (AKB1/149 Ren'ai Sōsenkyo), single thứ 26 có lần thứ 2 liền đạt giải tại Japan Record Award lần thứ 54 ngày 30/12. Nhóm đứng đầu về tổng doanh thu tại Nhật Bản năm 2012, với 19,098 tỷ yên. Nhóm ra mắt single thứ 30- "So long!" vào 20/2[83]

Phim hoạt hình AKB0048 ra mắt mùa 2- AKB0048 Next Stage, chiểu từ 5/1 đến 30/3/2013, vào tháng 1 nhóm tổ chức concert Request Hour Set List Best 100 tại Tokyo Dome City Hall, đồng thời công bố 2 show diễn tại Nippon Budokan và Sân vận động Nissan, vào 1/2 phim tài liệu Documentary of AKB48: No Flower Without Rain: Shōjo Tachi wa Namida no Ato ni Nani o Miru? ra mắt công chúng, thành viên Itano Tomomi công bố tốt nghiệp cùng ngày, nhóm công bố sắp xếp đội hình vào concert tại Nippon Budokan ngày 28/4

Nhóm ra mắt single thứ 31- "Sayonara Crawl" vào 22/5, bán được hơn 1,9 triệu bản sau 1 tháng, đây là bài hát đầu tiên có 4 center (Oshima Yuko, Itano Tomomi, Shimazaki Haruka và Watanabe Mayu), nhóm tổ chức Tổng tuyển cử lần thứ 5 với 243 thành viên tham dự, Sashihara Rino giành hạng nhất, đội trưởng Team A Mariko Shinoda công bố sẽ rời nhóm vào tháng 7, cựu thành viên Maeda Atsuko ra mắt single solo ("Time Machine Nante Iranai")

AKB48 tại Tokyo năm 2013

Nhóm ra mắt single thứ 32- "Koisuru Fortune Cookie" vào 21/8, với 3800 người tham dự quay MV, nhiều nhất từ khi ra mắt, nhóm công bố mở lại Team 4 vào 24/8, theo đó Minami Minegishi là đội trưởng, cùng các thành viên thực tập sinh thăng hạng của 2 thế hệ 13-14

Nhóm tổ chức cuộc thi oẳn tù tì cho single thứ 34, tổ chức tại Nippon Budokan vào 18/9, Matsui Jurina là người chiến thắng, sau đó nhóm công bố đội hình và biểu diễn single thứ 33- "Heart Ereki" ra mắt 30/10[84], vào 11/11 single thứ 34, "Suzukake no Ki no Michi de 'Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru' to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono" ra mắt Nữ thành viên chủ lực Yuko Oshima tuyên bố sẽ rời nhóm tại sự kiện Kōhaku Uta Gassen, Nhóm đứng #2 về tổng doanh thu tại Nhật Bản năm 2013, với 13.254 tỷ yên.

Vào 22/1/2014, nhóm ra mắt album thứ 5 Tsugi no Ashiato, bán được 962,000 bản, nhóm ra mắt single thứ 35- "Mae shika Mukanee" vào 26/2, bán được 970,413 bản,

Nhóm công bố ra mắt Team 8, với 47 thành viên đại diện 47 tỉnh thành, đồng thời sắp xếp đội hình với việc ra mắt đội phó, thăng cấp cho các thực tập sinh, chuyển thành viên…vào 24/2. Nhóm công bố đội hình Team 8 vào 3/4

Nhóm ra mắt single thứ 36- "Labrador Retriever" vào 26/2, với 1,462,000 bản được bán ra trong ngày đầu, cuộc Tổng tuyển cử cho single thứ 37 diễn ra ngày 7/6 chứng kiến Mayu Watanabe đứng nhất với 159,854 phiếu bầu làm center cho bài hát Kokoro no Placard,  Rino Sashihara về nhì với 141,954 phiếu bầu. Phim tài liệu thứ 4 DOCUMENTARY of AKB48 The time has come ra mắt vào 4/7

Vào 8/12, Minami Takahashi- thành viên kỳ cựu kiêm tổng quản tuyên bố sẽ rời nhóm vào 12/2015 nhân dịp nhóm kỷ niệm 10 năm ra mắt, cô chọn Yokoyama Yui là người kế vị

Cũng trong tháng 5/2014, trong sự kiện giao lưu với người hâm mộ ở thành phố Takizawa tỉnh Iwate, 2 thành viên Rina Kawaei, Anna Iriyama và một nhân viên nam khác đã phải nhập viện khẩn cấp sau khi bị Satoru Umeta, một người đàn ông 24 tuổi cũng là một fan cuồng cầm cưa tấn công. Ngay sau đó, hung thủ đã bị cảnh sát bắt giữ để phục vụ điều tra. Rina bị thương nặng ở đầu, gãy ngón cái tay phải còn Anna bị đa chấn thương. Quản lý của AKB48 cho biết Rina và Anna đã được phẫu thuật thành công và có thể xuất viện vào 26/5, đồng thời cho biết không ai bị đe dọa đến tính mạng trong tai nạn này. Dù vậy, show diễn ở Tokyo cũng như các buổi giao lưu với người hâm mộ của nhóm đều bị hủy bỏ.[85][86]

2015: Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!0 to 1 no Aida[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ra mắt album phòng thu thứ 6- Koko ga Rhodes da vào ngày 21/1/2015[87], vào ngày 4/3 nhóm phát hành single thứ 39 "Green Flash"[88][89], trở thành nhóm nhạc đầu tiên có 20 album liền đạt 1 triệu bản bán ra tuần đầu tiên. Thành viên Kawaei Rina tuyên bố tốt nghiệp vào 26/3 để tập trung cho sự nghiệp của bản thân, cô tiết lộ trước đó đã suy nghĩ kỹ về tương lai của mình mà không phụ thuộc vào nhóm[90][91]

Nhóm là khách mời của Ngày hội Nhật Bản (Japan Day festival) hàng năm tại New York, lần thứ 2 nhóm biểu diễn từ 2009 vào 10/5, các thành viên Rina Hirata, Ryoka Oshima, Haruna Kojima, Tomu Mutou, Saho Iwatate và Rina Nozawa biểu diễn 5 bài hát trước 5000 khán giả[92][93]

Vào ngày 20/5, nhóm ra mắt single thứ 40 "Bokutachi wa Tatakawanai", với hơn 1,4 triệu bản bán ra trong ngày đầu[94]

Vào ngày 6/6, nhóm công bố kết quả cuộc tổng tuyển cử thứ 7 tổ chức tại Fukuoka Yahoo! Auctions Dome, với tổng cộng 3,2 triệu phiếu bầu cho các thành viên. Thành viên Sashihara Rino (HKT48- team H) giành hạng nhất lần thứ 2 với 194.049 phiếu bầu[95][96], trở thành Senbatsu Center cho single thứ 41 "Halloween Night" ra mắt ngày 26/8[97]

Vào ngày 25/10, trong sự kiện bắt tay cùng fan, nhóm công bố ra mắt single thứ 42- Kuchibiru ni Be My Baby ra mắt ngày 9/12 cùng concert Request Hour 2016, Takahashi Minami được chọn là Center cho bài hát- lần cuối cùng của cô cho nhóm.[98] Single bán được 813,044 bản trong ngày đầu ra mắt, nâng tổng số bản nhóm bán ra lên 36.158.000 album đĩa đơn, giúp nhóm vượt mặt nhóm nhạc rock B'z trở thành nghệ sỹ có lượng album đơn bán ra cao nhất tại Nhật Bản,[99]

Nhóm ra mắt album thứ 7- 0 to 1 no Aida, nhân dịp kỷ niệm 10 năm nhóm ra đời vào ngày 18/11[100]

2016–2017: Thumbnail[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24/1/2016, trong ngày cuối show Request Hour 2016 tại Tokyo Dome City, nhóm trình làng ca khúc thuộc single thứ 43 "Kimi wa Melody"- ra mắt ngày 9/3[101], đây là single thứ 2 đánh dấu sự trở lại của  Maeda Atsuko, Oshima Yuko, Shinoda Mariko và Itano Tomomi, còn Miyawaki Sakura là center lần đầu tiên cho nhóm[102]

Vào tháng 2, thành viên người Đài Loan Mã Gia Linh (Ma Chia-ling) gia nhập nhóm thông qua vòng tuyển chọn tại Đài Loan trước đó, cô là thành viên ngoại quốc đầu tiên và duy nhất hoạt động cho AKB48[103][104]

Nhóm phát hành single thứ 44 "Tsubasa wa Iranai" vào 1/6[105], Mukaichi Mion là center lần đầu tiên, nhóm tổ chức Tổng tuyển cử vào 18/6, thành viên Sashihara Rino đạt hạng nhất với 243,011 phiếu bầu, nhóm phát hành single thứ 45 "LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai" vào 31/8[106]

Vào 3/10, Shimazaki Haruka thông báo tốt nghiệp, cô có lần cuối xuất hiện làm center khi nhóm ra mắt single thứ 46 "High Tension" vào 16/11[107]

Vào 12/12, Watanabe Mayu, Izuta Rina và Kawamoto Saya thông báo thành lập chi nhánh  'AKB48 China'  tại Trung Quốc trong một cuộc họp báo và gặp gỡ người hâm mộ tại Thượng Hải. Khác với SNH48 trước đó, AKB48 China sẽ đóng vai trò cầu nối giữa Nhật Bản và Trung Quốc, đưa các thành viên Nhật Bản đến Nhà hát AKB48 Trung Quốc trong tương lai.

Nhóm phát hành album phòng thu thứ 8 “Thumbnail” vào 25/1/2017[108], nhóm ra mắt single thứ 47 "Shoot Sign"- là single cuối cùng Kojima Haruna hoạt động cùng nhóm[109]. Single thứ 48 Negaigoto no Mochigusare, bán được 1,305,747 bản trong tuần đầu[110]

Phim tài liệu thứ 5- DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu, ra mắt công chúng vào 8/7[111]

Nhóm tổ chức Tổng tuyển cử vào 17/6, Sashihara Rino đạt hạng nhất năm thứ 3 liên tiếp với 246,376 phiếu bầu[112], làm center cho single thứ 49 "#sukinanda" phát hành ngày 30/8[113] Watanabe Mayu thông báo tốt nghiệp trong sự kiện.[114]

Vào 22/11, nhóm ra mắt single thứ 50- "11gatsu no Anklet", là single tốt nghiệp của Watanabe Mayu[115]

30 thành viên nhóm xuất hiện tại MAMA 2017 tổ chức tại Nhật Bản sau đó 1 tuần[116], biểu diễn 3 bài hát Pick Me, Heavy Rotation + Koi Suru Fortune Cookie với Weki Meki, Kim Chung-ha, PRISTIN, các thí sinh Idol School, Fromis 9, AKB48 nhận giải Nghệ sỹ châu Á của năm tại Nhật Bản, còn Akimoto Yasushi nhận giải Inspired Achievement (thành tựu truyền cảm hứng)[117][118][119], đồng thời nhóm xác nhận sẽ tham gia chương trình thực tế sống còn Produce 48 của đài Mnet năm 2018, Akimoto Yasushi đóng vai trò là nhà sản xuất âm nhạc cho chương trình[120]

Tại buổi kỷ niệm 12 năm ra mắt, nhóm công bố việc sắp xếp đội hình. Tất cả các vị trí kiêm nhiệm (kennin) tại các nhóm thuộc 48 Groups được loại bỏ, nhưng tất cả các thành viên Team 8 đều nhận được vị trí này, nghĩa là tất cả các thành viên Team 8 giờ cũng thuộc Team A, Team K, Team B hoặc Team 4. Đội trưởng mới của Team là Okabe Rin (Team A), Komiyama Haruka (Team K), Juri Takahashi (Team B) và Murayama Yuiri (Team 4). Vai trò đồng đội trưởng cũng bị loại bỏ.

2018–2019:Tham gia Produce 48, Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake o Shitteiru, Sustainable[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ra mắt album thứ 9- Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru vào 24/1/2018[121]

Nhóm phát hành single thứ 51- Jabaja vào 14/3, Okada Nana có lần đầu tiên làm center cho single[122]

Nhóm phát hành single thứ 52- Teacher Teacher vào 30/5, bán được 1,591,164 bản trong ngày đầu, phá kỷ lục cũ của Bokutachi wa Tatakawanai, tẩu tán được 1,812,868 bản vài tuần sau đó, là single bán chạy thứ 2 trong lịch sử (sau Sayonara Crawl với 1,995,800 bản)[123][124]

Nhóm tổ chức Tổng tuyển cử lần thứ 10 vào 18/6, cùng dịp kỷ niệm 10 năm SKE48 ra mắt, Matsui Jurina đạt hạng nhất với 194,453 phiếu bầu, làm center cho single thứ 53-"Sentimental Train" phát hành ngày 19/9, nhưng rút lui vì vấn đề sức khỏe.[125][126]

Vào 15/6, AKB48 cùng 5 nhóm chị em tại Nhật Bản đưa 39 thành viên tham gia chương trình thực tế sống còn Produce 48 của đài Mnet để cạnh tranh với 57 thực tập sinh từ chủ nhà Hàn Quốc cho 12 vị trí của nhóm nhạc sẽ hoạt động tại Hàn Quốc và Nhật Bản trong 2,5 năm[127][128][129]. Vào 31/8, tập cuối cùng của show cùng tên nhóm- Iz*One và đội hình 12 cô gái đã ra đời, trong đó Honda Hitomi của AKB48 cùng Yabuki Nako với Miyawaki Sakura của HKT48 là 3 thành viên từ Nhật Bản của nhóm, do đó cả 3 sẽ tạm dừng mọi hoạt động cùng AKB48 để hoạt động cho Iz*One cho đến tháng 4/2021[130][131], single thứ 54- NO WAY MAN là lần cuối cả 3 xuất hiện cùng AKB48, họ là tâm điểm cho bài hát chủ đề cùng tên khi xuất hiện ở hàng đầu, cùng bài hát B-side cho top 16 Produce 48 (không bao gồm Nako, Hitomi, Sakura)[132][133]

Sau khi kết thúc Produce 48, Stone Music Entertainment cùng Genie Music ký kết hợp đồng với King Records+ AKS để phân phối các single của nhóm tại Hàn Quốc

Tại lễ kỳ niệm 13 năm ra mắt, Yokoyama Yui thông báo từ chức Tổng quản nhưng sẽ tiếp tục hoạt động cho nhóm, cô chọn Mukaichi Mion là người kế nhiệm, nhóm ra mắt phim tài liệu thứ 6- Legend of AKB48: New Chapter vào dịp Giáng sinh

Vào ngày 31/12, 16 thành viên AKB48 biểu diễn bài hát "Koisuru Fortune Cookie" cùng BNK48 trong đại nhạc hội NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 69, Mobile (BNK48) cùng Sashihara Rino là 2 center biểu diễn bài hát.[134][135]

Nhóm nhận nhiều chỉ trích sau vụ việc Yamaguchi Maho bị 2 người đàn ông tấn công và theo đuôi đến tận nhà riêng vào 8/12, tuy nhiên phải đứng ra xin lỗi trước công chúng sau đó, cô cho biết đã trao đổi với Giám đốc quản lý và sẽ tiếp tục hoạt động với tư cách một thành viên của NGT48. Cô cũng thể hiện mong muốn công chúng tiếp tục ủng hộ cho nhóm. Không chỉ riêng người hâm mộ, tất cả mọi người đều cảm thấy không công bằng cho nạn nhân. Sashihara Rino còn nói rằng Yamaguchi không nên là người phải xin lỗi. Truyền thông quốc tế cũng bắt đầu đưa tin về vụ việc của Yamaguchi và bắt đầu xuất hiện hashtag Justice for Maho (Đòi công bằng cho Maho), đồng thời lên án Giám đốc quản lý NGT48 đã không xử lý sự việc theo cách mà họ đáng lẽ phải làm. Quá bất ngờ trước phản ứng dữ dội từ dư luận, Công ty AKS phải lên tiếng xin lỗi và sa thải quản lý nhóm NGT48 Etsuro Imamura.[136][137][138]

Nhóm tham dự sự kiện AKB48 Group Asia Festival in Bangkok tại Bangkok, Thái Lan đầu năm 2019, biểu diễn cùng chủ nhà BNK48 và các nhóm chị em JKT48, MNL48, AKB48 Team SH, AKB48 Team TP và SGO48[139][140], sau đó là AKB48 Group Asia Festival in Shanghai ở Thượng Hải, Trung Quốc vào tháng 8, cùng chủ nhà AKB48 Team SH với các nhóm chị em[141], cùng concert "AKB48 in Taipei ~Are You Ready?~" tại Đài Loan với AKB48 Team TP vào tháng 9[142]. AKB48 tổ chức AKB48 Zenkoku Tour 2019 từ tháng 7 đến tháng 12.[143]

2019 là năm chứng kiên nhiều biến động của nhóm: Sashihara Rino tuyên bố tốt nghiệp, làm center cho single thứ 55- Jiwaru DAYS phát hành ngày 13/3[144], bài hát "Hitsuzensei" thuộc single là sự kết hợp giữa AKB48, Nogizaka46 và Iz*One[145]; đến tháng 4, Kojima Mako tuyên bố tốt nghiệp tại AKB48 Group Spring Festival in Yokohama Stadium; đến cuối năm thành viên còn lại từ thế hệ đầu tiên Minegishi Minami tuyên bố rời nhóm, 2 chương trình nổi tiếng của nhóm- AKB48 SHOW! Và AKBINGO! ngừng phát sóng lần lượt vào tháng 3 & tháng 9[146][147]

Nhóm phát hành single thứ 56 Sustainable vào 18/9, là single đầu tiên của nhóm tại Thời kỳ Lệnh Hòa, cũng là single cuối của nhóm trong năm, đánh dấu năm nhóm ra ít single nhất từ khi ra mắt với 2 single[148].Tiệm cafe AKB48 café&shop đặt cạnh nhà hát Akihabara chính thức đóng cửa từ 29/12 sau 8 năm hoạt động[149][150]

2020-nay: Những sự thay đổi, Shitsuren, Arigatō; Hanareteitemo, ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, OUC48 project[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2020 mở đầu bằng việc AKS quyết định để các công ty quản lý riêng lẻ điều hành độc lập các nhóm chị em của AKB48[151]

Vào 4/2, Yahagi Moeka tốt nghiệp rời AKB48, theo đó, sự kiện bắt tay người hâm mộ ở Osaka vào đầu tháng 2 sẽ là hoạt động cuối cùng của nữ ca sĩ với tư cách là thành viên của nhóm.[152]

Vào 18/3, nhóm phát hành single thứ 57- "Shitsuren, Arigatō", bán được 1,414,077 bản trong tuần đầu[153], Concert mùa xuân của nhóm bị hủy bỏ do đại dịch COVID-19, kéo theo màn tốt nghiệp của Minegshi Minami đã bị tạm dừng, các buổi biểu diễn tại nhà hát cũng bị hủy bỏ sau đó

Để phòng chống đại dịch COVID-19 tại Nhật Bản cùng yêu cầu giãn cách xã hội từ chính phủ, nhóm ra mắt dự án OUC48 project, ra đời từ cụm từ o-uchi (お家) (ở nhà theo tiếng Nhật). Dự án được hình thành nhằm tuyên truyền, động viên tinh thần mọi người ở nhà để bảo vệ sức khỏe. Trong thời gian dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp, các thành viên đã tự quay video biểu diễn tại nhà và sau đó gửi tới Tổng quản Mukaichi Mion để tổng hợp các video lại thành 1 video hoàn chỉnh, mở đầu bằng việc 103 thành viên nhóm cùng nhau hát bài 365nichi no Kamihikouki, dự án đã nhận được ủng hộ lớn từ công chúng.[154][155]

Nhóm phát hành single từ thiện thứ 3 – Hanareteitemo vào 21/6. Bài hát ra đời để cổ vũ cho tất cả mọi người tham gia công tác ngăn chặn sự lây lan của virus corona chủng mới, với sự tham gia của 105 thành viên hiện tại của AKB48, 1 thành viên SKE48 và 8 thành viên đã tốt nghiệp bao gồm Maeda Atsuko, Oshima Yuko, Itano Tomomi, Shinoda Mariko, Kojima Haruna, Takahashi Minami, Sashihara Rino và Yamamoto Sayaka, tuy nhiên Watanabe Mayu tuyên bố giã từ sự nghiệp giải trí, nên cô không có mặt trong single. Số tiền thu được  sẽ được quyên góp để cứu trợ những thiệt hại từ virus corona.[156][157]

Nhóm có lần đầu tiên vắng mặt tại đại nhạc hội NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 71 vào cuối năm do đại dịch, chấm dứt 10 năm liền xuất hiện tại sự kiện (2009-2019).[158][159]

Single thứ 57- "Shitsuren, Arigatō" của nhóm đạt giải Best 5 Singles tại lễ trao giải Japan Gold Disc Awards lần thứ 35[160]

Vào 21/3/2021, nhóm cho biết sẽ tổ chức concert trực tuyến AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE tổ chức vào 26/6 tại Tokyo Dome City Hall[161][162]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm # Tên Ghi chú Vị trí trên bảng xếp hạng Oricon tuần Lượng đĩa bán ra Album
Ngày đầu Tuần đầu Oricon sales Billboard

Japan sales

2006 1

(indies)

Sakura no Hanabiratachi (桜の花びらたち) Đĩa đơn phát hành độc lập 10 # 22,011 46,274 Set List: Greatest Songs 2006–2007 (SET LIST~グレイテストソングス 2006-2007~?) 0 to 1 no Aida (0と1の間 | "Giữa 0 và 1")Album kỉ niệm 10 năm ra mắt
2

(indies)

Skirt, Hirari (スカート、ひらり) 13 13,349 20,609
1 Aitakatta (会いたかった) Đia đơn ra mắt chính thức dưới nhãn đĩa DefStar Records/Sony Music 12 17,481 55,308
2007 2 Seifuku ga Jama wo Suru (制服が邪魔をする) 7 16,866 21,989
3 Keibetsu Shiteita Aijou (軽蔑していた愛情) 8 20,323 22,671
4 BINGO! 6 21,830 25,611
5 Boku no Taiyou (僕の太陽) 6 25,946 28,840
6 Yuuhi wo Miteiru ka? (夕陽を見ているか?) 10 15,370 18,429
2008 7 Romance, Irane (ロマンス、イラネ) 6 19,303 23,209 Nogashita Sakanatachi ~Single Video Collection~ Kanzen Seisan Genteiban
8 Sakura no Hanabiratachi 2008 (桜の花びらたち2008) 10 22,112 25,482
9 "Baby! Baby! Baby!" Đĩa đơn phát hành dưới định dạng số # # # # Kamikyokutachi (神曲たち? "Masterpieces")
10 Oogoe Diamond (大声ダイヤモンド) Đĩa đơn ra mắt dưới nhãn đĩa You Be Cool!/ KING RECORDS 3 14,384 48,258 96,566
2009 11 10nen Zakura (10年桜) 3 28,600 66,226 124,700
12 Namida Surprise! (涙サプライズ!) **** 2 41,046 104,180 168,826
13 Iiwake Maybe (言い訳Maybe) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2009 2 57,456 90,774 145,776
14 RIVER 1 87,795 178,579 260,553
2010 15 Sakura no Shiori (桜の栞) 1 229,528 317,828 404,696
16 Ponytail to Shushu (ポニーテールとシュシュ) **** 1 354,403 354,403 740,291 Koko ni Ita Koto (ここにいたこと? "Having Been Here")
17 Heavy Rotation (ヘビーローテーション) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2010

Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 2 tuần

1 340,487 527,336 881,519
18 BEGINNER 1 568,095 826,989 1,039,352
19 Chance no Junban (チャンスの順番) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2010 1 471,242 596,769 694,042
2011 20 Sakura no Ki ni Narou (桜の木になろう) 1 655,344 942,479 1,081,686 1830m
"Dareka no Tame ni (What Can I Do for Someone?)" Đĩa đơn phát hành dưới định dạng số # # # #
21 Everyday, Katyusha (Everyday、カチューシャ) Đứng đầu bảng xếp hạng Japan Hot 100 trong 2 tuần

****

1 942,475 1,333,969 1,608,299
22 Flying Get (フライングゲット) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2011

Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 3 tuần

1 1,025,952 1,354,492 1,625,849
23 Kaze wa Fuiteiru (風は吹いている) Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 3 tuần 1 1,045,937 1,300,482 1,457,113
24 Ue Kara Mariko (上からマリコ) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2011 1 959,280 1,198,864 1,304,903
2012 25 GIVE ME FIVE! Đứng đầu bảng xếp hạng RIAJ trong 2 tuần 1 966,529 1,287,217 1,436,519
26 Manatsu no Sounds Good! (真夏のSounds Good!) Đứng đầu bảng xếp hạng Japan Hot 100 trong 2 tuần

****

1 1,170,554 1,616,795 1,822,220 Tsugi no Ashiato (次の足跡? "Những bước chân tiếp theo")
27 Gingham Check (ギンガムチェック) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2012 1 906,617 1,181,966 1,316,240
28 UZA 1 884,602 1,128,696 1,263,148
29 Eien Pressure (永遠プレッシャー) Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2012 1 840,043 1,073,499 1,206,869
2013 30 So Long 1 817,530 1,035,986 1,132,853
31 Sayonara Crawl (さよならクロール) **** 1 1,450,881 1,762,873 1,955,800
32 Koi Suru Fortune Cookie (恋するフォーチュンクッキー) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2013 1 1,095,894 1,330,432 1,548,596
33 Heart Ereki (ハート・エレキ) 1 1,020,800 1,203,586 1,294,197 Koko ga Rhodes da, Koko de tobe! (ここがロドスだ、ここで跳べ!)
34 Suzukake no Ki no Michi de 'Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru'

to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono

Các thành viên tham gia được chọn bằng Giải đấu Oẳn tù tì 2013 1 916,912 1,033,336 1,086,491
2014 35 Mae Shika Mukanee (前しか向かねえ) 1 970,413 1,091,406 1,153,906
36 Labrador Retriever (ラブラドール・レトリバー) **** 1 1,462,156 1,662,265 1,787,367
37 Kokoro no Placard (心のプラカード) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2014 1 871,923 1,005,774 1,061,976
38 Kibouteki Refrain (希望的リフレイン) 1 1,017,160 1,130,312 1,199,429
2015 39 Green Flash 1 860,269 1,001,393 1,045,492
40 Bokutachi wa Tatakawanai (僕たちは戦わない) **** 1 1,472,375 1,673,211 1,782,897
41 Halloween Night Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2015 1 1,187,633 1,277,761 1,331,249
42 Kuchibiru ni Be My Baby (唇に Be My Baby) (9/12/2015) 1 813,044 905,490 1,081,249 Thumbnail

(サムネイル)

2016 43 Kimi Wa Melody (君はメロディー You Are Melody) Đĩa đơn kỉ niệm 10 năm ngày ra mắt

Có sự góp mặt của 5 thành viên đã tốt nghiệp

1 1,133,179 1,237,891 1,292,198 1,470,789
44 Tsubasa Wa iranai (翼はいらない Wings Aren't Needed) **** 1 1,331,907 1,440,711 1,516,646 2,507,403
45 LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai (LOVE TRIP / しあわせを分けなさい) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2016 1 1,100,332 1,177,769 1,213,660 1,412,112
46 High Tension (ハイテンション) 1 1,120,070 1,180,047 1,207,831 1,469,811
2017 47 Shoot Sign (シュートサイン) 1 933,969 1,025,267 1,085,365 1,353,450 Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru

(僕たちは、あの日の夜明けを知っている)

48 Negaigoto no Mochigusare (願いごとの持ち腐れ) **** 1 1,217,244 1,305,747 1,387,943 2,649,234
49 #Suki Nanda (#好きなんだ) Các thành viên tham gia được chọn bằng Tổng tuyển cử 2017 1 1,036,551 1,089,729 1,126,774 1,493,543
50 11gatsu no Anklet (11月のアンクレット) 1 1,048,400 1,095,240 1,124,815 1,533,025
2018 51 Jabaja (ジャーバージャ) 1 1,028,653 1,115,843 1,158,167 1,260,919
52 Teacher Teacher **** 1 1,591,164 1,661,038 1,812,871[7] 3,000,000
53 Sentimental Train 1 1,394,356 1,448,900 1,476,076 1,551,061
54 NO WAY MAN 1 1,173,015 1,205,009 1,227,547
55 Jiwaru DAYS 1 1,190,095

* Billboard Japan Hot 100 được đăng tải từ tháng 1/2008, RIAJ Digital Track Chart được thành lập vào tháng 4/2009 và bị huỷ vào tháng 7/2012.
** charted in 2010
*** These are unofficial figures obtained by adding together Oricon sales numbers for different periods of time when the single charted on Oricon.
**** Đĩa đơn bao gồm phiếu bình chọn Tổng tuyển cử

Studio albums[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thông tin Oricon
Bảng Xếp Hạng Album Tuần
[163]
Oricon
sales
[163]
Certification
(RIAJ)
2008 Set List: Greatest Songs 2006–2007 (SET LIST~グレイテストソングス 2006-2007~?)
  • Phát hành: 1 tháng 11 năm 2008
  • Re-released on 14 tháng 7 năm 2010 as Set List: Greatest Songs Kanzenban
  • Nhãn đĩa: DefStar Records (DFCL-1429/30 (Limited), DFCL-1431 (Regular), DFCL-1653 (Kanzen)*)
  • Định dạng:: CD, Tải nhạc số
29
2*
54,000
164,000*
Platinum (250,000+)[164]
2010 Kamikyokutachi (神曲たち? "Masterpieces") 1 571,000 Double Platinum[165]
2011 Koko ni Ita Koto (ここにいたこと? "Having Been Here")
  • Phát hành: 8 tháng 6 năm 2011
  • Nhãn đĩa: King Records (KIZC-90117/8 (Limited), KIZC-117/8 (Regular), NKCD-6546 (Theater))
  • Định dạng:: CD, Tải nhạc số
1 878,000 Million (1.000.000+)[164]
2012 1830m 1 1.030.000 Million (1.000.000+)[164]
2014 Tsugi no Ashiato (次の足跡? "Những bước chân tiếp theo") 1 1,041,951 Million

(1.000.000+)

2015 Koko ga Rhodes da, Koko de tobe! (ここがロドスだ、ここで跳べ!)
  • Phát hành: 21 tháng 1 năm 2015
  • Nhãn đĩa: King Records (KIZC-90265~7 (Limited Edition Type A, 2CD+DVD), KICS-3162~3 (Regular Edition Type A, CD+CD), KICS-3164~5 (Regular Edition Type B, CD+CD))
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 780,591 Triple Platinum
0 to 1 no Aida (0と1の間 | "Giữa 0 và 1") Album kỉ niệm 10 năm ra mắt
  • Phát hành: 18 tháng 11 năm 2015
  • Nhãn đĩa: You Be Cool!/KING RECORDS
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 715,109 Triple Platinum
2018 Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru (僕たちは、あの日の夜明けを知っている)
  • Phát hành: 24 tháng 1 năm 2018
  • Nhãn đĩa: You Be Cool!/KING RECORDS
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 611,056

PV collections[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Ngày phát hành Tất cả
Nogashita Sakanatachi ~Single Video Collection~ Kanzen Seisan Genteiban 14 tháng 7 năm 2010 86.372
AKB ga Ippai ~The Best Music Video~ (AKBがいっぱい ~ザ・ベスト・ミュージックビデオ~?) 24 tháng 6 năm 2011 524.908
AKB48 20090703 Japan Expo 50.jpg

Các sub-unit cho đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Senbatsu (選抜)
  • Under Girls (アンダーガールズ?)
  • Theater Girls (シアターガールズ?)
  • Next Girls (ネクストガールズ)
  • Future Girls (フューチャーガールズ)
  • Upcoming Girls (アップカミングガールズ)
  • Team PB (チーム PB?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Playboy
  • Team YJ (チーム YJ?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48, Shueisha và tuần Young Jump
  • Yasai Sisters (野菜 シスターズ?): đơn vị phối hợp đặc biệt của AKB48 và Công ty Kagome
  • MINT: sub-unit thời vụ được lập khi phát hành đĩa đơn thứ 18.
  • Selection 6/10/12/16 (セレクション 6/10/12/16)
  • Special Girls (スペシャルガールズ)
  • Google+ Senbatsu
  • Stage Fighter Senbatsu
  • Waiting Girls (ウェイティングガールズ)
  • OKL48
  • BKA48
  • Tentoumu Chu! (てんとうむChu!)
  • Smiling Lions
  • Beauty Giraffes
  • Baby Elephants
  • Talking Chimpanzees
  • Baragumi (ばら組)
  • Yurigumi (ゆり組)
  • Katareagumi (カトレア組)
  • Kojizaka46 (こじ坂46)
  • Team Surprise (チームサプライズ)
  • Kabutomu Chu! (かぶとむChu!)
  • Dendenmu Chu! (でんでんむChu!)
  • WONDA Senbatsu (WONDA選抜)
  • Gensou & Jikisou (ゲンソー&ジキソー)
  • Asa ga Kita Senbatsu (あさが来た選抜)
  • Next Generation Senbatsu (次世代選抜)
  • Renacchi Sousenkyo Senbatsu (れなっち総選挙選抜)
  • Mushi Kago (虫かご)
  • Nogizaka AKB (乃木坂AKB)
  • IZ4648

Các sub-unit chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

No3b (ノース リーブス)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kojima Haruna (Team A) (đã tốt nghiệp)
  • Takahashi Minami (Tổng quản lí của 48 Group) (đã tốt nghiệp)
  • Minegishi Minami (Team K - Captain)

Watarirouka Hashiritai (渡り廊下 走り 隊)/ Watarirouka Hashiritai 7 (渡り廊下 走り 隊 7) (Đã giải tán)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Oota Aika (HKT48 Team KIV) (đã tốt nghiệp)
  • Nakagawa Haruka (JKT48 - Team J / Team Kaigai) (đã tốt nghiệp)
  • Watanabe Mayu (team B) (Đã tốt nghiệp)
  • Kikuchi Ayaka (Đã tốt nghiệp)
  • Iwasa Misaki (Team B) (Watarirouka Hashiritai 7) (Đã tốt nghiệp)
  • Komori Mika (Đã tốt nghiệp) (Watarirouka Hashiritai 7) (Đã tốt nghiệp)

French Kiss (フレンチ キス) (Đã giải tán)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kashiwagi Yuki (Team B / NGT48)
  • Takajo Aki (Team K)(đã tốt nghiệp)
  • Kuramochi Asuka (Đã tốt nghiệp)

Not yet[sửa | sửa mã nguồn]

  • Oshima Yuko (đã tốt nghiệp)
  • Kitahara Rie (NGT48) (đã tốt nghiệp)
  • Sashihara Rino (HKT48 -Team H) (đã tốt nghiệp)
  • Yokoyama Yui (Tổng quản lí của 48 Group) (Team A)

DiVA (Đã giải tán)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Akimoto Sayaka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Umeda Ayaka (NMB48 Team BII)(đã tốt nghiệp)
  • Masuda Yuka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Miyazawa Sae (SNH48 - Team SII / SKE48 - Team S)(đã tốt nghiệp)

Chocolove from AKB (Đã giải tán)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nakanishi Rina (team A) (đã tốt nghiệp)
  • Akimoto Sayaka (team K)(đã tốt nghiệp)
  • Miyazawa Sae (SNH48 - Team SII / SKE48 - Team S)(đã tốt nghiệp)

Jankenmin[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tanabe Miku (team B) (đã tốt nghiệp)
  • Yumoto Ami (team K)
  • Komiyama Haruka (team 4)
  • Takeuchi Saki (SKE48)
  • Fukuoka Seina (team B)
  • Nozawa Rena (team 4)
  • Shibuya Nagisa (NMB48)

Sub-groups[sửa | sửa mã nguồn]

Group Tổng số bán
Watarirouka Hashiritai 600.542
Not Yet 659.510
No Sleeves 411.274
Team Dragon from AKB48 140.000
French Kiss 475.000
Queen & Elizabeth 32.000
Chocolove from AKB48 25.000

Đơn vị dẫn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Honegumi từ AKB48 (ほ ね 組 từ AKB48?)
  • ICE từ AKB48
  • Crayon Friends từ AKB48 (クレヨンフレンズ từ AKB48?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Crayon Shin-chan
  • Okashina Sisters (お菓子 な シスターズ?)
  • AKB Idoling! (AKB アイドリング!!!?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Idoling!
  • AKB Bảng Tennis Club (AKB 卓 球 部?)
  • Kỷ niệm 75 Yomiuri Giants Foundation hỗ trợ đơn vị (読 売 巨人 军 创立 75 周年 応 援 队?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Yomiuri Giants
  • Natto Angel (ナットウエンジェル?)
  • Queen & Elizabeth: sub-unit được lập đê hát bài hát chính của Kaimen Rider W
  • Team Dragon của AKB48 (チーム ドラゴン từ AKB48?): sub-unit được lập để hát bài hát chính cho bộ phim Dragon Ball
  • AKB Bảng Tennis Club 2010 (AKB 卓 球 部 năm 2010?)
  • Natto Angel Z (ナットウエンジェル Z?)
  • Miniskirt (ミニスカート?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Takara Tomy
  • AKB48 Kaspersky Viện (AKB48 カスペルスキー 研究所?): đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kaspersky Lab
  • Team Kishin từ AKB48: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kishin Shinoyama
  • Team Z: đơn vị hợp tác đặc biệt của AKB48 và Kyoraku Sangyo của "Pachinko Zenigata Heiji"

Thành viên chính thức (thời điểm năm 2018)[sửa | sửa mã nguồn]

Team A[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Okabe Rin.

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu Công ty quản lý Ghi chú
Iriyama Anna 入山 杏奈 Nhập Sơn •

Hạnh Nại

Annin (あんにん) 10 03.12.1995 Chiba B Ota Pro **
Okabe Rin 岡部麟 Cương Bộ • Lân Rinrin (りんりん) Team 8 07.11.1996 Ibaraki ** AKS Kiêm nhiệm Team 8, Đội trưởng
Okumoto Hinano 奥本陽菜 Úc Bổn • Dương Thái
Nonnon (のんのん) Team 8 09.10.2003 Hiroshima A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Oguri Yui 小栗有以 Tiểu Lật • Hựu Dĩ Yuiyui (ゆいゆい) Team 8 26.12.2001 Tokyo ** AKS Kiêm nhiệm Team 8
Kato Rena 加藤玲奈 Gia Đằng • Linh Nại Renacchi (れなっち) 10 10.07.1997 Chiba B Mama & Son Inc. **
Goto Moe 後藤萌咲 Hậu Đằng • Manh Tiếu
Moekyun (もえきゅん) Draft 1st 20.05.2001 Aichi O AKS **
Shitao Miu 下尾みう Hạ Vĩ • Miu Miu (みう) Team 8 03.04.2001 Yamaguchi A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Shinozaki Ayana 篠崎彩奈 Tiểu Kỳ • Thải Nại Ayanan (あやなん) 13 08.01.1996 Saitama B AKS **
Shimoaoki Karin 下青木香鈴 Hạ Thanh Mộc • Hương Linh Karin (かりん) Team 8 28.10.2000 Kagoshima A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Suzuki Kurumi 鈴木くるみ Linh Mộc • Kurumi Kururun (くるるん) 16 02.09.2004 Tokyo A AKS **
Taguchi Manaka 田口愛佳 Điền Khẩu • Ái Giai Manaka (まなか) 16 12.12.2003 Kanagawa ** AKS **
Tanikawa Hijiri 谷川聖 Thạch Xuyên • Thánh Hiji (ひじ)

Hijirin (ひじりん)

Team 8 26.12.2000 Akita A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Chiba Erii 千葉恵里 Thiên Diệp • Huệ Lí Erii (えりい) Draft 2nd 27.10.2003 Kanagawa A AKS **
Chou Kurena 長久玲奈 Trường Cửu • Linh Nại Kurenyan (くれにゃん)

Kurena (くれな)

Team 8 11.05.2000 Fukui O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Nishikawa Rei 西川怜 Tây Xuyên • Linh Rei (れい) Draft 2nd 25.10.2003 Tokyo B AKS
Hitomi Kotone 人見古都音 Nhân Kiến • Cổ Đô Âm Kocchan (こっちゃん) Team 8 19.01.2001 Okayama A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Maeda Ayaka 前田彩佳 Tiễn Điền • Thải Giai Ayaka (あやか) 16 18.12.2000 Kanagawa O AKS **
Miyazaki Miho 宮崎美穂 Cung Kỳ • Mỹ Tuệ Myao (みゃお) 5 30.07.1993 Tokyo O HoriPro **
Mukaichi Mion 向井地美音 Hưởng Tĩnh Địa • Mỹ Âm Miion (みーおん) 15 29.01.1998 Saitama O Mama & Son Inc. **
Yokoyama Yui 横山由依 Hoành Sơn • Do Y Yui (ゆい)

Yuihan (ゆいはん)

9 08.12.1992 Kyoto B Ota Pro **
Yoshida Karen 吉田華恋 Cát Điền • Hoa Luyến Karen (かれん) Team 8 27.08.2002 Fukuoka O AKS Kiêm nhiệm Team 8

Thực tập sinh của Team A[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu
Sato Minami 佐藤美波 Tá Đằng • Mỹ Ba Minami (みなみ) 16 03.08.2003 Kanagawa O
Shoji Nagisa 庄司なぎさ Bành Ti • Nagisa Nagyu (なぎゅ) 16 29.10.2000 Hokkaido A
Michieda Saki 道枝咲 Đạo Kỳ • Tiếu Sakipon (さきぽん) 16 20.12.2003 Kanagawa **
Yamane Suzuha 山根涼羽 Sơn Căn • Lương Vũ Zunchan (ずんちゃん) 16 08.08.2000 Hyogo A
Sato Shiori 佐藤 詩識 Tá Đằng • Thi Thức Shiori (しおり) Draft 3rd 22.07.2001 Hokkaido **
Furukawa Nazuna 古川 夏凪 Nazuman (なづなん)

Furukawa (古川)

Draft 3rd 21.08.2003 Hokkaido **
Honda Sora 本田 そら Bổn Điền • Sora Sorako (そらこ) Draft 3rd 26.02.1999 Tokyo **

Đã tốt nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Usami Yuki (ゆっきぃ Yukki) (2006)
  • Orii Ayumi (あゆ姉 Ayunee) (2007)
  • Hoshino Michiru (ちるちる Chiruchiru) (2007)
  • Masuyama Kayano (かや Kaya) (2007)
  • Tojima Hana (はな Hana) (2008)
  • Komatani Hitomi (ひぃちゃん Hiichan) (2008)
  • Nakanishi Rina (りなてぃん Rinatin) (2008)
  • Narita Risa (りさ Risa) (2008)
  • Ohe Tomomi (おーいぇ Ohyay) (2008)
  • Kawasaki Nozomi (のぞフィス Nozofisu) (2009)
  • Oshima Mai (まいまい Maimai) (2009)
  • Maeda Atsuko (あっちゃん Acchan) (2012)
  • Sato Natsuki (なっち Nacchi) (2012)
  • Nito Moeno (もえの Moeno) (2013)
  • Kasai Tomomi (とも〜み Tomo~mi) (2013)
  • Nakatsuka Tomomi (ともちゃん Tomochan) (2013)
  • Shinoda Mariko (麻里子さま Marikosama) (2013)
  • Nakamata Shiori (しおりん Shiorin) (2013)
  • Kikuchi Ayaka (あやりん Ayarin) (2014)
  • Katayama Haruka (はーちゃん Haachan) (2014)
  • Morikawa Ayaka (あーや Aaya) (2015)
  • Matsui Sakiko (さきこ Sakiko) (2015)
  • Kawaei Rina (りっちゃん Ricchan) (2015)
  • Nishiyama Rena (れなりん Renarin) (2015)
  • Iwata Karen (カレン Karen) (2016)
  • Takahashi Minami (たかみな Takamina) (2016)
  • Hirata Rina (ひらりー Hirarii/Hillary) (2016)
  • Maeda Ami (あーみん Aamin) (2016)
  • Ogasawara Mayu (まーちゅん Maachun) (2016)
  • Shimazaki Haruka (ぱるる Paruru) (2016)
  • Kojima Haruna (こじはる Kojiharu) (2017)
  • Owada Nana (なーにゃ Naanya) (2017)
  • Nakamura Mariko (こまり Komari) (2017)
  • Kojima Haruna (こじはる Kojiharu, はるにゃん Harunyan) (2017)
  • Hayasaka Tsumugi (つっちゃん Tsucchan) (Team 8) (2018)

Đã hủy kiêm nghiệm:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kotani Riho (りぽぽ Ripopo) (2013)
  • Furuhata Nao (なお Nao) (2015)
  • Yagura Fuuko (ふぅちゃん Fuuchan) (2013)
  • Shiroma Miru (みるるん Mirurun) (2017)
  • Miyawaki Sakura (さくら Sakura) (2017)

Team K[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Komiyama Haruka

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu Công ty quản lý Ghi chú
Ichikawa Manami 市川愛美 Thị Xuyên • Ái Mỹ Manami (まなみ) 15 26.08.1999 Tokyo A AKS **
Oda Erina 小田えりな Tiểu Điền • Erina Odaeri (おだえり) Team 8 25.04.1997 Kanagawa A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Kuranoo Narumi 倉野尾成美 Thương Dã Vĩ • Thành Mỹ Naru (なる) Team 8 08.11.2000 Kumamoto A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Komiyama Haruka 込山榛香 Vu Sơn • Trân Hương Komiharu (こみはる) 15 12.09.1998 Chiba B AKS Đội trưởng
Shimoguchi Hinana 下口ひなな Hạ Khẩu • Hinana Hinana (ひなな) Draft 1st 19.07.2001 Chiba O AKS **
Terada Misaki 寺田美咲 Tự Điền • Mỹ Tiếu Misakki (みさっきー) Team 8 28.12.1999 Nagasaki A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Nakano Ikumi 中野郁海 Trung Dã • Uất Hải Ikumin (いくみん) Team 8 20.08.2000 Tottori ** AKS Kiêm nhiệm Team 8
Nozawa Rena 野澤玲奈 Dã Trạch • Linh Nại Renachan (レナチャン) JKT48 1st 06.05.1998 Tokyo B AKS **
Hashimoto Haruna 橋本陽菜 Khiêu Bổn • Dương Thái Harupyon (はるpyon) Team 8 25.05.2000 Toyama A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Harumoto Yuki 春本ゆき Xuân Bổn • Yuki Yuki (ゆき) Team 8 24.12.1999 Tokushima A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Hidaritomo Ayaka 左伴彩佳 Tả Phán • Thái Giai Hidaaya (ひだあや) Team 8 29.07.1998 Yamanashi A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Fujita Nana 藤田 奈那 Đằng Điền • Nại Na Naana (なぁな) 10 28.12.1996 Tokyo A AKS **
Muto Orin 武藤小麟 Vũ Đằng • Tiểu Lân Orin (おりん) 16 22.07.2000 Tokyo AB AKS **
Muto Tomu 武藤 十夢 Vũ Đằng • Thập Mộng Tomu (とむ) 12 25.11.1994 Tokyo B AKS **
Mogi Shinobu 茂木忍 Mậu Mộc • Nhẫn Mogichan (もぎちゃん) 13 16.02.1997 Chiba AB AKS **
Yaguchi Moka 谷口もか Lộc Khẩu • Moka Moka (もか) Team 8 28.05.2001 Miyazaki O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Yasuda Kana 安田叶 An Điền • Diệp Kanabun (かなぶん) 16 11.03.2002 Saitama A AKS **
Yamada Kyoka 山田杏華 Sơn Điền • Hạnh Hoa Kyoka (きょうか) Team 8 03.11.2002 Oita A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Yamada Nanami 山田菜々美 Sơn Điền • Thái Thái Mỹ Nanamichan (ななみちゃん)

Nanami (ななみ)

Yamada (山田)

Team 8 09.02.1999 Hyogo B AKS Kiêm nhiệm Team 8
Yumoto Ami 湯本亜美 Sương Bổn • A Mỹ Yuami (ゆあみ) 15 03.10.1997 Saitama O AKS **
Yokomichi Yuri 横道侑里 Hoành Đạo • Hựu Lí Yuri (ゆり) Team 8 23.10.2000 Shizouka A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Yokoyama Yui 横山結衣 Hoành Sơn • Kế Y Yokochan (ヨコちゃん) Team 8 22.02.2001 Aomori O AKS Kiêm nhiệm Team 8

Thực tập sinh của Team K[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu
Nagatomo Ayami 長友彩海 Trượng Hữu • Thái Hải Ayamin (あやみん) 16 02.11.2000 Kanagawa O
Okada Rina 岡田 梨奈 Cương Điền • Lê Nại Okarina (おかりな) Draft 3rd 27.07.1999 Saitama **
Katsumata Saori 勝又 彩央里 Thắng Hữu • Thái Ương Lí Saorin (さおりん) Draft 3rd 31.10.2000 Shizuoka **
Kobayashi Ran 小林 蘭 Tiểu Mộc • Lan Ran-chan (らんちゃん)

Rantan (らんたん)

Draft 3rd 07.10.2003 Osaka **
Suenaga Yuzuki 末永 祐月 Mạt Vĩnh • Hữu Nguyệt Yuzu-chan (ゆづちゃん) Draft 3rd 03.11.2005 Tokyo **
Nagano Megumi 永野 恵 Vĩnh Dã • Huệ Megumin (めぐみん) Draft 3rd 22.03.2004 Kanagawa **
Yahagi Moeka 矢作 萌夏 Thỉ Tá • Manh Hạ Moe-chan (もえちゃん)

Fuku-chan (ふくちゃん)

Monta (もんた)

Moeka (もえか)

Hagimoe (はぎもえ)

Moenya (もえにゃ)

Draft 3rd 05.07.2002 Saitama **

Đã tốt nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Uemura Ayako (あーや Aaya) (2006)
  • Takada Ayana (あやな Ayana) (2007)
  • Imai Yu (ゆう Yuu) (2007)
  • Hayano Kaoru (かおりん Kaorin) (2009)
  • Naruse Risa (なるる Naruru) (2009)
  • Noro Kayo (ノンティー Nontii) (Transferred to SDN48) (2010)
  • Ohori Megumi (めーたん Meetan) (Transferred to SDN48) (2010)
  • Ono Erena (えれぴょん Erepyon) (2010)
  • Yonezawa Rumi (よねちゃん Yonechan) (2012)
  • Mitsumune Kaoru (かおる Kaoru) (2012)
  • Masuda Yuka (ゆか Yuka) (2012)
  • Nakaya Sayaka (なかやん Nakayan) (2013)
  • Matsubara Natsumi (なっつみぃ Nattsumii) (2013)
  • Itano Tomomi (ともちん Tomochin) (2013)
  • Akimoto Sayaka (さやか Sayaka) (2013)
  • Sato Amina (あみな Amina) (2014)
  • Oshima Yuko (ゆうこ Yuuko, コリス Korisu) (2014)
  • Suzuki Shihori (しほりん Shihorin) (2015)
  • Uchida Mayumi (Ucchii ウッチー, Mayuchi まゆち) (2015)
  • Miyazawa Sae (宮澤佐江, Genking/Sae-chan) (2016)
  • Takajo Aki (あきちゃ Akicha) (2016)
  • Nagao Mariya (まりやぎ Mariyagi) (2016)
  • Ishida Haruka (はるきゃん Harukyan) (2016)
  • Aigasa Moe (もえちゃん Moechan) (2017)
  • Nakata Chisato (ちぃちゃん Chiichan) (2017)
  • Suzuki Mariya (まりやんぬ Mariyannu)  (2017)
  • Shimada Haruka (はるぅ Haruu) (2017)
  • Tano Yuka (たのちゃん Tanochan) (2018)
  • Kojima Mako(こじまこ Kojimako) (2019)
  • Minegishi Minami (みぃちゃん Miichan) (2020)

Đã hủy kiêm nhiệm:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Miyazawa Sae (宮澤佐江, SKE48 SII/SNH48) (2014)
  • Matsui Jurina (じゅりな Jurina) (2015)
  • Yamamoto Sayaka (さやか Sayanee) (2016)
  • Kodama Haruka (はるっぴ Haruppi) (2017)

Team B[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Iwatate Saho

Màu của nhóm là

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu Công ty quản lý Ghi chú
Iwatate Saho 岩立沙穂 Nham Lập • Sa Tuệ Sahhoo (さっほー) 13 04.10.1994 Kanagawa B AKS Đội trưởng
Ota Nao 太田奈緒 Thái Điền • Nại Tự Oonao (おおなお)

Nao (なお)

Team 8 05.12.1994 Kyoto AB AKS Kiêm nhiệm Team 8
Oya Shizuka 大家志津香 Đại Cô • Chí Tân Hương Shiichan (しいちゃん) 4 28.12.1991 Fukuoka O Watanabe Pro **
Okuhara Hinako 奥原妃奈子 Úc Nguyên • Phi Nại Tử Hiina (ひーな) Team 8 18.11.2003 Shimane A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Kashiwagi Yuki 柏木由紀 Bách Mộc • Do Kỉ Yukirin (ゆきりん) 3 15.07.1991 Kagoshima A AKS Kiêm nhiệm NGT48
Kawahara Misaki 川原 美咲 Xuyên Nguyên • Mỹ Tiếu Missaa (みっさー) Team 8 03.04.2002 Saga A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Kitazawa Saki 北澤早紀 Bắc Dịch • Tảo Kỉ Sakkii (さっきー) 13 05.06.1997 Aichi A AKS **
Kubo Satone 久保怜音 Cửu Bảo • Linh Âm Satopii (さとぴー) Draft 2nd 20.11.2003 Kanagawa O AKS **
Kojima Natsuki 小嶋菜月 Tiểu Đảo • Thái Nguyệt Nattsun (なっつん) 11 08.03.1995 Chiba O AKS **
Sasaki Yukari 佐々木優佳里 Tá Tá Mộc • Ưu Giai Lý Yukarun (ゆかるん) 12 28.08.1995 Saitama B AKS **
Sato Akari 佐藤朱 Tá Đằng • Chu Akarii (あかりぃ) Team 8 09.11.1996 Miyagi A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Sato Shiori 佐藤栞 Tá Đằng • San Shiorin (しおりん) Team 8 03.02.1998 Niigata O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Shimizu Maria 清水麻璃亜 Thanh Thủy • Ma Ly A Maria (まりあ) Team 8 29.09.1997 Gunma A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Takita Kayoko 田北香世子 Điền Bắc • Hương Thế Tử Kayoyon (かよよん) Draft 1st 13.02.1997 Chiba O AKS **
Taniguchi Megu 谷口めぐ Thạch Khẩu • Megu Omegu (おめぐ) 15 12.11.1998 Tokyo A AKS **
Nakanishi Chiyori 中西智代梨 Trung Tây • Trí Đại Lê Chori (ちょり) HKT48 1st 12.05.1995 Fukuoka O AKS **
Hattori Yuna 服部有菜 Phục Bộ • Hữu Thái Yuna (ゆうな) Team 8 30.03.2001 Gifu A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Hiwatashi Yui 樋渡結依 Hiiwatan (ひーわたん) Draft 2nd 30.04.2000 Saitama A AKS **
Fukuoka Seina 阿部マリア Á Bộ • Seina Seichan (せいちゃん) 15 01.08.2000 Kanagawa O AKS **
Honda Hitomi 本田仁美 Bổn Điền • Nhân Mỹ Hiichan (ひぃちゃん) Team 8 06.10.2001 Tochigi A AKS Kiêm nhiệm Team 8.

Thành viên nhóm nhạc nữ

IZ*ONE

Yamabe Ayu 山邊歩夢 Sơn Biên • Bộ Mộng Ayu (あゆ) Draft 2nd 03.02.2002 Chiba B AKS **
Yamamoto Ruka 山本瑠香 Sơn Bổn • Lưu Hương Ruka (るか) Team 8 10.10.2000 Wakayama O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Yoshikawa Nanase 吉川七瀬 Cát Xuyên • Thất Lai Nanase (ななせ) Team 8 21.07.1998 Chiba A AKS Kiêm nhiệm Team 8

Thực tập sinh của Team B[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu
Umemoto Izumi 梅本和泉 Mai Bổn • Họa Tuyền Izumin (いずみん) 16 16.10.1998 Yamaguchi A
Harima Nanami 播磨七海 Bá Ma • Thất Hải Harimachan (はりまちゃん) 16 02.08.2004 Chiba A
Otake Hitomi 大竹 ひとみ Đại Trúc • Hitomi Toppa-chan (とっぱちゃん)

Otake (おおたけ)

Draft 3rd 27.06.1999 Chiba **
Omori Maho 大盛 真歩 Đại Thành • Chân Bộ Mahopyon (まほぴょん) Draft 3rd 05.12.1999 Ibaraki **
Kamiyama Riho 神山 莉穂 Thần Sơn • Lê Huệ Riitan (りーたん) Draft 3rd 20.08.2003 Tokyo **
Saito Haruna 齋藤 陽菜 Trai Đằng • Dương Thái Haatan (はーたん) Draft 3rd 24.05.2004 Tochigi **

Đã tốt nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Watanabe Shiho (しほ Shiho) (2007)
  • Kikuchi Ayaka (あやりん Ayarin) (2008) (Sau đó tiếp tục thi tuyển lần hai và trúng tuyển rồi tốt nghiệp ở Team A vào năm 2013) 
  • Inoue Naru (なるぽん Narupon) (2008)
  • Noguchi Reina (ぐっさん Gussan) (2009)
  • Matsuoka Yuki (まつゆき Matsuyuki) (2009)
  • Saeki Mika (美香ちぃ Mikachii) (2009)
  • Oku Manami (まぁちゃん Maachan) (2011)
  • Hirajima Natsumi (なっちゃん Nacchan) (2012)
  • Komori Mika (こもりん Komorin) (2013)
  • Nonaka Misato (みちゃ Micha) (2014)
  • Hashimoto Hikari (ひかり Hikari) (2015)
  • Kuramochi Asuka (もっちぃ Mocchi) (2015)
  • Uchiyama Natsuki (なっきー Nakkii) (2016)
  • Iwasa Misaki (わさみん Wasamin) (2016)
  • Kobayashi Kana (かな Kana) (2016)
  • Watanabe Miyuki (みるきー Milky/Mirukii) (2016)
  • Umeta Ayano (うめたん Umetan) (2017)
  • Yokoshima Aeri (あえりん Aerin) (2017)
  • Oshima Ryoka (りょーちゃん Ryoochan) (2017)
  • Tanabe Miku (たなみん Tanamin) (2017)
  • Kizaki Yuria (ゆりあ Yuria) (2017)
  • Watanabe Mayu (わたなべ まゆ Mayuyu) (2017)
  • Takeuchi Miyu (みゆみゆ Miyumiyu) (2018)
  • Takahashi Juri (高橋 朱里)(2019)

Đã hủy kiêm nhiệm:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ishida Anna (あんにゃ Annya) (SKE48) (2013)
  • Ikoma Rina (いこまちゃん Ikomachan) (Nogizaka46) (2015)
  • Yabuki Nako (なこ Nako) (HKT48) (2017)

Team 4[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng nhóm là Murayama Yuiri

Màu của nhóm là:

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu Công ty quản lý Ghi chú
Asai Nanami 浅井七海 Thiển Tĩnh • Thất Hải Naamin (なーみん) 16 20.05.2000 Kanagawa O AKS **
Inagaki Kaori 稲垣香織 Đạo Viên • Hương Chí Kaori (かおり) 16 31.10.1997 Okayama B AKS **
Utada Hatsuka 歌田初夏 Ca Điền • Sơ Hạ Hattsu (はっつ) Team 8 08.07.2002 Aichi A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Okawa Rio 大川莉央 Đại Xuyên • Lí Ương Rio (りお)

Riorin (りおりん)

15 01.03.2001 Tokyo A AKS **
Onishi Momoka 大西桃香 Đại Tây • Đào Hương Oonishi (おおにし) Team 8 20.09.1997 Nara B AKS Kiêm nhiệm Team 8
Omori Miyu 大森美優 Đại Lâm • Mỹ Ưu Miyupon (みゆぽん) 12 03.09.1998 Kanagawa B AKS **
Okada Nana 岡田奈々 Cương Điền • Nại Nại Naachan (なぁちゃん) 14 07.11.1997 Kanagawa A AKS Kiêm nhiệm STU48
Kawamoto Saya 川本紗矢 Xuyên Bổn • Sa Thi Sayaya (さやや) Draft 1st 31.08.1998 Hokkaido B AKS
Gyouten Yurina 行天優莉奈 Hàng Thiên • Ưu Lí Nại Yurina (ゆりな) Team 8 14.03.1999 Kagawa O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Sakaguchi Nagisa 坂口渚沙 Bản Khẩu • Chử Sa Nagi (なぎ) Team 8 23.12.2000 Hokkaido A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Sato Kiara 佐藤妃星 Tá Đằng • Phối Tinh Kiichan (きぃちゃん) 15 11.08.2000 Chiba B AKS **
Sato Nanami 佐藤七海 Tá Đằng • Thất Hải Nanamin (ななみん) Team 8 19.01.2000 Iwate A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Takaoka Kaoru 高岡薫 Cao Cương • Huân Kaorumba (かおるんば) Team 8 29.11.2000 Ehime A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Takahashi Ayane 高橋彩音 Cao Khiêu • Thái Âm Ayane (あやね) Team 8 30.12.1997 Saitama B AKS Kiêm nhiệm Team 8
Takahashi Sayaka 髙橋彩香 Cao Khiêu • Thái Hương Takasaya (たかさや)

Sayarin (さやりん)

Team 8 22.111.2001 Nagano O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Tatsuya Makiho 達家真姫宝 Đạt Gia • Chân Cơ Bảo Makichan (まきちゃん) 15 19.10.2001 Tokyo B AKS **
Taya Misaki 田屋美咲 Điền Ốc • Mỹ Tiếu Tacchan (たっちゃん) 16 14.07.2004 Tokyo ** AKS **
Nagano Serika 永野芹佳 Vịnh Dã • Cần Giai SERIKA Team 8 27.03.2001 Osaka O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Noda Hinano 野田陽菜乃 Dã Điền • Dương Thái Nãi Hinanon (ひなのん) Team 8 15.02.2004 Mie A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Hama Sayuna 濵咲友菜 Tân Tiếu • Hữu Thái Hamachan (はまちゃん) Team 8 20.08.2001 Shiga A AKS Kiêm nhiệm Team 8
Hirano Hikaru 平野ひかる Bình Dã • Hikaru Hika (ひか) Team 8 29.01.2003 Ishikawa O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Ma Chia-Ling 馬嘉伶 Mã Gia Linh Macharin (まちゃりん) Tuyển chọn ở Đài Loan 22.12.1996 Đài Trung, Đài Loan A AKS **
Miyazato Rira 宮里莉羅 Cung Lí • Lê La Ranrii (らんりー) Team 8 30.03.2002 Okinawa O AKS Kiêm nhiệm Team 8
Murayama Yuiri 村山彩希 Thôn Sơn • Thái Hy Yuirii (ゆいりー) 14 15.06.1997 Kanagawa O AKS Đội trưởng
Yamauchi Mizuki 山内瑞葵 Sơn Nạp • Thụy Quỳ Zukki (ずっき) 16 20.09.2001 Tokyo O AKS **

Thực tập sinh của Team 4[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phiên âm Kanji Hán Việt Nghệ danh Thế hệ Ngày sinh Nơi sinh Nhóm máu
Kurosu Haruka 黒須遥香 Hắc Tu • Diêu Hương Haachan (はーちゃん) 16 28.02.2001 Saitama O
Homma Mai 本間麻衣 Bổn Nhàn • Ma Y Maichan (まいちゃん) 16 06.09.2002 Tokyo O
Ishiwata Sena 石綿 星南 Thạch Miên • Tinh Na Senatan (せなたん) Draft 3rd 22.02.2002 Kanagawa **
Kuramoto Miyuu 蔵本 美結 Tàng Bổn • Mỹ Kết Kurara (くらら)

Miyuu (みゆう)

Draft 3rd 31.05.2001 Saitama **
Tada Kyoka 多田 京加 Đa Điền • Kinh Gia Kyouka (きょうか)

Kyon (きょん)

Tada-sensei (多田先輩)

Draft 3rd 19.08.1999 Fukui **
Harasawa Otohi 原澤 音妃 Nguyên Trạch • Âm Phi Oto (おと) Draft 3rd 12.10.2001 Tokyo **
Yoshihashi Yuzuka 吉橋 柚花 Cát Khiêu • Dữu Hoa Yuzu (ゆず) Draft 3rd 29.12.1999 Chiba **

Đã tốt nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mori Anna (なんちゃん Nanchan) (2011) (Team 4 cũ)
  • Takashima Yurina (ゆーりん Yuurin) (2014)
  • Maeda Mitsuki (みつき Mitsuki) (2015)
  • Tsuchiyasu Mizuki (みずき Mizuki) (2015)
  • Kobayashi Marina (まりんちゃん Marinchan) (2015)
  • Natori Wakana (わかにゃん Wakanyan) (2015)
  • Nishino Miki (みきちゃん Mikichan) (2017)
  • Okada Ayaka (あやか Ayaka)  (2017)
  • Iino Miyabi (みやび Miyabi) (2018)

Đã hủy kiểm nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kotani Riho (りぽぽ Ripopo) (2015)
  • Kitagawa Ryoha (うは Uha) (SKE48) (2017)
  • Shibuya Nagisa (なぎさ Nagisa) (NMB48) (2017)
  • Tomonaga Mio (みお Mio) (HKT48) (2017)

Team 8 (Toyota Members)[sửa | sửa mã nguồn]

Màu của nhóm là

Mỗi thành viên của nhóm đại diện cho một tỉnh thành của Nhật Bản

Thành viên (61): Abe Mei, Ito Kirara, Iwasaki Moeka, Utada Hatsuka, Okabe Rin, Okubora Chinatsu, Okuhara Hinako, Okumoto Hinano, Oguri Yui, Ota Nao, Oda Erina, Onishi Momoka, Kita Reina, Gyouten Yurina, Kawahara Misaki, Kuranoo Narumi, Kondo Moeri, Sakaguchi Nagisa, Sato Akari, Sato Shiori, Sato Nanami, Shitao Miu, Shimizu Maria, Shimoaoki Karin, Takaoka Kaoru, Takahashi Ayane, Takahashi Sayaka, Tani Yuri, Tanikawa Hijiri, Chou Kurena, Terada Misaki, Nakano Ikumi, Nagano Serika, Noda Hinano, Hashimoto Haruna, Hattori Yuna, Hama Sayuna, Hamamatsu Riona, Harumoto Yuki, Hayasaka Tsumugi, Hitomi Kotone, Hidaritomo Ayaka, Hirose Natsuki, Hirano Hikaru, Fukuchi Rena, Fujimura Natsuki, Honda Hitomi, Miyazato Rira, Mogi Kasumi, Moriwaki Yui, Yaguchi Moka, Yamada Kyoka, Yamada Nanami, Yamamoto Ai, Yamamoto Ruka,Yokomichi Yuri, Yokoyama Yui, Yoshikawa Nanase, Yoshino Miyu, Yoshida Karen, Rissen Airi

  • Hiện tại vẫn trong Team 8 (46): Utada Hatsuka, Okabe Rin, Okuhara Hinako, Okumoto Hinano, Oguri Yui, Ota Nao, Oda Erina, Onishi Momoka, Gyouten Yurina, Kawahara Misaki, Kuranoo Narumi, Sakaguchi Nagisa, Sato Akari, Sato Shiori, Sato Nanami, Shitao Miu, Shimizu Maria, Shimoaoki Karin, Takaoka Kaoru, Takahashi Ayane, Takahashi Sayaka, Tanikawa Hijiri, Terada Misaki, Chou Kurena, Nakano Ikumi, Nagano Serika, Noda Hinano, Hashimoto Haruna,  Hattori Yuna, Hama Sayuna, Harumoto Yuki, Hitomi Kotone, Hidaritomo Ayaka, Hirano Hikaru, Honda Hitomi, Miyazato Rira, Yaguchi Moka, Yamada Kyoka, Yamada Nanami, Yamamoto Ruka, Yokomichi Yuri, Yokoyama Yui, Yoshikawa Nanase, Yoshida Karen, Ito Kirara, Rissen Airi
  • Đã tốt nghiệp (15): Okubora Chinatsu, Moriwaki Yui, Fujimura Natsuki, Iwasaki Moeka, Yamamoto Ai, Kita Reina, Kondo Moeri, Yoshino Miyu, Fukuchi Rena, Tani Yuri, Hamamatsu Riona, Abe Mei, Mogi Kasumi, Hirose Natsuki, Hayasaka Tsumugi

Thành viên tạm thời[sửa | sửa mã nguồn]

Otona AKB48[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ra mắt vào tháng 4 năm 2014

Đã tốt nghiệp (1): Tsukamoto Mariko

Baito AKB[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ra mắt vào tháng 9 năm 2014

Đã tốt nghiệp (51): Abe Kanamu, Ikuta Yuuka, Ida Yuki, Koike Yuuka, Koizumi Rina, Miyazaki Miki, Akasaka Misaki, Araki Minami, Araki Rinka, Iikura Saori, Isshiki Rena, Umezawa Mayuka, Ebisawa Megumi, Ohno Ayano, Ogino Yuka, Kataigi Madoka, Katsumata Saori, Kamitani Saya, Kawaguchi Mami, Kawamura Maho, Kikuchi Tomomi, Kinoshita Suzuka, Kinoshita Mayu, Kusakabe Aina, Kurosawa Ayaka, Saito Rina, Saeki Mika, Sawaki Saya, Shibata Yui, Suzuki Yumin, Seiji Reina, Takagi Mashiro, Takahashi Kira, Takeuchi Misaki, Chida Yumeno,Chiyoda Yui, Nakagawa Rina, Nakamura Yuuka, Nagasaka Arisa, Narimatsu Misa, Nishigata Marina, Fukui Arisa, Fujie Momoko, Matsuura Kaho, Matsuoka Hana, Matsumoto Nodoka,Mega Yako, Yashiro Kana, Yamauchi Aki, Ogata Honomi

  • Giờ Ogino Yuka và Nishigata Marina đã là thành viên của NGT48
  • Paruru (Shimazaki Haruka) Senbatsu (Công bố 9/2/2016): Shigefuji Fuyuka, Hinode Yuka

Album[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tiêu đề Ngày phát hành
1 Team A 1st Stage "Party ga Hajimaru yo" (チームA 1st Stage「PARTYが始まるよ」) 2007.03.07
2 Team A 2nd Stage "Aitakatta" (チームA 2nd Stage「会いたかった」) 2007.03.07
3 Team A 3rd Stage "Dareka no Tame ni" (チームA 3rd Stage「誰かのために」) 2007.03.07
4 Team K 1st Stage "Party ga Hajimaru yo" (チームK 1st Stage「PARTYが始まるよ」) 2007.03.07
5 Team K 2nd Stage "Seishun Girls" (チームK 2nd Stage「青春ガールズ」) 2007.03.07
6 Team K 3rd Stage "Nonai Paradise" (チームK 3rd Stage「脳内パラダイス」) 2007.03.07
7 Team A 5th Studio Recording "Renai Kinshi Jourei" (チームA 5th Stage 「恋愛禁止条例」) 2009.08.11
8 Team K 5th Studio Recording "Saka Agari" (チームK 5th Studio Recording 「逆上がり」) 2009.08.11
9 Team B 4th Studio Recording "Idol no Yoake" (チームB 4th Studio Recording 「アイドルの夜明け」) 2009.08.11
10 Team K 6th Studio Recording "RESET" (チームK 6th Studio Recording「RESET」) 2010.08.07
11 Team B 5th Studio Recording "Theatre no Megami" (チームB 5th Studio Recording「シアターの女神」) 2010.08.07
12 Team A 6th Studio Recording "Mokugekisha" (チームA 6th Studio Recording「目撃者」) 2010.09.18
13 AKB48 Studio Recordings Collection (AKB48 Studio Recordings コレクション) 2013.01.01

Concerts[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tiêu đề Ngày
1 AKB48 First Concert "Aitakatta ~Hashira wa Naize!~

in Nihon Seinenkan - Shuffle Version  (ファーストコンサート「会いたかった~柱はないぜ!~」in 日本青年館シャッフルバージョン)

2007.01.31
2 AKB48 Haru no Chotto dake Zenkoku Tour ~Madamada Daze AKB48!~ 

in Tokyo Kosei Nenkin Kaikan 
(「春のちょっとだけ全国ツアー ~まだまだだぜ AKB48!~」in 東京厚生年金会館)

2007.07.18
3 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2008

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2008)

2008.07.25
4 Live DVD wa Derudaroukedo, 

Yappari Iki ni Kagiruze! AKB48 Natsu Matsuri
(ライブDVDは出るだろうけど、やっぱり生に限るぜ! AKB48夏祭り)

2008.11.20
5 AKB48 Masaka, Kono Concert no Ongen wa Ryuushutsushinai yo ne? 

(AKB48 まさか、このコンサートの音源は流出しないよね?)

2008.12.27
6 Nenwasure Kanshasai Shuffle Sumaze, AKB! SKE mo Yoroshiku ne

(年忘れ感謝祭 シャッフルするぜ、AKB! SKEもよろしくね)

2009.02.28
7 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2009 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2009)

2009.04.23
8 "Kami Kouen Yotei" AKB48 NHK Hall Concert 2009

(「神公演予定」AKB48 NHKホール コンサート 2009)

2009.08.08
9 AKB48 Bunshin no Jutsu Tour / AKB104 Senbatsu Members Sokaku Matsuri 

(AKB48 分身の術ツアー/AKB104選抜メンバー組閣祭り)

2009.11.01
10 AKB48 Natsu no Saruobasan Matsuri 

(AKB48 夏のサルオバサン祭り)

2009.09.13
11 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2010 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2010)

2010.03.20
12 AKB48 Manseki Matsuri Kibou Sanpi Ryouron 

(AKB48 満席祭り希望 賛否両論)

2010.06.23
13 AKB48 Concert "Surprise wa Arimasen" 

(AKB48 コンサート「サプライズはありません」)

2010.10.02
14 AKB48 AKB Yatte Kita!! 

(AKB48 AKBがやって来た!!)

2010.10.02
15 KYORAKU PRESENTS AKB48 SKE48 LIVE IN ASIA 2011.02.06
16 AKB48 Tokyo Aki Matsuri 

(AKB48 東京 秋祭り)

2011.02.26
17 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2011 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2011)

2011.03.19
18 Minogashita Kimitachi e ~AKB48 Group Zenkouen~ 

(見逃した君たちへ ~AKB48グループ全公演~)

2011.10.15
19 AKB48 First Dome Concert "Yossha~Ikuzo~! in Seibu Dome"

in Saitama

2011.12.28
20 AKB ga Ippai ~SUMMER TOUR 2011~ 

(AKBがいっぱい~SUMMER TOUR 2011~)

2012.03.28
21 AKB48 in a-nation 2011 2012.03.21
22 AKB48 Kouhaku Utagassen 2011 

(AKB48 紅白歌対抗合戦)

2012.03.28
23 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2012 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2012)

2012.06.13
24 Gyomu Renraku. Tanomuzo, Katayama Bucho! in Saitama Super Arena 

(業務連絡。頼むぞ、片山部長! in さいたまスーパーアリーナ)

2012.09.05
25 AKB48 Zenkoku Tour 2012 Nonaka Misato, Ugoku. 

(AKB48全国ツアー2012 野中美郷、動く。~47都道府県で会いましょう~)

2012/2013
26 AKB48 Zenkoku Tour 2012 Nonaka Misato, Ugoku. Team K Okinawa Kouen 

(AKB48全国ツアー2012 野中美郷、動く。~47都道府県で会いましょう~TeamK沖縄公演)

2012.11.22
27 AKB48 in TOKYO DOME ~1830m no Yume~ 

(AKB48 in TOKYO DOME ~1830mの夢~)

2012.11.22
28 Minogashita Kimitachi e 2 ~AKB48 Group Zenkouen~ 

(見逃した君たちへ 2 ~AKB48グループ全公演~)

2012.05.03
29 AKB48 Kouhaku Utagassen 2012 

(AKB48 紅白歌対抗合戦2012)

2012.12.17
30 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2013 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト100 2013)

2012.01.24
31 AKB Fair at Nippon Budoukan 

(AKB フェア at 日本武道館)

2013.04.25
32 Omoidaseru Kimitachi e ~AKB48 Group Zenkouen~ 

(思い出せる君たちへ ~AKB48グループ全公演~)

2013.05.02
33 AKB48 Group Kenkyuusei Concert ~Oshimen Hayai Mono Gachi~ 

(AKB48グループ研究生 コンサート ~推しメン早い者勝ち~)

2013.06.05
34 AKB48 Super Festival at Nissan Stadium 

(AKB48 スーパーフェスティバル at 日産スタジアム)

2013.06.08
35 AKB48 5 Big Dome Concert Tour 

(AKB48 5大ドームコンサートツアー)

2013.07.20
36 AKB48 Kouhaku Utagassen 2013 

(AKB48 紅白歌対抗合戦2013)

2013.12.17
37 AKB48 Request Hour Setlist Best 200 2014 

(AKB48 リクエストアワーセットリストベスト200 2014)

2014.01.23
38 AKB48 Tandoku Haru Con in Kokuritsu Kyougiba 〜Omoide wa Zenbu Koko ni Sutete Ike!〜 

(AKB48 単独 春コン in 国立競技場 ~思い出は全部ここに捨てていけ!~)

2014.03.29
39 AKB48 Oshima Yuko Graduation Concert in Ajinomoto Stadium 

(AKB48大島優子 卒業コンサート in 味の素スタジアム)

2014.06.07
40 AKB48 Zenkoku Tour 2014 

(AKB48全国ツアー2014 あなたがいてくれるから残り27都道府県で会いましょう)

2014.06.22 - 2014.12.27
41 AKB48 Group Tokyo Dome Concert 〜Suru na yo? Suru na yo? Zettai Sotsugyou Happyou Suru na yo?〜 

(AKB48グループ 東京ドームコンサート 〜するなよ? するなよ? 絶対卒業発表するなよ?〜)

2014.08.18 - 2014.08.20
42 AKB48 Group Fuyu da! Raibu da! Gottani da! 〜Enseidekinakatta Kimitachi e〜 

(AKB48グループ 冬だ!ライブだ!ごった煮だ!〜遠征出来なかった君たちへ〜)

2014.11.22 - 2014.12.04
43 AKB48 Kouhaku Utagassen 2014 

(AKB48 紅白歌対抗合戦2014)

2014.12.16
44 Team 8 National Tour 〜47 no Suteki na Machi e〜 

(チーム8初の全国ツアー 〜47の素敵な街へ〜)

2014.12.23
45 AKB48 Request Hour Setlist Best 1035 2015 

(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト1035 2015)

2015.01.21 - 2015.01.25
46 AKB48 x JKT48 Concert "Bergandengan Tangan Bersama Kakak" 2015.02.20
47 AKB48 Young Members Nationwide Tour 〜Mirai wa Ima Kara Tsukurareru〜

(AKB48ヤングメンバー全国ツアー~未来は今から作られる~)

2015.03.25 - 2015.05.16
48 AKB48 Spring Concert 〜Jikiso Imada Shugyouchu!〜

(AKB48春の単独コンサート~ジキソー未だ修行中!~)

2015.03.26
49 AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo Kouyasai~Ato no Matsuri~

(AKB48 41stシングル 選抜総選挙・後夜祭~あとのまつり~)

2015.07.06
50 AKB48 Manatsu no Tandoku Concert in SSA 〜Kawaei-san no Koto ga Suki Deshita〜

(AKB48真夏の単独コンサート in さいたまスーパーアリーナ ~川栄さんのことが好きでした~)

2015.08.01 - 2015.08.02
51 AKB48 Kouhaku Utagassen 2015 

(AKB48 紅白歌対抗合戦2015)

2015.12.15
52 AKB48 Tandoku Request Hour Setlist Best 100 2016 

(AKB48 単独クエストアワー セットリストベスト100 2016)

2016.01.16 - 2016.01.18
53 Takajo Aki and Nagao Mariya Graduation Concert 

(高城亜樹・永尾まりや 卒業コンサート)

2016.01.21
54 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2016 

(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト100 2016)

2016.01.22 - 2016.01.24
55 Shuku Takahashi Minami Graduation "148.5cm no Mita Yume" in Yokohama Stadium 

(祝 高橋みなみ卒業“148.5cmの見た夢”in 横浜スタジアム)

2016.03.26 - 2016.03.27
56 AKB48 45th Single Senbatsu Sousenkyo "Bokutachi wa Dare ni Tsuiteikeba ii"

(45thシングル 選抜総選挙~僕たちは誰について行けばいい?~)

2016.06.18
57 AKB48 Group Douji Kaisai Concert in Yokohama ~Ima Toshi wa Rank in Dekimashi ta Shukugakai~

(AKB48 グループ同時開催コンサートin横浜 ~今年はランクインできました祝賀会~)

2016.09.15
58 AKB48 Group Douji Kaisai Concert in Yokohama ~Rainen Koso Rank in Suru zo Keekishuukai~

(AKB48 グループ同時開催コンサートin横浜 ~来年こそランクインするぞ決起集会~)

59 AKB48 Kouhaku Utagassen 2016

(AKB48 紅白歌対抗合戦2016)

2016.12.15
60 AKB48 13th Generation Stage in TBC ~Ima, Yaru Shikaneen Dayo!~

(AKB48 13期生公演in TDC ~今やるしかねぇんだよ!~)

2017.01.16
61 AKB48 16th Generation Concert ~AKB no Mirai, Ima Ugoku!~

(AKB48 16期生コンサート ~AKBの未来、いま動く!~)

2017.01.18
62 Mukaichi Mion Solo Concert ~Oogoe de Ima Tsutae Tai Koto ga Aru~

(向井地美音ソロコンサート ~大声でいま伝えたいことがある~)

2017.01.19
63 AKB48 Request Hour Setlist Best 100 2017

(AKB48 リクエストアワー セットリストベスト100 2017)

2017.01.21 - 2017.01.22

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Đề cử Kết quả
2009 51st Japan Record Awards Special Award Đoạt giải
11th Mnet Asian Music Awards[166] Asia Recommended Award (Japan) "River" Đoạt giải
2010 24th Japan Gold Disc Award Special Award Đoạt giải
Billboard Japan Music Awards[167] Top Pop Artists Đoạt giải
GOOD DESIGN AWARD[168] Entertainment Project Design Đoạt giải
2011 Japan Gold Disc Award[169] Single of the Year Beginner Đoạt giải
Billboard Japan Music Awards[170] Artist of the Year Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Everyday, Katyusha" Đoạt giải
53rd Japan Record Awards Grand Prix "Flying Get" Đoạt giải
70th Television Drama Academy Awards[171] Best Theme Song Award "Flying Get" Đoạt giải
2012 Billboard Japan Music Awards[172] Artist of the Year Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Manatsu no Sounds Good!" Đoạt giải
54th Japan Record Awards[173] Grand Prix "Manatsu no Sounds Good!" Đoạt giải
26th Japan Gold Disc Award Artist of the Year Đoạt giải
11th CCTV-MTV Music Award[174] The Asia's Most Popular Group (special award) Đoạt giải
14th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan "Uza" Đoạt giải
2013 Billboard Japan Music Awards[175][176] Artist of the Year Đoạt giải
Top Pop Artists Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
27th Japan Gold Disc Award Artist of the Year Đoạt giải
55th Japan Record Awards Gold Award "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
Grand Prix Đề cử
2014 56th Japan Record Awards Grand Prix "Labrador Retriever" Đề cử
28th Japan Gold Disc Award Artist of the Year (Japan Domestic) Đoạt giải
47th Japan Cable Awards Cable Music Excellence [Outstanding Performance] Award "Kokoro no Placard" Đoạt giải
18th space shower music video award[177] Special Award "Koi Suru Fortune Cookie" Đoạt giải
2015 57th Japan Record Awards Grand Prix "Bokutachi wa Tatakawanai" Đề cử
29th Japan Gold Disc Award Single of the year "Labrador Retriever" Đoạt giải
Album of the Year "Tsugi no Ashiato" Đoạt giải
48th Japan Cable Awards Cable Music Excellence [Outstanding Performance] Award "Kuchibiru ni Be My Baby" Đoạt giải
15th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan Đoạt giải
The 3rd V Chart Awards Favorite Artist Of The Year Đoạt giải
Top Group – Japan Đoạt giải
2016 Billboard Japan Music Awards[178] Artist of the year Đoạt giải
Hot 100 of the Year "Tsubasa wa Iranai" Đoạt giải
30th Japan Gold Disc Award Single of the Year "Bokutachi wa Tatakawanai" Đoạt giải
Best 5 Albums "Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!"

"0 to 1 no Aida"

Đoạt giải
11th Taisho Ryou Music Award[179] Grand Prix "365 Nichi no Kamihikouki" Đoạt giải
88th Television Drama Academy Awards[180] Best Theme Song Award "365 Nichi no Kamihikouki" Đoạt giải
8th Dahsyatnya Awards Best Guest Award ( Bintang Tamu Terdahsyat ) Đoạt giải
2017 31st Japan Gold Disc Award Single of the Year "Tsubasa wa Iranai" Đoạt giải
19th Mnet Asian Music Awards Best Asian Artist Japan Đoạt giải
59th Japan Record Awards Grand Prix "Negaigoto no Mochigusare" Đoạt giải
2018 32nd Japan Gold Disc Award[181] Single of the Year "Negaigoto no Mochigusare" Đoạt giải
Best 5 Albums (Japanese) Thumbnail Đoạt giải
Best 5 Singles 11gatsu no Anklet, Shoot Sign.

Negaigoto no Mochigusare, #SukiNanda

Đoạt giải
60th Japan Record Awards Grand Prix "Teacher Teacher" Đề cử
2019 61st Japan Record Awards Grand Prix "Sustainable" Đề cử
33rd Japan Gold Disc Award[182] Single of The Year "Teacher Teacher" Đoạt giải
Best 5 Japanese albums Bokutachi wa, Ano Hi Yoake wo Shitteiru Đoạt giải
Best 5 Singles "Teacher Teacher", "Sentimental Train"

"No Way Man"

Đoạt giải
2020 34th Japan Gold Disc Awards[183] Single Of The Year "Sustainable" Đoạt giải
Best 5 singles "Sustainable"+"Jiwaru Days" Đoạt giải
2021 35th Japan Gold Disc Awards[160] Best 5 singles "Shitsuren, Arigato" Đoạt giải

Những kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm nhạc và những bài hát của họ đã lập những kỉ lục

  • Kỉ lục Guinness cho nhóm nhạc Pop lớn nhất thế giới
  • Kỉ lục Guinness cho số lượng ca sĩ nhạc Pop lớn nhất xuất hiện trong một trò chơi điện tử
  • Kỉ lục Guinness cho sự phê duyệt trên TV nhiều nhất cho cùng một sản phẩm trong một ngày.[184]
  • Nghệ sĩ nữ bán được nhiều đĩa đơn nhất Nhật Bản — [185]
  • Nhóm nhạc nữ có số lượng đĩa đơn bán ra cao nhất Nhật Bản 
  • Có nhiều đĩa đơn liên tiếp bán được triệu bản nhất tại Nhật Bản —.[186]
  • Có nhiều đĩa đơn bán được triệu bản nhất tại Nhật Bản —[187]

Các buổi diễn tại nhà hát (Stage)[sửa | sửa mã nguồn]

Team A[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team A 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2005.12.08 - 2006.03.31)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team A 2nd Stage "Aitakatta") (2006.04.15 - 2006.08.11)
  • 3rd Stage 「誰かのために」 (AKB48 Team A 3rd Stage "Dareka no Tame ni") (2006.08.20 - 2007.01.25)
  • 4th Stage 「ただいま 恋愛中」 (AKB48 Team A 4th Stage "Tadaima Renaichuu") (2007.02.25 - 2007.06.26 and 2008.04.20 - 2008.10.11)
  • 5th Stage 「恋愛禁止条例」 (AKB48 Team A 5th Stage "Renai Kinshi Jourei") (2008.10.19 - 2010.05.27 and 2014.04.25 - 2015.08.23)
  • 6th Stage 「目撃者」 (AKB48 Team A 6th Stage "Mokugekisha") (2010.07.27 - 2012.10.29)
  • Waiting Stage (2012.11.02 - 2014.04.21)
  • 7th Stage 「M.Tに捧ぐ」 (AKB48 Team A 7th Stage "M.T ni Sasagu") (2016.02.10 - )

Team K[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team K 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2006.04.01 - 2006.07.05 and 2006.11.08 - 2006.12.14)
  • 2nd Stage 「青春ガールズ」 (AKB48 Team K 2nd Stage "Seishun Girls") (2006.07.08 - 2006.11.06)
  • 3rd Stage 「脳内パラダイス」 (AKB48 Team K 3rd Stage "Nounai Paradise") (2006.12.17 - 2007.06.22)
  • 4th Stage 「最終ベルが鳴る」 (AKB48 Team K 4th Stage "Saishuu Bell ga Naru") (2008.05.31 - 2009.04.04, 2014.02.20 - 2014.04.16 and 2015.11.30 - )
  • 5th Stage 「逆上がり」 (AKB48 Team K 5th Stage "Saka Agari") (2009.04.11 - 2010.02.21)
  • 6th Stage 「RESET」 (AKB48 Team K 6th Stage "RESET") (2010.03.12 - 2012.10.24 and 2014.05.07 - 2015.08.26)
  • Waiting Stage (2012.11.01 - 2014.02.12)

Team B[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「青春ガールズ」 (AKB48 Team B 1st Stage "Seishun Girls") (2007.04.08 - 2007.10.02)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team B 2nd Stage "Aitakatta") (2007.10.07 - 2008.02.21)
  • 3rd Stage 「パジャマドライブ」 (AKB48 Team B 3rd Stage "Pajama Drive") (2008.03.01 - 2009.02.01 and 2014.04.28 - 2015.08.27)
  • 4th Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Team B 4th Stage "Idol no Yoake") (2009.02.08 - 2010.04.16)
  • 5th Stage 「シアターの女神] (AKB48 Team B 5th Stage "Theater no Megami") (2010.05.21 - 2012.10.20)
  • Waiting Stage (2012.11.03 - 2014.04.23)
  • 6th Stage 「ただいま 恋愛中」 (AKB48 Team B 6th Stage "Tadaima Renaichuu") (2015.12.26 - )

Team 4[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Team 4 1st Stage "Boku no Taiyou") (2011.10.10 - 2012.10.25)
  • 2nd Stage 「手をつなぎながら」 (AKB48 Team 4 2nd Stage "Te wo Tsunaginagara") (2013.11.03 - 2014.04.15)
  • 3rd Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Team 4 3rd Stage "Idol no Yoake") (2014.04.24 - 2015.08.24)
  • 4th Stage 「夢を死なせるわけにいかない」 (AKB48 Team 4 4th Stage "Yume wo Shinaseru Wake ni Ikanai") (2015.12.03 - )

Team 8[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「PARTYが始まるよ」 (AKB48 Team 8 1st Stage "PARTY ga Hajimaru yo") (2014.08.05 - 2015.08.16)
  • 2nd Stage 「会いたかった」 (AKB48 Team 8 2nd Stage "Aitakatta") (2015.09.05 - )

Himawarigumi[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Himawarigumi 1st Stage "Boku no Taiyou") (2007.07.01 - 2007.11.30 and 2016.07.16 - )
  • 2nd Stage 「夢を死なせるわけにいかない」 (AKB48 Himawarigumi 2nd Stage "Yume wo Shinaseru Wake ni Ikanai") (2007.12.08 - 2008.04.19)

Thực tập sinh[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage] 「ただいま恋愛中」 (AKB48 Kenkyuusei "Tadaima Renaichuu") (2008.05.22 - 2008.10.07)
  • 2nd Stage 「アイドルの夜明け」 (AKB48 Kenkyuusei "Idol no Yoake") (2009.03.06 - 2010.04.12)
  • 3rd Stage 「恋愛禁止条例」 (AKB48 Kenkyuusei "Renai Kinshi Jourei") (2010.04.17 - 2010.06.18)
  • 4th Stage 「シアターの女神」 (AKB48 Kenkyuusei "Theater no Megami") (2010.06.20 - 2011.04.03)
  • 5th Stage 「RESET」 (AKB48 Kenkyuusei "RESET") (2012.03.29 - 2012.09.08)
  • 6th Stage 「僕の太陽」 (AKB48 Kenkyuusei "Boku no Taiyou") (2012.10.26 - 2013.03.17)
  • 7th Stage 「パジャマドライブ」 (AKB48 Kenkyuusei "Pajama Drive") (2013.03.20 - 2013.10.27)

Stage Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1st Stage 「イブはアダムの肋骨」 (AKB48 Special Stage "Eve wa Adam no Abarabone") (2015.09.13 - )
  • 2nd Stage 「青春はまだ終わらない」 (AKB48 Special Stage "Seishun wa mada owaranai") (2015.09.18 - )
  • 3rd Stage 「どうなる?!どうする?!AKB48」 (AKB48 Special Stage "Dounaru?! Dousuru?! AKB48") (2015.10.16 - )
  • 4th Stage 「僕がここにいる理由」 (AKB48 Special Stage "Boku ga Koko ni Iru Riyuu") (2015.11.08 - )

Stage sản xuất bởi Takahashi Minami[sửa | sửa mã nguồn]

  • Staff Stage 「STAFF公演」(Takahashi Minami Produced Stages "STAFF Stage") (2016.02.16)
  • Okurairi Stage 「お蔵入り公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Okurairi Stage") (2016.02.17)
  • Ichigochanzu Stage 「いちごちゃんず公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Ichigochanzu Stage") (2016.02.18)
  • Dance Senbatsu Stage 「ダンス選抜公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Dance Senbatsu Stage") (2016.02.20)
  • The Idol Stage 「ザ・アイドル公演」(Takahashi Minami Produced Stages "The Idol Stage") (2016.02.22)
  • Chaos Stage 「カオス公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Chaos Stage") (2016.02.25)
  • Saturday Night Stage 「SaturdayNight公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Saturday Night Stage") (2016.02.27)
  • Itoshi no Nyan Nyan Otanjoubi Omedetou Stage 「愛しのにゃんにゃんお誕生日おめでとう公演」(Takahashi Minami Produced Stages "Itoshi no Nyan Nyan Otanjoubi Omedetou Stage") (2016.02.28)

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

AKB0048

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

AKB49 ~ Renai Kinshi Jourei ~ (AKB49 ~ 恋愛 禁止 条例 ~)

AKB0048 - Episode 0

AKB48 Satsujin Jiken

TV / Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình TV[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kênh phát sóng Thời lượng Ghi chú
2007–2009 AKB48+10! 24 tập x 60 phút
2008 AKB1:59! (AKB1じ59ふん! AKB1ji59fun!?) Nihon TV 10 tập x 30 phút
AKB0:59! (AKB0じ59ふん! AKB0ji59fun!?) Nihon TV 26 tập x 30 phút
2008–hiện tại AKBingo! Nihon TV 30 phút hàng tuần
AKB48 Nemousu TV (AKB48ネ申テレビ?) Family Gekijo 11 tập x 30 phút 12 mùa + đặc biệt
2009–2012 Shukan AKB (週刊AKB?, Weekly AKB) TV Tokyo 30 phút hàng tuần
2009–2010 AKB1/48 8 tập x 30 phút
2010 AKB600sec. Nihon TV 16 tập x 15 phút
2010–2011 AKB-Kyu Gourmet Stadium (AKB-級グルメスタジアム?, AKB-Class Gourmet Stadium) Sukachan 6 tập x 45 phút 2 mùa
2010–2016 Ariyoshi AKB Kyōwakoku (有吉AKB共和国?, Ariyoshi AKB Republic) TBS 30 phút hàng tuần với Hiroiki Ariyoshi
AKB to chome chome! (AKBと××!?, AKB and xx!) Yomiuri TV 60 phút hàng tháng + đặc biệt
2011 Akemashite AKB! (あけましてAKB! ?) Nihon TV 1 tập
Another AKB48 Documentary – "Future in 1 millimeters ahead" (Mou hitotsu no AKB48 – "1 Miri Saki no Mirai" ?, もうひとつのAKB48ドキュメンタリー「1ミリ先の未来」) NHK General TV
2012-hiện tại AKB48 no Anta, Dare? (AKB48のあんた、誰?) NotTV Hàng tuần
2013–hiện tại AKB48 SHOW! NHK BS Premium 30 phút hàng tuần
AKB観光大使 (AKB48 Kankō Taishi?) FujiTV ONE 60 phút, một tháng một lần

Phim Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Majisuka Gakuen
  • Majisuka Gakuen 2
  • Majisuka Gakuen 3
  • Majisuka Gakuen 4
  • Majisuka Gakuen 5
  • Cabasuka Gakuen
  • Majimuri Gakuen
  • Sailor Zombie
  • So long!
  • Mendol - Ikemen Idol
  • Sakura Kara no Tegami
  • AKB48 Đêm kinh dị - Adrenaline no Yoru
  • AKB Đêm tình yêu - Koi Koujou
  • Crow's Blood
  • Suzuki Wagon R
  • Wanda × AKB48 Short Story: Fortune Cookie

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • AKB 1/48 Idol to Koi Shitara… (AKB1/48 アイドルと恋したら…?) (PSP), trò chơi hẹn hò giả tưởng
  • AKB 1/48 Idol to Guam de Koi Shitara… (AKB1/48 アイドルとグアムで恋したら…?) (PSP), trò chơi hẹn hò giả tưởng lấy bối cảnh tại đảo Guam.
  • AKB48 + Me (Nintendo 3DS).
  • AKB1/149 Renai Sousenkyo (AKB1/149恋愛総選挙?) (PSP, PSV and PS3), trò chơi hẹn hò giả tưởng bao gồm cả các thành viên SKE48, NMB48, HKT48
  • Cherry Bay Blaze

Các nhóm nhạc "chị em" đồng hành[sửa | sửa mã nguồn]

SKE48 Team KII biểu diễn tại nhà hát

Yasushi Akimoto của AKB48 cũng đã tạo ra những "nhóm chị em" cùng đồng hành với AKB48 cũng được dựa trên tiêu chí "thần tượng bạn có thể gặp mặt". Những nhóm này cũng có những nhà hát riêng tại Nhật Bản và các nước châu Á, và có những đĩa đơn riêng. Những thành viên của các nhóm nhạc chị em đôi khi cũng xuất hiện trong những buổi trình diễn và đĩa đơn của AKB48 [188][189] Matsui Jurina (SKE48) và Watanabe Miyuki (NMB48), thành viên của các nhóm chị em với AKB48 cũng là những thành viên kiêm nhiệm đầu tiên của AKB48.[190]

Nhóm nhạc chị em đầu tiên của AKB48 là SKE48, được thành lập trong năm 2008 và nhà hát của họ được dựng ở Sakae, Nagoya.[191] Sau đó, SDN48, NMB48 (tại Namba, Osaka), và HKT48 (tại Fukuoka) được hình thành. Năm 2011, AKB48 công bố thành lập nhóm chị em đầu tiên bên ngoài Nhật Bản, JKT48, có trụ sở tại Jakarta, Indonesia. Và theo sau đó là các nhóm chị em khác ở nước ngoài: SNH48, có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc (Tuy nhiên đã tách ra khỏi PJ48 vào 2016 và hiện đang hoạt động độc lập), về sau AKB48 thành lập AKB48 China, ra mắt AKB48 Team SH vào 12/10/2016.

Ngoài các nhóm chị em, AKB48 cũng có một "đối thủ chính thức" là nhóm Sakamichi Series cùng chung nhà sản xuất Yasushi Akimoto thành lập vào năm 2011, gồm 3 nhóm: Nogizaka46,[192] và các nhóm chị em Sakurazaka46 và Hinatazaka46, sau khi Sony Music Nhật Bản xây dựng tòa nhà văn phòng chính.[192]

Năm 2015, tại concert AKB48 Request Hour Setlist Best 1035, AKS (công ty quản lý của AKB48) đã công bố thành lập NGT48 ở Niigata với Kitahara Rie làm đội trưởng và Kashiwagi Yuki kiêm nhiệm.

Việc thành lập TPE48 được thông báo vào ngày 10 tháng 10 năm 2011 trên blog chính thức của AKB48. Vào thời điểm đó, AKS đã hợp tác với Chi nhánh Yoshimoto Kogyo Đài Bắc và dự kiến ​​bắt đầu việc thử giọng vào năm 2012. Tuy nhiên, hai bên đã không đạt được đồng thuận trong công tác chuẩn bị nên đã ngừng hợp tác nửa cuối năm 2012.

Vào tháng 3 năm 2016, AKS thông báo thành lập 3 nhóm chị em khác ngoài Nhật Bản là BNK48 tại Bangkok, Thái Lan; MNL48 tại Manila, PhilippinesTPE48 tại Đài Bắc. Đài Loan. Vào ngày 30 tháng 7 năm 2018, AKS đã hủy bỏ hợp đồng liên doanh và giấy phép với công ty quản lý của TPE48 và tạo nên AKB48 Team TP. CGM48 được thành lập theo tên thành phố Chiang Mai, Thái Lan, là nhóm chị em trong nước của BNK48 đã được công bố tại Chiang Mai vào ngày 2 tháng 6 năm 2019.

Vào ngày 27 tháng 12 năm 2017, Yokoyama Yui- tổng quản của AKB48 và là cựu đội trưởng của Team A, đã thông báo về việc thành lập MUM48, có trụ sở tại Mumbai, Ấn Độ, vào năm 2018, thông qua một buổi phát sóng trực tiếp tại Showroom. Vào ngày 19 tháng 6 năm 2019, MUB48 thay thế MUM48 và DEL48 có trụ sở Delhi, đã được công bố. Vào tháng 10 năm 2020, hầu hết các thành viên đã mở tài khoản Instagram cá nhân, dẫn đến tin đồn về việc tan rã. Deepak Nandal, nhà sản xuất DEL48, xác nhận YKBK48 đã đóng DEL48 và sẽ chấm dứt hợp đồng của các thành viên vào cuối tháng 10 do đại dịch COVID-19.

Ngày 21 tháng 6 năm 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, AKS đã có buổi công bố thông tin về nhóm nhạc nhỏ mới sẽ hoạt động tại thị trường Việt Nam lấy tên là SGO48, tuyển chọn thành viên bắt đầu từ tháng 7 năm 2018. Nhóm nhạc được ra mắt vào ngày 22 tháng 12 năm 2018. Nhóm hiện có 23 thành viên.[193]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Monica Hesse (ngày 27 tháng 3 năm 2012). “Japanese girl group AKB48 breezes through D.C. in whirlwind of cuteness”. The Washington Post. Truy cập 9 tháng 4 năm 2012.
  2. ^ “ももクロ : "音楽好き"の支持でポストAKBに急浮上? 群雄割拠のアイドルシーン” (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun Digital. ngày 6 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập 18 tháng 5 năm 2012.
  3. ^ “Japan all-girl group ad 'encourages homosexuality'. Agence France-Presse. Yahoo! News. ngày 20 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập 18 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ “AKB48 is officially the world's biggest group”.
  5. ^ [http://news.cnet.com/8301-17938_105-57371627-1/otaku-band-akb48-morphs-into-$200m-business/ http://www.tokyohive.com/article/2012/12/oricon-reveals-artist-total-sales-revenue-ranking-for-2012/ “Otaku band AKB48 morphs into $200M business”] Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). CNET News. ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập 12 tháng 2 năm 2012. line feed character trong |url= tại ký tự số 92 (trợ giúp)
  6. ^ [ https://www.oricon.co.jp/news/2112881/full/ https://www.oricon.co.jp/news/2112881/full/]
  7. ^ a ă [1]
  8. ^ “シングル年間ランキング-ORICON STYLE ランキング” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập 17 tháng 7 năm 2011.
  9. ^ “【オリコン年間】AKB48、史上初の年間シングルTOP5独占 総売上162.8億円で7冠” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. ngày 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập 19 tháng 12 năm 2011.
  10. ^ “【オリコン】史上初!AKB48が3作連続初週ミリオン 歴代シングル初週売上TOP3独占”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập 1 tháng 11 năm 2011.
  11. ^ “Các cô gái trong nhóm nhạc lớn nhất Nhật Bản bị cấm yêu”.
  12. ^ “What is AKB48?”.
  13. ^ “AKBINGO”.
  14. ^ “今月も”.
  15. ^ “1st Generation (Original Team A)”.
  16. ^ “Shinoda Mariko”.
  17. ^ “2nd Generation (Original Team K)”.
  18. ^ “AKB48 デビューCD 「桜の花びらたち」 2/1発売の宣伝トラック”.
  19. ^ “チームA 1st Stage「PARTYが始まるよ」【初回生産限定盤】”.
  20. ^ “AKB48、デビュー作が初登場TOP10入り!モー娘。以来の快挙達成!”.
  21. ^ “宇佐美友紀が今月一杯でAKB48から卒業することになりました。”.
  22. ^ “AKB48 売上 – スカート、ひらり”.
  23. ^ “AKB48、ついにメジャーデビュー決定!!”.
  24. ^ “チームBオーディション締め切り決定!”.
  25. ^ “3rd Generation (Original Team B)”.
  26. ^ “来年からの新体制について”.
  27. ^ “アーティスト&楽曲検索 会いたかった”.
  28. ^ “AKB48 売上 – AKB48シングル”.
  29. ^ “アーティスト&楽曲検索 軽蔑していた愛情”.
  30. ^ “Enjo-kosai” là thuật ngữ mô tả hiện tượng các học sinh nữ quan hệ tình dục với những người đàn ông lớn tuổi để kiếm tiền.
  31. ^ “ライブレポート:AKB48、初の全国ツアーが開幕”.
  32. ^ “AKB48—21世纪的丑小鸭传说”.
  33. ^ “夕陽を見ているか?”.
  34. ^ “AKB48—21世纪的丑小鸭传说”.
  35. ^ “AKB48の新年ニューシングル&AXライブ4daysが決定”.
  36. ^ “AKB48劇場「桜の花びらたち2008」購入者特別プレゼント!”.
  37. ^ “AKB48「ポスター44種類コンプでイベント招待」企画、「独禁法違反」のおそれで中止”.
  38. ^ “AKB48 Launching SKE48 In Nagoya”.
  39. ^ “AKB48 member fired over leaked 'Purikura' photo”.
  40. ^ “菊地からファンの皆様へ”.
  41. ^ “AKB48コレクター心を刺激する裏ジャケ19パターン”.
  42. ^ “松井珠理奈&大島優子!AKB新曲「UZA」はWセンター!!”.
  43. ^ “大声ダイヤモンド/AKB48”.
  44. ^ “10年桜 AKB48のプロフィールならオリコン芸能人事典-ORICON STYLE”.
  45. ^ "AKB48選抜総選挙"開票! トップ当選の前田敦子「AKBに人生捧げる!」”.
  46. ^ “言い訳Maybe(マキシ+DVD複合)”.
  47. ^ “止めたAKB48、再開したモー娘。"政権交代"が進むアイドル界の「握手会狂想曲」”.
  48. ^ “Come and discover AKB48 pop sensation!”.
  49. ^ “AKB48 U.S. DEBUT CONCERT IN NYC”.
  50. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2009年9月”.
  51. ^ “AKB48初のシングル首位、17.9万枚で09年女性アーティスト初動売上トップに”.
  52. ^ “AKB48 top with Sakura no Shiori”.
  53. ^ “2010年12月度 認定作品”.
  54. ^ “AKB48が初週50万枚超で首位 モー娘。以来9年半ぶり快挙”.
  55. ^ “Japanese Musical Group AKB48 will be Official Guests of Honor at Anime Expo 2010”.
  56. ^ “Heavy Rotation”.
  57. ^ “AKB48、女性グループ歴代最高の初週売上82.7万枚 5作連続シングル首位”.
  58. ^ “Beginner”.
  59. ^ “AKB48×ハロプロがグラビア初コラボ! 渡辺麻友×鈴木愛理が網タイツ姿で表紙飾る”.
  60. ^ “AKB48が「スパシーバ」 モスクワで初コンサート”.
  61. ^ “続 AKB48海外公演!!”.
  62. ^ “Special Events | Singapore Toy, Games & Comic Convention (STGCC)”.
  63. ^ “AKB48・小野恵令奈、卒業後の進路は 「海外留学」&「女優業勉強」”.
  64. ^ “AKB48から小野恵令奈が卒業......「明日から自分の夢に向かって」”.
  65. ^ “AKB48 5th Anniversary”.
  66. ^ “Sakura no Ki ni Narou”.
  67. ^ “AKB48 breaks single-day sales records, sells over 655,000 copies”.
  68. ^ “AKB48 sets record with Sakura no Ki ni Narou”.
  69. ^ “DOCUMENTARY of AKB48 to be continued "10 Nengo, Shoujo Tachi wa Ima no Jibun ni Nani o Omou Nodarou?".
  70. ^ “AKB48新アルバムに新曲11曲、SKE・SDN・NMB参加曲も”.
  71. ^ “AKB48 groups pledge 500 million yen for earthquake relief”.
  72. ^ “AKB48、新シングル&選抜総選挙決定!収益一部を義援金に”.
  73. ^ “Activities of AKB48's Tohoku earthquake reconstruction support project”.
  74. ^ “HKT48”.
  75. ^ “AKB48 to make a guest appearance at "Golden Melody Awards" in Taiwan”.
  76. ^ “Everyday, Kachuusha”.
  77. ^ “Flying Get”.
  78. ^ “Kaze wa Fuiteiru”.
  79. ^ “Ue Kara Mariko”.
  80. ^ “AKB48 in TOKYO DOME ~1830m no Yume~”.
  81. ^ “Eien Pressure”.
  82. ^ “1830m”.
  83. ^ “So long!”.
  84. ^ “Heart Ereki”.
  85. ^ “Hai thành viên AKB48 bị tấn công bằng cưa sắt”.
  86. ^ “2 thành viên AKB48 bị fan cuồng tấn công bằng cưa”.
  87. ^ “Koko ga Rhodes da, Koko de Tobe!”.
  88. ^ “Green Flash”.
  89. ^ “AKB48 39thシングル「Green Flash」”.
  90. ^ “川栄李奈 無念の卒業…今後は女優業に全力「夢を追いかけたい」”.
  91. ^ “川栄、卒業は「夢を叶えたいと思ったから」」”.
  92. ^ “こじはる、武藤十夢らNYにAKB、ファン5000人集結に感動”.
  93. ^ “AKB48、6年ぶりNYライブに5000人熱狂 里田まい現地報告「ものすごい熱気」”.
  94. ^ “僕たちは戦わない(初回限定盤/Type A)”.
  95. ^ “AKB48 41st Single Senbatsu Sousenkyo ~Juni Yoso Fukano, Oare no Ichiya~”.
  96. ^ “Rino Sashihara crowned amid tears and jeers at AKB election”.
  97. ^ “Halloween Night”.
  98. ^ “Kuchibiru ni Be My Baby”.
  99. ^ “AKB48 overtakes iconic rock group to become Japan's No.1”.
  100. ^ “0 to 1 no Aida”.
  101. ^ “Kimi wa Melody”.
  102. ^ "AKB48's 43rd Single "Kimi wa Melody" revealed on the final day of Request Hour 2016!".
  103. ^ “【AKB紅白】台湾オーディション合格の馬嘉伶「ヘビロテ」1人で熱唱”.
  104. ^ “Ma Chia-Ling”.
  105. ^ “Tsubasa wa Iranai”.
  106. ^ “LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai”.
  107. ^ “High Tension”.
  108. ^ “Thumbnail”.
  109. ^ “Shoot Sign”.
  110. ^ “Negaigoto no Mochigusare”.
  111. ^ “DOCUMENTARY of AKB48 Sonzai suru Riyuu”.
  112. ^ “AKB48 49th Single Senbatsu Sousenkyo”.
  113. ^ “#SukiNanda”.
  114. ^ “Buồn nhất Tổng tuyển cử lần thứ 9 của AKB48: Watanabe Mayu thông báo tốt nghiệp”.
  115. ^ “11gatsu no Anklet (11月のアンクレット)”. line feed character trong |tựa đề= tại ký tự số 18 (trợ giúp)
  116. ^ “PD48 contestants who performed in 2017 MAMA Japan”.
  117. ^ “Độc quyền: 15 câu chuyện hấp dẫn mà bạn có thể bỏ lỡ nếu không 'tập trung' xem MAMA 2017”.
  118. ^ “[2017 MAMA in Japan] AKB48&CHUNG HA&Weki Meki&PRISTIN&fromis_9&Idol School Class 1_IT'S SHOWTIME”.
  119. ^ “[2017 MAMA in Japan] CHUNG HA&Weki Meki&PRISTIN&fromis_9&Idol School Class 1&AKB48_Pick Me”.
  120. ^ “AKB48 xác nhận tham gia 'Produce 48' của Mnet, một cuộc chiến sống còn mới sắp bắt đầu!”.
  121. ^ “Bokutachi wa, Ano Hi no Yoake wo Shitteiru”.
  122. ^ “Jabaja”.
  123. ^ “Teacher Teacher”.
  124. ^ “Single thứ 52 của AKB48 nhanh chóng bốc hơi hơn một triệu bản trong tuần đầu tiên”.
  125. ^ “AKB48 53rd Single Sekai Senbatsu Sousenkyo”.
  126. ^ “Sentimental Train”.
  127. ^ “Không còn là tin đồn, AKB48 sẽ tham gia 'cuộc chiến sống còn' Produce 48!”.
  128. ^ “Dàn thí sinh Produce 48 ra mắt đẹp hút hồn, idol Nhật Bản chiếm sóng nhất”.
  129. ^ “Liệu các trainee Hàn Quốc có 'khóc ròng' tại Produce 48 không khi mà các thí sinh Nhật Bản lại xinh đẹp rực rỡ như thế này?”.
  130. ^ “Produce 48 khép lại, lộ diện top 12 thí sinh thắng cuộc, debut với tên IZONE”.
  131. ^ “Ba thành viên AKB48G tạm dừng mọi hoạt động để tập trung cho IZ*ONE”.
  132. ^ “NO WAY MAN”.
  133. ^ “Miyawaki Sakura trở thành center cho MV NO WAY MAN trước khi tạm dừng mọi hoạt động ở 48 Group”.
  134. ^ “AKB48 x BNK48 - Koisuru Fortune Cookie คุกกี้เสี่ยงทาย งานขาวแดง NHK”.
  135. ^ "BNK48「NHK紅白歌合戦」出演メンバーが決定!日本人メンバー伊豆田莉奈と大久保美織も".
  136. ^ “Vụ tấn công thần tượng: Tại sao ca sĩ Yamaguchi Maho của nhóm NGT48 lại là người xin lỗi?”.
  137. ^ “Nữ ca sĩ bị tấn công còn phải xin lỗi người hâm mộ”.
  138. ^ “Maho Yamaguchi (NGT48) bị thành viên cùng nhóm thuê người tấn công tại nhà riêng”.
  139. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2019 in Bangkok”.
  140. ^ “76 thiếu nữ của các nhóm nhạc châu Á diễn ở Thái Lan”.
  141. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2019 in Shanghai”.
  142. ^ “AKB48 in Taipei 2019 ~Are You Ready For It?~”.
  143. ^ “AKB48 Zenkoku Tour 2019”.
  144. ^ “AKB48 chính thức nói lời chia tay với thành viên xuất sắc nhất”.
  145. ^ “Jiwaru DAYS”.
  146. ^ “Show thực tế dài hơi AKBINGO! của AKB48 sẽ khép lại quãng đường của mình sau 11 năm”.
  147. ^ “番組を応援してくださった皆さんへ”.
  148. ^ “Sustainable”.
  149. ^ “AKB48 Cafe & Shop in Akihabara Closes After 8 Years”.
  150. ^ “Tin buồn cho các Fan của AKB48, Tiệm Cafe AKB48 đóng cửa vào tháng 12”. line feed character trong |tựa đề= tại ký tự số 42 (trợ giúp)
  151. ^ “AKB48's Japanese company announces division of management in preparation for IZ*ONE's return to promotions”.
  152. ^ “Nữ thần tượng 10X rời nhóm nhạc vì lộ ảnh riêng tư”.
  153. ^ “Shitsuren, Arigatou”.
  154. ^ “OUC48 Project”.
  155. ^ “AKB48, chị cả của SGO48, phát động dự án OUC48”.
  156. ^ “Hanareteitemo”.
  157. ^ “AKB48 tung PV Hanareteitemo với 114 ca sĩ, fan hâm mộ gặp lại 8 thành viên đã tốt nghiệp”.
  158. ^ “Sponichi: COVID-19 Could Be to Blame for AKB48 Missing Out on This Year's Kōhaku Music Contest”.
  159. ^ “Danh sách Kokaku Uta Gassen gây bất ngờ, AKB48 lần đầu vắng mặt, xuất hiện nhóm nhạc lạ hoắc”.
  160. ^ a ă “Arashi takes home the 'Artist of the Year' at the 'JAPAN GOLD DISC AWARD' for the 7th time”.
  161. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE オンライン記者会見/Online Press Conference”.
  162. ^ “AKB48 Group Asia Festival 2021 ONLINE”.
  163. ^ a ă “オリコンランキング情報サービス「you大樹」”. Oricon. Truy cập 9 tháng 2 năm 2011. (subscription only)
  164. ^ a ă â “2011年6月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập 22 tháng 7 năm 2011.
  165. ^ “2010年12月度 認定作品” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập 22 tháng 7 năm 2011.
  166. ^ “MAMA HISTORY – WINNERS 2009: The complete list | Mwave”. www.mwave.me (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  167. ^ Rob Schwartz (7 tháng 2 năm 2011). “Chaka Khan, Debbie Gibson Make Cameos at Billboard Japan Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  168. ^ “Entertainment Project Design [AKB48]”. Good Design Award. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  169. ^ “Japan Gold Disc Award 2011”.
  170. ^ “AKB48, Avril Lavigne Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012.
  171. ^ “ドラマソング賞 受賞結果 1位:フライングゲット、AKB48 | 第70回 - ザテレビジョンドラマアカデミー賞”. ザテレビジョン (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  172. ^ “AKB48がアーティスト・オブ・ザ・イヤー含む4冠を2年連続で達成│Daily News│Billboard JAPAN” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. 15 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
  173. ^ AKB48がレコ大連覇!"センター"まゆゆ号泣. SANSPO.COM(サンスポ) (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014.
  174. ^ “AKB48 / Awarded "Asia's Most Popular Group" in Beijing”. SYNC MUSIC JAPAN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  175. ^ Jeff Benjamin (9 tháng 1 năm 2014). “AKB48, Morning Musume Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  176. ^ Billboard Staff (20 tháng 12 năm 2012). “AKB48, Carly Rae Jepsen Win Big at Billboard Japan Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
  177. ^ “「第18回SPACE SHOWER MUSIC VIDEO AWARDS」にて特別賞ほか受賞!!”. AOI Pro. Inc. (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  178. ^ “AKB48 Tops Billboard Japan's 2016 Artist Ranking: See the List”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
  179. ^ “「第11回大正琴音楽大賞」授与式を行いました”. 琴伝流からのお知らせ | 琴伝流大正琴 (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  180. ^ “ドラマソング賞 受賞結果 1位:365日の紙飛行機、AKB48 | 第88回 - ザテレビジョンドラマアカデミー賞”. ザテレビジョン (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019.
  181. ^ “The Winners of The Japan Gold Disc Award 2018 Announced”.
  182. ^ “Namie Amuro, BTS, AKB48, & more win at 33rd "Japan Gold Disc Award".
  183. ^ “34th Japan Gold Disc Awards”.
  184. ^ “AKB48 achieves a Guinness World Record for their 90 CMs for 'Wonda Coffee'. tokyohive. ngày 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  185. ^ “AKB48 becomes best-selling singles female artist ever in Japan”. Asahi Shimbun. ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014.
  186. ^ “AKB48's latest single 'Heart Ereki' sells over a million copies in one day”. tokyohive. ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  187. ^ “AKB48 score their 16th million-selling single”. tokyohive. ngày 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  188. ^ “King Records Official Site Give Me Five! profile” (bằng tiếng Nhật). King Records. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập 7 tháng 5 năm 2012.
  189. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập 25 tháng 3 năm 2012.
  190. ^ “SKE松井珠理奈、NMB渡辺美優紀がAKB48に期間限定加入”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập 25 tháng 3 năm 2012.
  191. ^ “SKE48 profile”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập 7 tháng 5 năm 2012.
  192. ^ a ă "AKB48公式ライバル"乃木坂46結成 一般公募でメンバー決定” (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập 22 tháng 8 năm 2011.
  193. ^ “Debut”. SGO48.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]