Anime

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Anime (Nhật: アニメ [a.ni.me] ()?), là từ mượn của tiếng Anh, từ chữ animation có nghĩa là "phim hoạt hình"), chỉ các bộ phim hoạt hình sản xuất tại Nhật Bản hay với phong cách Nhật Bản. Tại Nhật Bản, từ này chỉ có nghĩa là phim hoạt hình. Cũng giống như phim truyền hình, gồm nhiều thể loại khác nhau. Hiện nay anime chiếm 60% số lượng phim hoạt hình được sản xuất trên toàn thế giới[1]

Ở Nhật Bản, anime chủ yếu được phát trên các truyền hình tư nhân. Những bộ anime chiếu trên TV thường được phát theo mùa (season), được gọi là TV series, mỗi mùa thường bao gồm 10-13 tập, có những series chiếu cả 2 mùa (khoảng từ 22-26 tập) hay cũng có loại chiếu quanh năm như One Piece, Naruto, Bleach... Anime thường được chiếu vào buổi tối (khoảng từ 22 giờ đến 24 giờ), trên những kênh nổi tiếng như Tokyo TV, TBS. Sau khi đã công chiếu trên các kênh truyền hình, các công ty sản xuất anime thường cho lồng lại tiếng Anh và phát hành trên DVD tại thị trường nước ngoài để kiếm thêm lợi nhuận.

Nhật Bản là nước duy nhất mà khán giả vẫn thường đến rạp rất đông để xem những phim hoạt hình chiếu trên rạp. Những phim này có thể có cốt truyện hoàn toàn mới (như Mononoke Hime, hay Spirited Away), hoặc đôi khi chỉ là một phim rút gọn của một bộ TV series (Rahxephon hay Shakugan no Shana có nội dung giống y chang TV series, nhưng được rút gọn còn 95 phút). Hãng làm phim anime nổi tiếng nhất là Studio Ghibli.

Ngoài ra, các anime còn có thể có "OVA" (Original Video Animation), thường gồm khoảng 3 hay 4 tập. Những OVA này được phát hành thẳng ra thị trường trên DVD mà không chiếu trên TV bao giờ.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Bước khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Một cảnh trong Momotaro's Divine Sea Warriors (1944), thước phim anime đầu tiên trên màn ảnh rộng

Khác với manga, anime ra đời khá lâu về sau. Xuất phát ban đầu là từ khi hoạt hình phương Tây có những bước chuyển biến lớn và tạo ra được hàng loạt độc giả hâm mộ. Sau đó, các họa sĩ Nhật Bản đã bắt tay vào nghiên cứu cách làm hoạt hình. Anime đầu tiên là một đoạn phim rất ngắn được làm năm 1907, chỉ vỏn vẹn có 3 giây. Công việc này được bắt đầu từ năm 1914, nhưng mãi 4 năm sau, vào năm 1918, anime đầu tiên – Momotaro mới được ra đời. Mặc dù vậy, có lẽ là do không thu hút được nhiều người xem do bản thân chất lượng anime lúc đó và thị hiếu của người xem cũng không hướng về nên nền công nghiệp anime bị đình trệ cho đến khi Chikara To Onna No Yononaka – anime đầu tiên có lồng tiếng của Nhật Bản ra đời vào năm 1932.

Nhưng có lẽ đó vẫn là chưa đủ vì vào thời điểm này, hoạt hình phương Tây đã tự đưa mình lên những tầm cao mới khi hoạt hình của Công ty Walt Disney trở nên nổi tiếng và chứng tỏ được vị trí của mình ngang tầm với phim người thật.

Và có lẽ nếu không có một người thì không chỉ anime mà cả manga của Nhật Bản đều đã đi vào lãng quên. Người đã làm nên kì tích đó là Osamu Tezuka. Với những tác phẩm của mình, ông đã tạo ra nhiều sự thay đổi lớn cho nền hoạt hình Nhật. Với nét vẽ khá đơn giản, không thực sự phức tạp về chi tiết cá nhân cho nhân vật, manga của Osamu đã trở nên nổi tiếng ở Nhật. Nhưng không chỉ có một mình Osamu mà còn một người nữa đã đóng góp một phần quan trọng cho nền công nghiệp anime của Nhật, đó là Hiroshi Okawa người tạo lập ra hãng Toei Animation. Kéo theo đó là việc hợp tác giữa hãng và Osamu. Điều này đã đưa hàng loạt manga của Osamu lên anime.

Cách mạng Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Các giai đoạn khác nhau của việc hoàn thiện một hình vẽ theo phong cách anime và manga. Các giai đoạn (từ trái sang): phác thảo, chỉnh sửa, tô màu và làm bóng.

Trong suốt những năm 80 của thế kỷ 20, trào lưu Suparobo anime rất ăn khách, và thể loại mecha chiếm đa số những anime được sản xuất. Những anime về "Super Robot" này bắt đầu với Mazinger Z, và sau đó có hàng loạt như Getter Robo, Dancouga, nói chung đại loại là có một nhà bác học tạo được robo khổng lồ do một số cậu/cô bé lái, để chống lại người ngoài hành tinh xâm lăng. Ngày nay các fan gọi thể loại này là oldschool. Gần đây có một số nhà sản xuất cố gắng khôi phục thể loại Suparobo với những loạt anime như Gao Gai Gar, nhưng thất bại thảm hại.

Tiếp theo đó phải kể đến sự ra đời của loạt phim về robot Gundam. Loạt anime Gundam của hãng Sunrise tuy cũng là mecha, nhưng người lớn hơn, có cốt truyện sâu sắc và mô phỏng theo Chiến tranh thế giới thứ hai. Một bên là Amuro Ray, anh hùng của phe Earth Federation (tương tự như phe Đồng Minh), một bên là Char Aznable của Neo Zeon (tương tự như phe Trục). Loạt Gundam cổ điển đã đưa ra những vấn đề lớn và nghiêm túc, như hai phe đều là người, đều có theo đuổi lý tưởng riêng, đều có tình cảm chứ không chỉ là những anh hùng bắn bọn ngoài hành tinh gian ác rồi chiến thắng vui vẻ.Dù một số series mới như Gundam Seed Destiny bị chỉ trích khá nhiều nhưng loạt Anime này đã lấy lại được uy tín với series mới nhất Gundam 00 là một trong nhưng Anime được đón xem nhiều nhất tại Nhật cuối năm 2008.

Bộ anime đã làm thay đổi cả thể lại mecha chính là Neon Genesis Evangelion của hãng GAINAX do Hideaki Anno đạo diễn. Bộ phim ẩn chứa nhiều thông điệp mà các khán giả con nít không thể tiếp thu nổi. Chính vì vậy, khi mới chiếu lần đầu, NGE không được hâm mộ mấy, nhưng sau lại trở thành anime luôn xếp trong top 10 anime nổi tiếng nhất mọi thời đại. Macross cũng là một bộ thể loại mecha khá nổi tiếng trước đó. Anime dần có xu hướng có nhân vật trẻ con hơn là người lớn, và ít bạo lực đẫm máu hơn.

Bộ anime Cowboy Bebop đã đạt được danh tiếng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài, nhờ phong cách cowboy đặc sắc và nhạc jazznhạc blues. Kéo theo sau đó là hàng loạt phim như Akira, Ninja Scroll, Ghost in the shell... Các hãng phim thi nhau nhảy vào thị trường và các thể loại của anime cũng do đó mà tăng dần. Những anime như Fruits Basket, Tiny Snow Fairy Sugar, Ichigo Mashimaro hoàn toàn không có một chút bạo lực nào cả, đã chiếm được cảm tình nhiều fan hâm mộ, đa phần là nữ. Tuổi của người xem không chỉ dừng lại là trẻ em mà tiến dần đến với người lớn. Ông Taro Aso, chính khách Nhật thừa nhận mình cũng là người rất hâm mộ manga Rozen Maiden.

Cách tạo hình nhân vật cũng đã có nhiều thay đổi. Ngày nay, thay vì các nhân vật được vẽ tối, có gương mặt chi tiết khá giống kiểu cartoon của Mỹ, các nhân vật anime thường có tóc và quần áo màu sáng và rực rỡ hơn, khuôn mặt được vẽ đơn giản nhưng moe (xinh) hơn, với mắt to, mũi và miệng rất nhỏ. Những nhân vật kiểu chibi (nhỏ nhắn) thường được ưa chuộng. Phim hài cũng được ưa thích hơn, và anime thể loại mecha như Full Metal Panic! cũng đã rất thành công khi chuyển thể thành anime comedy với Full Metal Panic! Fumoffu.

Kịch bản anime cũng được chú trọng hơn, và những anime như Ergo Proxy có tính triết lý khá cao, hay Welcome to the NHK! đưa ra vấn đề xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều tốt đẹp, do có quá nhiều anime được sản xuất hàng năm, kịch bản đa phần là nhai lại các thể loại như harem và có cả những anime sao chép nội dung của phim khác như DearS là phim nhái Chobits. Thêm nữa, một số lượng lớn anime bạo lực nhảm nhí và vô số hentai khiến nhiều người nghĩ xấu về anime, như Microsoft viết: "Anime: a Japanese style of animated cartoon, often with violent or sexually explicit content" Microsoft® Encarta® 2007. © 1993-2006 Microsoft Corporation. All rights reserved.

Tác phẩm của fan hâm mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Một tấm hình do fan hâm mộ anime vẽ.

Đối với những fan không sống ở Nhật, việc chờ đợi những anime mới được phát hành sàn Mỹ hay châu Âu hay chiếu trên TV ở đấy là rất khó khăn. Thường cả năm sau khi chiếu ở Nhật, các anime mới được lồng tiếng Anh xong và phát hành ra nước ngoài. Đối với các fan ở các nước nghèo, rất hiếm. Và Fansub là cứu cánh cho các fan tội nghiệp này. Fansub là những anime được phụ đề tiếng Anh bởi những nhóm fan hâm mộ, được truyền tải qua Internet, thường dùng Bit Torrent. Quá trình làm một fansub như sau: hội fansub đó ít nhất phải có một người quen ở Nhật, khi người này xem anime trên TV sẽ thu lại, rồi tải lên mạng. Nhóm fansub sau đó phải dịch các đối thoại trong tập phim, rồi lồng phụ đề vào. Do đa phần các fan nghèo, nên họ dùng Torrent để cho các fan khác tải xuống. Với cách này, các fan hâm mộ ở ngoài nước Nhật có thể xem được phim mới chỉ sau một tuần. Tuy nhiên, các nhóm fansub thường ngừng việc làm khi các công ty anime đăng ký bản Mỹ. Và các bạn sau khi xem fansub, không nên bán lại cho người khác để kiếm lời, cũng như nên mua DVD chính hãng để ủng hộ các hãng làm anime.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Anime khác biệt rất nhiều so với các khuôn mẫu hoạt hình khác bởi phong cách nghệ thuật đa dạng của nó, các phương pháp hoạt họa, sự trình bày của nó và quá trình sản xuất. Một cách trực quan, anime là một hình thái nghệ thuật phong phú, bao hàm một sự rộng lớn các phong cách nghệ thuật, có sự khác nhau giữa từng người sáng tạo, từng họa sĩ, xưởng phim. Trong khi chưa có một phong cách nghệ thuật nào chiếm ưu thế vượt trội trong anime hoàn toàn, họ chỉ đóng góp một vài đặc tính giống nhau trong các thuật ngữ của kỹ thuật hoạt hình và thiết kế nhân vật.

Kỹ thuật hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Anime tiếp nối quá trình sản xuất đặc trưng của hoạt hình, bao gồm: storyboard (sắp xếp bảng truyện), diễn xuất giọng nói, thiết kế nhân vật, tô màu trên tấm nhựa (cel). Từ những năm 1990, họa sĩ hoạt họa đã tăng cường sử dụng hoạt hình máy tính (CGI) để cải thiện hiệu suất quá trình sản xuất. Các họa sĩ giống như Noburō Ōfuji đã đi tiên phong sớm nhất trong các tác phẩm anime, lựa chọn thử nghiệm và có sự phù hợp với những hình ảnh được vẽ trên bảng đen, hoạt hình stop motion (tĩnh vật) từ cắt giấy, hoạt hình rọi bóng.[2][3] Hoạt hình tô màu trên tấm nhựa (cel) dần dần phổ biến đến cho đến khi chiếm ưu thế các phương tiện truyền đạt. Trong thế kỷ 21, họ sử dụng nhiều kỹ thuật hoạt hình khác mà hầu hết bị giới hạn trong các phim ngắn độc lập,[4] bao gồm tác phẩm hoạt họa tĩnh vật dùng con rối được sản xuất bởi Tadahito MochinagaKihachirō Kawamoto và Tomoyasu Murata.[5][6] Máy tính đã được tích hợp vào quá trình sản xuất phim hoạt hình như Ghost in the Shell và Công Chúa Mononoke được kết hợp giữa tô màu trên tấm nhựa (cel) và những hình ảnh được máy tính tạo ra.[7] Fujifilm, một công ty lớn sản xuất cel hàng đầu, tuyên bố dừng việc sản xuất cel, gây ra sự hoảng loạn cho ngành công nghiệp về việc mua nhập khẩu cel.[8]

Trước khi tới thời đại kỹ thuật số, anime được sản xuất với các phương pháp hoạt hình truyền thống sử dụng một phép xấp xỉ tạo dáng gần đúng.[9][3] Phần lớn xu hướng anime sử dụng một ít các key frame để diễn đạt và nhiều hoạt họa in-between.[10] Chủ tịch Mitsushisa Ishikawa của Production I.G nói rằng phương pháp kết hợp giữa 2D và 3D được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp anime: vẽ trên giấy trước tiên, scan vào máy vi tính, sau đó thêm màu và các hiệu ứng; cơ bản vẫn là vẽ tay, đặc biệt không dùng cel nữa.[11]

Các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản đã đi tiên phong về các kỹ thuật limited animation, và đưa anime một đến một xu hướng các quy ước riêng biệt. Không giống như hoạt hình Disney - nơi nhấn mạnh về cử động, anime nổi bật về chất lượng nghệ thuật và cho phép kỹ thuật limited animation đền bù thiếu sót phần sử dụng thời gian về cử động. Các kỹ thuật như vậy thường được sử dụng không chỉ khi gặp hạn chót dự án, mà còn là những cách thức thuộc tính nghệ thuật.[12] Sự nhấn mạnh vị trí các cảnh quay anime vào việc đạt được góc nhìn 3 chiều, và background (hậu cảnh) góp phần trong cách tạo bầu không khí của tác phẩm.[13] Background (hậu cảnh) không phải lúc nào cũng được sáng tạo ra và đôi khi cũng dựa trên những địa điểm đời thực, như Lâu đài của Howl hay Suzumiya Haruhi.[14][15][16] Oppliger đã phát biểu rằng anime là một trong những phương tiện hiếm có - nơi đặt vào đồng thời một dàn diễn viên có các đặc tính nổi bật, thường lộ ra cái nhìn "gây rất nhiều ấn tượng".[17]

Các hiệu ứng điện ảnh của anime đã rất khác biệt với chính bản thân nó từ giai đoạn chuyển mình dựa trên hoạt hình Mỹ. Anime là cảnh phim nghệ thuật điện ảnh gần như do máy ảnh (camera) thực hiện, bao gồm việc đảo máy (panning), cách thu phóng (zooming), cự ly quay và các góc quay để phức hợp tính động lực học trong các cảnh phim mà sẽ khó khăn thực hiện trong đời thực.[18][19][20] Trong anime, hoạt họa được thực hiện trước khi diễn xuất âm thanh, trái ngược với hoạt hình Mỹ khi chọn diễn xuất âm thanh trước; điều này có thể gây ra một số lỗi nhép môi trong các phiên bản Nhật Bản.[21]

Ngành công nghiệp anime[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Công nghiệp anime
  • Hệ thống tương hỗ

Ngành công nghiệp anime có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều người. Trước hết là sự kết hợp giữa anime, manga và game visual novel. Khi một manga được khán giả hâm mộ và trở nên ăn khách, ngay lập tức nó được các công ty làm anime mua bản quyền và tạo thành anime phát lên TV. Nhóm họa sĩ CLAMP có rất nhiều manga được chuyển thành phim. Ngược lại, nếu anime với một cốt truyện mới trở nên nổi tiếng thì sẽ có hàng loạt manga nhiều tập được phát hành ăn theo, ví dụ như The Melancholy of Haruhi Suzumiya. Ngoài ra, những hãng làm game visual novel như TYPE-MOON hay Aqua Plus đã có nhiều game được chuyển thể sang anime như Tsukihime, FATE/Stay night, Comic Party, To Heart. Một số game như Super Robot Taisen cũng đã rất thành công khi ăn theo những loạt anime về robot. Ngược lại, những anime mới nổi tiếng như Zero no Tsukaima, Strawberry Panic! đã được chuyển thể thành game cho hệ máy PS2 không lâu sau khi chúng được phát trên TV.

  • Phân phối sản phẩm

Các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản thường phát sóng trực tiếp các bộ phim hoạt hình trên hệ thống đài truyền hình, hoặc chiếu trong hệ thống rạp. Sau đó, các xưởng phim hoạt hình đồng thời phát hành các phim anime truyền hình hoặc các phim điện ảnh anime ra thị trường Nhật Bản trên phiên bản DVD hoặc Bluray, thông qua các hệ thống bán hàng tại công ty hoặc hệ thống thương mại điện tử như amazon.com.[22][23] Nhật Bản cũng cấp phép bản quyền phát sóng trực tuyến trả tiền cho các sản phẩm tại thị trường nước ngoài với các đối tác như Crunchyroll, Funimation[24],... Các công ty được cấp phép bản quyền sẽ phân phối theo khu vực với các bản lồng tiếng hoặc phụ đề.[25] Khối các nước nói tiếng Anh thường phát hành các bản lồng tiếng Anh;[26] đặc biệt tại Việt NamHTV3, VTV6 thường hay phát sóng anime đã được cấp phép bản quyền trên truyền hình và có thể lồng tiếng Việt cho khán giả.[27] Tại Việt Nam chưa có hệ thống kinh doanh thương mại phân phối các sản phẩm anime.

Diễn viên lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Seiyū

Nói đến anime ngoài phần hình, không thể không nói đến phần tiếng. Đội ngũ diễn viên lồng tiếng (Seiyuu) là một lực lượng không thể thiếu. Họ là những người chuyên nghiệp được đào tạo trường lớp bài bản. Megumi Hayashibara là một diễn viên lồng tiếng cực kỳ nổi tiếng, và cũng là ca sĩ, thường thể hiện luôn các ca khúc trong phim. Cô nổi tiếng với vai Lina Inverse trong phim Slayers, hay Rei Ayanami trong Neon Genesis Evangelion.

Sáng tác nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Soundtrack của anime là một công việc có nhiều yêu cầu tại Nhật Bản. Do đó, mỗi một bộ phim anime thường có nhạc phim riêng, được các nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc cho anime viết. Các bài hát chủ đề thường được trình bày bởi các nhạc sĩ nổi tiếng hay các thần tượng ca nhạc Nhật Bản. Những bản nhạc này được dùng riêng cho mỗi anime đó, và sau đó được phát hành album gọi là OST (Original Soundtrack). Một số OSTs rất nổi tiếng là Cowboy Bebop, Vision of Escaflowne, Noir, hay .hack//SIGN. Những nhà soạn nhạc cho anime nổi tiếng có Yoko Kanno, hay Yuki Kajiura. Đặc biệt, một số anime không sử dụng bài hát tiếng Nhật mà là tiếng Anh, đôi khi có tiếng Hàn, và các ban nhạc nổi tiếng trên thế giới như OasisDuran Duran, Radiohead, Backstreet Boys.[28][29]

Hệ thống giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành công nghiệp anime có nhiều giải thưởng thường niên, nơi vinh danh các giải thưởng tốt nhất của năm. Các giải thưởng lớn thường niên tại Nhật Bản bao gồm: Ōfuji Noburō Award, Mainichi Film Award for Best Animation Film, giải thưởng Animation Kobe, giải thưởng Japan Media Arts Festival, Tokyo Anime AwardJapan Academy Prize for Animation of the Year. Tại Hoa Kỳ, các bộ phim anime cạnh tranh trong giải thưởng  ICv2.com Anime Awards.[30] Tại Mỹ cũng có giải thưởng American Anime Awards, nơi được thiết kế để công nhận sự vượt trội xuất sắc trong các tựa phim anime đã phát hành bởi ngành công nghiệp điện ảnh, giải thưởng được tổ chức một lần duy nhất vào năm 2006.[31] Các tác phẩm anime cũng được nhận đề cử và chiến thắng trong các giải thưởng không dành riêng cho anime, như giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất hoặc giải thưởng Gấu Vàng.

Khác biệt giữa animecartoon[sửa | sửa mã nguồn]

Anime Cartoon
Phim hoạt hình của Nhật, thường sẽ được lồng tiếng lại để phát sóng ở các nước khác, hoặc dùng phụ đề và đưa lên mạng nếu người xem thích nghe giọng nhân vật bằng tiếng Nhật. Phim hoạt hình của Mỹ, thường được phát sóng rộng rãi toàn cầu. Thường được phụ đề hoặc thuyết minh.
Có nhiều thể loại dành cho nhiều nhóm tuổi khác nhau, tùy thuộc vào nhóm đối tượng mà nhà sản xuất hướng tới Phù hợp với mọi lứa tuổi (trừ những bộ hạn chế về số tuổi nhưng có rất ít). Lượng fan hâm mộ rất đông.
Thường có cốt truyện rõ ràng nên không dài lắm. Mỗi tập anime (episode) trung bình dài 25 phút, kể cả đoạn giới thiệu đầu và cuối phim. Đoạn giữa thường có một khúc ngắt khoảng vài giây gọi là Eyecatch. Cốt truyện anime thường diễn ra và kết thúc trong khoảng từ 12 đến 26 tập. Tuy nhiên một số anime được kéo rất dài (như Naruto chẳng hạn). Thường không có cốt truyện rõ ràng dành cho cả một bộ phim mà cốt truyện được lồng ghép trong mỗi tập phim khác nhau hoặc chỉ mang tính chất giải trí.
Thường miêu tả cuộc sống đời thực (ngoại trừ các anime có đề tài phép thuật hay thần tiên). Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bộ thiếu thuyết phục khán giả vì hư cấu quá nhiều, chưa mang được tính chân thực. Thường mang tính giải trí và khoa học viễn tưởng nên hư cấu nhiều, sự chân thực thấp, hay xa rời với thực tế.
Thường có chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với cartoon. Dù truyền thống là vẽ bằng tay, nhưng gần đây các công ty thường chuyển cho các công ty con ở Hàn Quốc vẽ để giảm chi phí, hoặc dùng kỹ thuật 3D để hỗ trợ. Các nhà sản xuất anime thường dùng xảo thuật để giảm chi phí sản xuất, ví dụ như chiếu những góc quay che miệng nhân vật, để khỏi phải vẽ môi nhấp nháy. Cử động của môi các nhân vật anime cũng không bao giờ chi tiết như trong phim hoạt hình Mỹ. Tuy nhiên đặc biệt cũng có những anime có giá thành sản xuất cực đắt như Gunslinger Girl. Chi phí sản xuất thường cao do có những kỹ xảo đẹp mắt, khẩu hình từng nhân vật cũng được tinh chỉnh sao cho khớp như khẩu hình của người thật, kể cả khi nhân vật hát.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như Manga, Anime cũng được phân loại theo đối tượng người xem, bao gồm Kodomo (thuộc phạm trù trẻ nhỏ), shoujo (thuộc phạm trù thiếu nữ), shounen (phạm trù dành cho chàng trai trẻ tuổi) và một phạm vi đa dạng các thể loại hướng đến khán giả trưởng thành như Seinen (phạm trù cho nam giới trưởng thành) hay Josei (phạm trù cho nữ giới trưởng thành). Anime về shounen và shoujo thỉnh thoảng bao hàm các yếu tố phổ biến với những nhóm người vị thành niên của cả hai giới trong một nỗ lực để đạt được sự tán thưởng. Anime dành cho người trưởng thành có lẽ nổi bật là một nhịp độ chậm hơn hoặc một cốt truyện phức tạp hơn, nơi mà những khán giả trẻ hơn thường cảm thấy không hấp dẫn, cũng như những chủ đề và tình huống bao hàm mang tính trưởng thành.[32] Một nhánh nhỏ trong các tác phẩm anime dành cho người trưởng thành nổi bật với các yếu tố khiêu dâm và được gắn nhãn "R18" tại Nhật Bản, nhưng trên phương diện quốc tế thì những tác phẩm này đã được nhóm lại cùng với nhau dưới một thuật ngữ là hentai (tiếng Nhật ám chỉ "sự lầm lạc"). Ngược lại, một nhánh nữa của thể loại anime trong nhóm độ tuổi những người xem có sự kết hợp chặt chẽ giữa ecchi, các chủ đề giới tính hoặc sắc độ màu da mà không có những miêu tả của quan hệ tình dục, với tư cách được phân loại trong phương diện các thể loại mang tính hài hước hoặc harem; do tính phổ biến của chúng trong lứa tuổi những người trẻ và những người say mê anime trưởng thành, sự sáp nhập của các yếu tố ecchi trong anime được coi như là một khuôn bản của định dạng fan service.[33][34]

Sự phân loại gắn nhãn tiêu đề anime mang tính khác biệt ngay từ các thể loại khác nhau của hoạt hình và không được pha trộn bản thân nó để nhận diện dễ dàng.[35] Gilles Poitras đã so sánh việc gắn nhãn tiêu đề Gundam 0080, cùng sự miêu tả phức tạp của nó trong chiến tranh như là một anime "giant robot" (robot khổng lồ) tương tự đơn giản như việc gắn nhãn tiêu đề Chiến tranh và hòa bình là một "tiểu thuyết chiến tranh".[36] Khoa học viễn tưởng là một thể loại chủ yếu và bao gồm nhiều tác phẩm lịch sử quan trọng giống như Astro Boy của TezukaTetsujin 28-go của Yokoyama. Một thể loại lớn nữa trong khoa học viễn tưởng là mecha, với một loạt thương hiệu Gundam trở thành một khuôn mẫu mang tính biểu tượng.[37] Thể loại kỳ ảo bao gồm nhiều tác phẩm dựa trên truyền thuyết và văn học dân gian của cả phương Đông lẫn phương Tây; nhiều dẫn chứng bao gồm các câu chuyện cổ phong kiến Nhật Bản như InuYasha, hay sự mô tả các vị thần Bắc Âu tới Nhật Bản để bảo vệ một chiếc máy tính được gọi là Cây thế giới Yggdrasil trong Oh My Goddess!.[38] Thể loại bị chồng chéo trong anime cũng khá phổ biến, chẳng hạn như sự pha trộn giữa sự tưởng tượng và tính hài hước trong Dragon Half, hay sự hợp nhất óc hài hước tếu táo như trong anime tội phạm Lâu đài của Cagliostro.[39] Các phân loại khác dựa vào việc trong anime có cô gái phép thuật, harem, thể thao, võ thuật, phim chuyển thể từ văn học, tác phẩm đặc trưng nghiên cứu thời Trung Cổ[40] hoặc chiến tranh.[41]

Sự phân loại được nổi bật để thám hiểm chủ nghĩa tình yêu đồng giới. Khi mà nguyên bản gốc tính khiêu dâm trong thuật ngữ ngôn ngữ học gồm yaoi (tình dục đồng giới nam) và yuri (tình dục đồng giới nữ) là thuật ngữ khái quát, được sử dụng trên phương diện quốc tế để mô tả bất kỳ những nổi bật trong các chủ đề hoặc sự phát triển của những mối quan hệ tình dục đồng giới mang thiên hướng lãng mạn. Trước năm 2000, các nhân vật tình dục đồng giới đặc trưng được sử dụng cho hiệu ứng gây hài hước, nhưng một số tác phẩm đã miêu tả sinh động những nhân vật này khá đứng đắn hoặc giàu tình cảm.[42]

Các thể loại theo độ tuổi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kodomo: Phim anime cho trẻ em, khoa học viễn tưởng (như Chi's Sweet Home, Doraemon)
  • Shōjo (Shoujo): Phim anime dành cho thiếu nữ, thường thiên về tình cảm, câu chuyện tình yêu, tình bạn,... (như Fruits Basket, Kimi ni Todoke, Ao Haru Ride, Ore Monogatari, Orange)
  • Shōjo-ai (Shoujo ai): Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng, không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc, tình cảm (như Strawberry Panic!)
  • Shōnen (Shounen): Phim anime dành cho các chàng trai trẻ tuổi, thiên về các loại như khoa học viễn tưởng, thể thao, hành động, kinh dị và thường mang tính chất bạo lực, máu me (như Dragon Ball, One Piece)
  • Shōnen-ai (Shounen ai): Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, thường nhẹ nhàng, không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc, tình cảm (như Graviation, Super Lovers)
  • Seinen: Phim anime dành cho lứa tuổi thanh niên, trung niên, cụ thể nhằm vào những đối tượng nam 18 đến 30 tuổi, nhưng người xem có thể lớn tuổi hơn, với một vài bộ truyện nhắm đến các doanh nhân nam quá 40. Thể loại này có nhiều phong cách riêng biệt, nhưng thể loại này có những nét riêng biệt, thường được phân vào những phong cách nghệ thuật rộng hơn và phong phú hơn về chủ đề, có các loại từ mới mẻ tiên tiến đến khiêu dâm (như Akira, Berserk, Vagabond, Metropolis, Solanin, Gantz, Kaiba)
  • Josei hoặc Redikomi: Thể loại của manga hay anime được sáng tác chủ yếu bởi phụ nữ cho những độc giả nữ từ 18 đến 30. Josei manga có thể miêu tả những lãng mạn thực tế, nhưng trái ngược với hầu hết các kiểu lãng mạn lí tưởng của Shoujo manga với cốt truyện rõ ràng, chín chắn.
  • Seijin: Tương tự Josei nhưng dành cho nam giới.

Các thể loại đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thể loại nhạy cảm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adult: Phim anime có các cảnh nhạy cảm, chỉ phù hợp với lứa tuổi 17+ (như Seikon no Qwaser)
  • Ecchi: Phim anime thường có những cảnh hở hang để gây cười, dụ khán giả, nhưng không có cảnh sex (như Mahoromatic)
  • Erotic game (Eroge): chỉ video games hay computer games của Nhật Bản mà có các đặc điểm nội dung khiêu dâm, là một dạng trong artwork anime-style. Trong tiếng Anh, eroge được gọi là hentai games dựa theo định nghĩa từ hentai trong tiếng lóng của tiếng Anh. Nó đôi lúc được viết ngắn lại thành H games. Ở Nhật Bản, Eroge chỉ tới những game 18+. Đa phần là Visual Novels hay dating sims nhưng không chỉ giới hạn nhiêu đó. Nói tóm lại, miễn game đó có chứa nội dung 18+ mặc cho có cốt truyện thế nào đi nữa thì đều vẫn liệt vào hàng eroge.
  • Hentai: Phim anime bao gồm sex, quan hệ thể xác giữa những người khác giới, chứa nội dung 18+ (cấm trẻ em dưới 18 tuổi) (như Akiba Girls, La Blue Girl, Yosuga no Sora)
  • Mature: Thể loại dành cho lứa tuổi 17+ bao gồm các pha bạo lực, máu me, chém giết, tình dục ở mức độ vừa (như Dakara Boku wa, H ga Dekinai)
  • Soft Yaoi: Nặng hơn Shounen-ai.
  • Yaoi: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, có thể có cảnh sex (như Boku no pico)
  • Yuri: Phim anime về đồng tính nữ, có thể có cảnh sex (như Kannazuki no Miko)

Tính cách nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tsundere[sửa | sửa mã nguồn]

Họ là những cô gái bên ngoài rất mạnh mẽ, thậm chí có phần bạo lực nhưng bên trong lại rất e thẹn, nhút nhát, yếu đuối. Các nhân vật có tính cách này thường được nhiều người yêu thích. Một trong những điều mà rất nhiều bạn nhầm là tsundere là các nhân vật hoàn hảo nhưng thật ra mẫu nhân vật hoàn hảo thường rơi vào dạng coodere hoặc dandere nhiều hơn. Tsundere còn có thể chia làm 3 nhánh nhỏ là: 

  • Classic Tsundere: Bạo lực từ trong ra ngoài, hợp với các bạn có máu M. Các nhân vật này có 2 chế độ nhất định: tsun (mạnh mẽ) và dere (nhút nhát), và một khi đã chuyển chế độ rồi thì không có chuyện chuyển lại nữa (trừ lúc ghen). Có thể xem các nhân vật kiểu này là dòng điện 1 chiều vậy. Ví dụ: Nhân vật Aisaka Taiga trong Toradora (Được mệnh danh là Queen of Tsundere)
  • Modern Tsundere: Các nhân vật dạng này thường thay đổi tính cách cũng như tâm trạng nhanh chóng mặt. Có thể họ vừa đỏ mặt e thẹn đó nhưng chỉ vài giây sau, nhân vật chính có thể ăn nguyên... một quyển từ điển (hay thứ gì đó ném được) vào mặt mà không được báo trước. Tuy nhiên đặc điểm này cũng là thứ làm cho những nhân vật kiểu này trở nên lôi cuốn một cách lạ kì với nhiều bạn (đó là lý do điện xoay chiều luôn cho công suất cao hơn dòng 1 chiều). Ví dụ: Nhân vật Fujibayashi Kyou trong Clannad.
  • Mayadere: Trái với tsundere, những nhân vật này bình thường rất hiền, có khi yếu đuối, họ thường rất chung thủy, khi đã yêu ai thì không thay lòng, nhưng khi phát hiện người mình yêu đang cặp với ai đó thì lập tức trở nên hoàn toàn khác, họ điên lên và có khi giết cả tình địch của mình. Một khái niệm có thể ít người biết, có thể xem mayadere là con lai giữa tsundere và yandere. Các nhân vật dạng này luôn tìm cách lấy mạng của nhân vật chính cho đến khi... phải lòng với cô ta. Tóm lại, họ là hàng nguy hiểm, đụng vào là xem như được ăn cả, ngã... xuống mồ.

Yandere[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một hình tượng trái ngược hoàn toàn với tsundere, bình thường họ rất hiền, tốt bụng và thậm chí yếu đuối. 1 đặc điểm rất chung của họ là rất chung thủy, nếu yêu 1 ai thì sẽ yêu người đó mãi mãi. Nhưng khi phát hiện ra người yêu mình đang bị dụ dỗ, hay cặp kè với ai khác, thì con người hiền lành kia sẽ trở nên hoàn toàn khác, họ điên lên và có khi giết cả tình địch của mình. Có thể xem yandere là một trạng thái rối loạn tâm lý bắt nguồn từ ý muốn độc quyền chàng hay nàng cho riêng mình mà thôi.Điển hình là nhân vật Gasai Yuno trong: "Mirai Nikki" được mệnh là Queen of Yandere.

Coodere (hay Kuudere)[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là kiểu nhân vật luôn giữ một vẻ ngoài lạnh lùng, chỉ nói khi thật sự cần thiết, cho đến khi họ tìm hiểu kĩ và tin tưởng một ai đó thì mới mở lòng mình ra với người đó. Ví dụ: Nhân vật Saber trong Fate/stay night (FSN), nhân vật Sakagami Tomoyo trong Clannad, nhân vật Tobiichi trong Date A Live chẳng hạn. Một số nhân vật khá nổi tiếng như Vietnam trong Hetalia cũng là điển hình.

Dandere[sửa | sửa mã nguồn]

Gần giống coodere nhưng khác ở chỗ vẻ ngoài lạnh lùng của cô/chàng ấy có thể không phải là lớp vỏ bọc mà chỉ đơn thuần là do ngại ngùng và khó giao tiếp mà thôi. Họ chỉ cảm thấy thoải mái trò chuyện với những người mình thực sự tin tưởng. Ví dụ: Nhân vật Nagato Yuki trong Suzumiya Haruhi no Yūutsu.

Toàn cầu hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Anime đã trở thành một ngành thương mại mang lại lợi nhuận cao trong khối các quốc gia phương Tây, điều này đã được khẳng định rõ ràng bằng việc thương mại hóa từ rất sớm các phiên bản chuyển thể của phương Tây từ anime, ví dụ như Astro Boy. Ngay từ thuở sơ khai, các phiên bản chuyển thể của người Mỹ trong những năm 1960 đã giúp Nhật Bản mở rộng vào sâu bên trong thị trường Châu Âu lục địa; đầu tiên là việc các sản phẩm hướng tới đối tượng trẻ em tại Châu ÂuNhật Bản như  HeidiVicky the Vicking hay Barbapapa đều được phát sóng ở nhiều nước khác nhau. Đặc biệt tại Ý, Tây Ban NhaPháp đã hình thành nên một sự ảnh hưởng tới sản lượng đầu ra của Nhật Bản, do giá thành bản quyền khá rẻ của nó và số lượng sản xuất phong phú. Đặc biệt khi Ý đã nhập khẩu hầu hết thị trường anime bên ngoài của Nhật Bản.[43] Sự ảnh hưởng mang tính đại chúng này đã gây ấn tượng, tạo thành một sự phổ biến của anime trong thị trường các nước Nam Mỹ, Ả RậpĐức.[44]

Bắt đầu từ năm 1980 đã chứng kiến sự xuất hiện của các phim anime Nhật Bản tiến sâu vào bên trong nền văn hóa người Mỹ. Trong những năm 1990, hoạt hình Nhật Bản dần dần đã đạt được tính phổ biến đại chúng tại Hoa Kỳ. Nhiều công ty truyền thông như Viz hay Mixx đã bắt đầu xuất bản và phát hành anime bản quyền bên trong thị trường Hoa Kỳ.[45] Sự phát triển của Internet cung cấp cho khán giả phương Tây cách thức dễ dàng hơn để truy cập tới những nội dung đặc trưng của Nhật Bản.[46] Điều này càng đặc biệt hơn trong trường hợp có các dịch vụ xem phim trực tuyến bản quyền như Netflix và Crunchyroll. Như là một kết quả trực tiếp tất yếu, nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh Nhật Bản đã tăng lên.

Phản ứng của người hâm mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Các hội nhóm/ câu lạc bộ anime nhanh chóng phát triển thành các hội nghị anime trong những năm 1990 với tên gọi "anime boom", một thời kỳ được đánh dấu bằng sự gia tăng tính phổ biến đại chúng của anime.[47] Các hội nghị này được dành riêng cho anime, manga và bao gồm nhiều yếu tố giống như các cuộc thi cosplay, đồng thời có những khách mời của ngành công nghiệp anime.[48] Cosplay là một từ lóng kết hợp của "costume play - hóa thân vào trang phục", và nó không chỉ độc nhất trong anime mà đã trở nên phổ biến trong các cuộc thi và các buổi dạ hội giả trang tại các hội nghị anime.[49] Ngôn ngữvăn hóa Nhật Bản đã đi sâu vào thói quen sử dụng tiếng Anh thông qua tính phổ biến đại chúng của truyền thông, bao hàm cả otaku - một thuật ngữ tiếng Nhật mang hàm ý xúc phạm, lại được sử dụng bình thường trong tiếng Anh để chứng tỏ là một người hâm mộ manga và anime.[50] Một từ khác nữa cũng được sử dụng rộng rãi để mô tả những người hâm mộ tại Hoa Kỳ là "wapanese", có nghĩa là "những kẻ tây lông trắng bệch" - những kẻ khao khát lố bịch nhằm trở thành một người Nhật; hoặc còn được biết dưới tên gọi "weeaboo" nhằm ám chỉ những kẻ bộc lộ "một sự hứng thú đến cuồng dại" trong nhóm văn hóa anime Nhật Bản, nơi mà thuật ngữ này được hình thành như một sự sỉ nhục, bao hàm các bài viết đã được đăng trên bảng thông báo từ trang website diễn đàn hình ảnh 4chan.[51] Những người yêu thích anime thường tạo ra fan fictionfan art, bao gồm cả các bản vẽ đồ họa máy tính cùng với anime music video.[52]

Một khảo sát tại Nhật Bản về suy nghĩ của người Nhật với anime, họ nói rằng anime lấy chất liệu từ cuộc sống gần gũi với đời thực,[53][54][55] và một số địa danh đã trở thành địa điểm du lịch.[56][57][58][59][60] Nhật Bản chịu ảnh hưởng của anime vào sâu trong đời sống xã hội như hình thức manga cafe (quán cà phê manga)[61][62][63][64], ô tô mang phong cách hoạt hình.[65][66] Thảo luận trên Anime News Network của người Mỹ khi xem bài phỏng vấn của người Nhật thì có nhận xét rằng "Anime và manga rất dễ khiến bạn phung phí cả thời gian và tiền bạc một cách mất kiểm soát".[67] Nhiều phim điện ảnh Hollywood bị ảnh hưởng bởi cách xây dựng cốt truyện và kịch bản từ anime.[68][69][70][71][72][73]

Phản ứng từ truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông Trung Quốc đưa tin Bộ Văn Hóa Trung Quốc đã cấm phát hành một số sản phẩm từ Nhật Bản với lý do nhằm “bảo vệ sự phát triển của tuổi trẻ nước nhà”.[74][75] Một bài báo tại Việt Nam phản ánh về lịch chiếu anime trên truyền hình ảnh hưởng đến trẻ nhỏ,[76] một số ý kiến nhận định bài viết chưa có sự tìm hiểu kỹ càng về cách phân loại đối tượng người xem,[77] một bài viết khác chỉ ra đài truyền hình cần gắn nhãn cảnh báo độ tuổi cho khán giả, nhấn mạnh phụ huynh cần tra cứu phân loại độ tuổi chương trình trên các trang bách khoa điện ảnh và nêu ra những điểm tích cực mà anime mang lại.[78][79] Trong một cuộc họp của Ủy ban Sở hữu trí tuệ năm 2016Thủ tướng Nhật Bản Shinzou Abe tuyên bố bảo vệ doujinshi trước luật bản quyền khi Nhật Bản tham gia Hiệp định TPP.[80][81][82][83][84][85] Nhật Bản đã tổ chức nhiều sự kiện liên hoan phim hoạt hình Nhật Bản tại Việt Nam.[86][87][88] Anime và manga còn là phương tiện truyền bá văn hóa Nhật Bản ra nước ngoài, tạo nên một hình ảnh Cool Japan trong lòng cộng đồng quốc tế.[89][90][91]

Trong một nghiên cứu năm 2015 được thực hiện bởi Vụ văn hóa của chính phủ Nhật Bản cùng với Hiệp hội những nhà sáng tạo hoạt họa Nhật Bản (JAniCA) về các tiêu chí như: điều kiện làm việc, thu nhập trung bình và giờ làm việc của các họa sĩ mới trong ngành công nghiệp hoạt hình Nhật Bản. Nghiên cứu chỉ ra cường độ làm việc áp lực cao 11 giờ mỗi ngày với người mới vào nghề, không hề có thời gian nghỉ ngơi, thu nhập kiếm được khoảng 1,1 triệu yên Nhật (khoảng 9.200 USD/năm), thấp hơn cả một nhân viên văn phòng, ngủ lại ở công ty khá phổ biến.[92][93][94][95][96][97] Cựu nhà làm phim hoạt hình Kamimura Sachiko (City Hunter, loạt phim điện ảnh Doraemon) đã nhận xét “nhiều nhà làm phim trẻ mới ra trường đột nhiên bị đẩy vào một nghề mà họ thậm chí không thể kiếm ăn”, mức lương khởi điểm gây sốc nhất của ngành công nghiệp anime khoảng 120 yên Nhật (US $1) mỗi giờ.[98][99][100][101][102][103] Một thảo luận trên trang Anime News Network nhận xét những người hoạt động trong ngành công nghiệp anime ngồi gò bó nhiều giờ trên bàn làm việc, hầu như không đi lại hay di chuyển, dùng thức ăn nhanh và đồ uống ở tiệm tạp hóa, kéo theo những tổn hại về sức khỏe, một số phải nhập viện vì áp lực.[104][105] Trên website Mag2 tại Nhật Bản, một người giấu tên có 20 năm kinh nghiệm trong ngành công nghiệp anime chia sẻ: nhiều họa sĩ hoạt họa phụ trách mảng animation (freelancer) thường làm việc tại nhà, yêu cầu trợ lí chạy việc (animation runner) suốt ngày lái xe qua lại giữa họa sĩ và xưởng làm phim, để thu thập từng khung hình hoàn chỉnh;[106] họ thực hiện nhiều dự án của các xưởng phim khác cùng một lúc, thường xuyên đối mặt với hạn chót hoàn thành dự án; chương trình được lên sóng đúng thời gian là một "điều kỳ diệu".[107][108][109]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “an·i·me”. Longman English Dictionary Online. 2012. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ "Tribute to Noburō Ōfuji" (PDF). 
  3. ^ a ă “The Silhouette Film”. 
  4. ^ "Beyond Anime: A Brief Guide to Experimental Japanese Animation". 
  5. ^ "Tomoyasu Murata and Company". 
  6. ^ "Interview with Kihachirō Kawamoto". 
  7. ^ “Poitras 2000”. 
  8. ^ “Poitras 2000”. 
  9. ^ “Mãn nhãn với kĩ thuật làm hoạt hình của Nhật Bản.”. 
  10. ^ "A Look at Key Animation". 
  11. ^ “Sự lựa chọn giữa 2D và 3D trong hoạt hình - Chủ tịch Production I.G Mitsushisa Ishikawa và Hayao Miyazaki của Studio Ghibli”. 
  12. ^ “Chicks on Anime - Sep 16th 2008”. 
  13. ^ “Manga! Manga!: The World of Japanese Comics (Reprint ed.). Tokyo, Japan”. 
  14. ^ “The Story Behind the "Mob Psycho 100" Ending Sequence: Miyo Sato and Paint-On-Glass Animation.”. 
  15. ^ “Reference pictures to actual places”. 
  16. ^ “Cavallaro 2006”. 
  17. ^ "Ask John: What Determines a Show's Animation Quality?". 
  18. ^ “Cinematography: Looping and Animetion Techniques”. 
  19. ^ “Anime production process - feature film”. 
  20. ^ “Poitras 2000”. 
  21. ^ “Poitras 2000”. 
  22. ^ “Interview: Kyoto Animation's Taichi Ishidate.”. 
  23. ^ “Phỏng vấn: Taichi Ishidate – Đạo diễn gốc animator của Kyoto Animation.”. 
  24. ^ “Press Releases - Archive.”. 
  25. ^ “A History of Japanese Anime on American Television.”. 
  26. ^ “Press Releases.”. 
  27. ^ “Phim hoạt hình nào sẽ có trong tháng 4 này?”. 
  28. ^ “Các anime có phần opening/ending là các ca khúc tiếng Anh, Hàn. (Phần 2)”. 
  29. ^ “Các anime có phần opening/ending là các ca khúc tiếng Anh, Hàn. (Phần 1)”. 
  30. ^ “Brenner (2007)”. 
  31. ^ “Brenner 2007”. 
  32. ^ “Poitras 2000”. 
  33. ^ “Brenner 2007”. 
  34. ^ “Why Do Americans Hate Harem Anime?”. 
  35. ^ “Poitras 2000”. 
  36. ^ “Poitras 2000”. 
  37. ^ “Poitras 2000”. 
  38. ^ “Poitras 2000”. 
  39. ^ “Poitras 2000”. 
  40. ^ “Medievalism NOW” (PDF). 
  41. ^ “Poitras 2000”. 
  42. ^ “Poitras 2000”. 
  43. ^ "The Italian anime boom: The outstanding success of Japanese animation in Italy, 1978–1984". 
  44. ^ “Bendazzi 2015”. 
  45. ^ “Leonard, Sean (1 September 2005). "Progress against the law: Anime and fandom, with the key to the globalization of culture". International Journal of Cultural Studies. 8 (3): 281–305. 10.1177/1367877905055679.”. 
  46. ^ “Jump up to: a b Wurm, Alicia (February 18, 2014). "Anime and the Internet: The Impact of Fansubbing". 
  47. ^ “Poitras 2000”. 
  48. ^ “Brenner 2007”. 
  49. ^ “Brenner 2007”. 
  50. ^ “Brenner 2007”. 
  51. ^ “Davis, Jesse Christian. "apanese animation in America and its fans" (PDF). 
  52. ^ “Brenner 2007”. 
  53. ^ “FEATURE: Anime vs. Real Life! "Love Live! Sunshine!!" Part 1”. 
  54. ^ “FEATURE: Anime vs. Real Life! "Flying Witch" Part 3”. 
  55. ^ “FEATURE: Anime vs. Real Life! "Orange" Part 1”. 
  56. ^ “10 địa danh giải trí nổi tiếng tại Nhật Bản”. 
  57. ^ “Bản Tin Du lịch Nhật Bản”. 
  58. ^ “Ngày càng có nhiều du khách đến thăm các địa điểm nổi tiếng trong anime”. 
  59. ^ “Top 5 "thánh địa" đáng ghé thăm đối với fan anime chân chính”. 
  60. ^ “Vùng đất thánh anime mà các fan muốn tới thăm nhất? Goo đã chọn ra Top 20”. 
  61. ^ “Các dạng nhà nghỉ đặc biệt ở Nhật Bản: kì 3: Manga Cafe”. 
  62. ^ “Cà phê Manga tại Nhật Bản”. 
  63. ^ “Quán cà phê cho người mê truyện tranh Nhật Bản ở Hà Nội”. 
  64. ^ “Hệ thống quán Internet coffee comics tại Nhật”. 
  65. ^ “Ôtô phong cách hoạt hình ngày càng phổ biến tại Nhật Bản”. 
  66. ^ “Ôtô phong cách hoạt hình ngày càng phổ biến tại Nhật Bản”. 
  67. ^ “Sự lợi hại của anime/manga qua góc nhìn của fan Nhật và Mỹ.”. 
  68. ^ “Những phim đình đám của Hollywood "mượn" ý tưởng từ phim hoạt hình Nhật”. 
  69. ^ “16 Upcoming Hollywood Anime & Manga Adaptations”. 
  70. ^ “A brief history of Hollywood trying -- and mostly failing -- to adapt anime”. 
  71. ^ “Phim khoa học-viễn tưởng Hollywood đang ăn theo anime”. 
  72. ^ “8 lần Hollywood vay mượn ý tưởng kịch bản từ anime Nhật”. 
  73. ^ “Những bộ phim của Hollywood được lấy cảm hứng từ anime.”. 
  74. ^ “So, China just banned Attack on Titan, Sword Art Online, and 36 other Japanese anime.”. 
  75. ^ “Trung Quốc vừa ban lệnh cấm đối với Attack on Titan, Sword Art Online và 36 bộ anime khác của Nhật.”. 
  76. ^ “Lo ngại phim hoạt hình “bẩn” đầu độc trẻ thơ.”. 
  77. ^ “Vụ "anime 'bẩn' trên truyền hình" có đáng bị ném đá hội đồng?”. 
  78. ^ “Hoạt hình Nhật Bản – thế giới không chỉ dành cho trẻ con.”. 
  79. ^ “Có hay không Anime là phim hoạt hình “bẩn” ?”. 
  80. ^ “Akamatsu lên tiếng về vấn đề bản quyền trong TPP”. 
  81. ^ “Akamatsu Speaks Out Again About TPP's Copyright Issues”. 
  82. ^ “Nhật Bản xem xét việc sửa đổi luật bản quyền sau khi tham gia Hiệp định TPP”. 
  83. ^ “Japan Considers Revising Copyright Law Due to Trans-Pacific Partnership”. 
  84. ^ “Thủ tướng chính phủ Nhật Bản Shinzo Abe khẳng định: Với hiệp định TPP, doujinshi hoàn toàn hợp pháp”. 
  85. ^ “[News] Bùa hồi sinh: Nhật tuyên bố “bảo kê” doujinshi”. 
  86. ^ “Liên hoan phim hoạt hình Nhật Bản”. 
  87. ^ “Liên hoan phim Nhật Bản “Thổi làn gió mới! Phim truyện và hoạt hình Nhật Bản 2013””. 
  88. ^ “Nhật Bản 'khoe' 8 phim nổi tiếng trong LHP hoạt hình”. 
  89. ^ “Nghiên cứu Nhật Bản: Đối sách của Nhật Bản về sự gia tăng quyền lực mềm (từ năm 2000 đến nay)”. 
  90. ^ “Anime – Manga được coi như biểu tượng Cool Japan”. 
  91. ^ “Nhật Bản - Quảng bá văn hóa từ quá khứ đến hiện tại”. 
  92. ^ “Evangelion’s Hideaki Anno: Comments about ‘anime industry will collapse’ is a misunderstanding”. 
  93. ^ “庵野秀明、「日本のアニメは5年ほどで崩壊する」というニュースは「誤解」と反論”. 
  94. ^ “Đạo diễn Hideaki Anno (Evangelion) đính chính: “Ngành công nghiệp anime sẽ sụp đổ trong 5 năm” là một sự hiểu lầm”. 
  95. ^ “Xôn xao trước mức lương bèo bọt của nhân viên sản xuất anime”. 
  96. ^ “Ngành công nghiệp anime Nhật Bản: Miền đất hứa khắc nghiệt (P.2).”. 
  97. ^ “Ngành công nghiệp anime Nhật Bản: Miền đất hứa khắc nghiệt (P1).”. 
  98. ^ “Nhà sản xuất phim hoạt hình Henry Thurlow chia sẻ về nghề nghiệp của mình.”. 
  99. ^ “American Animator in Japan Offers His Take on the Industry's Wages and Work Environment”. 
  100. ^ “Sự thật tàn bạo về nghề nghệ sĩ hoạt hình (Animator) ở Nhật Bản”. 
  101. ^ “Sự thật phũ phàng của các nghệ sĩ hoạt hình ở Nhật Bản.”. 
  102. ^ “Animation Veteran Claims That Industry Newcomers Only Make 120 Yen An Hour.”. 
  103. ^ “Nhà làm phim hoạt hình kì cựu cho hay những người mới bước chân vào ngành công nghiệp này chỉ nhận được 120 yen mỗi giờ.”. 
  104. ^ “Japan’s Animation Industry Isn’t Just Tough, It’s “Illegally Harsh” Says American Artist”. 
  105. ^ “Tản Mạn: Cuộc Sống Của Những Người Trong Ngành Công nghiệp Anime”. 
  106. ^ “Lương thấp và làm việc quá tải đang hủy hoại ngành anime Nhật Bản”. 
  107. ^ “Tham quan IG Production và chu trình làm anime”. 
  108. ^ “Vì sao một số tập trong 1 Serries anime lại có phần animation kém?”. 
  109. ^ "THÓI QUEN XẤU ĐANG GIẾT CHẾT ANIME" - TỪ MỘT NGƯỜI TRONG CUỘC”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]