Quốc kỳ Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhật Bản
Flag of Japan.svg
Tên Nisshōki[1] hay Hinomaru[2]
Sử dụng Dân sựcờ nhà nước, Cờ hiệu dân sựnhà nước
Tỉ lệ 2:3[1]
Ngày ra đời 27 tháng 2 năm 1870 (thuyền kỳ dân sự theo Quy tắc số 57);
13 tháng 8 năm 1999 (quốc kỳ và cải biến nhỏ thiết kế)
Thiết kế Một đĩa hình mặt trời màu đỏ ở trung tâm của một nền trắng
Naval Ensign of Japan.svg
Biến thể của Nhật Bản
Sử dụng Cờ hiệu hải quân
Tỉ lệ 2:3[3]
Ngày ra đời Được giới thiệu lần đầu ngày 7 tháng 10 năm 1889; tái thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1954
Thiết kế Húc Nhật kỳ được JMSDF sử dụng; nền trắng với đĩa màu đỏ cùng 16 tia kéo dài tư đĩa đến các cạnh.

Quốc kỳ Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本の国旗) là một hiệu kỳ hình chữ nhật màu trắng với một đĩa tròn màu đỏ lớn (đại diện cho mặt trời) tại trung tâm. Quốc kỳ được gọi chính thức là Nisshōki (日章旗 (Nhật chương kỳ)?) trong tiếng Nhật, song được gọi thông tục hơn là Hinomaru (日の丸 (Nhật chi hoàn)?). Cờ là hiện thân của đất nước Mặt trời mọc.

Nisshōki được chỉ định làm quốc kỳ theo Đạo luật về Quốc kỳ và Quốc ca được công bố và có hiệu lực vào ngày 13 tháng 8 năm 1999. Mặc dù trước đó không có pháp luật chỉ định về quốc kỳ, song hiệu kỳ mặt trời vẫn là quốc kỳ trên thực tế của Nhật Bản. Thái chính quan ban hành hai quy tắc vào năm 1870, mỗi quy tắc có một điều khoản về thiết kế của quốc kỳ. Theo Tuyên bố số 57 Minh Trị 3, ngày 27 tháng 2 năm 1870,[4] hiệu kỳ mặt trời được thông qua làm hiệu kỳ sử dụng trên thương thuyền, và theo Tuyên bố 651 Minh Trị 3 ngày 27 tháng 10 cùng năm,[5] là quốc kỳ sử dụng trong Hải quân. Việc sử dụng Hinomaru bị hạn chế nghiêm ngặt trong những năm đầu Hoa Kỳ chiếm đóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai; những hạn chế này sau đó được nới lỏng.

Mặt trời đóng một vai trò quan trọng trong thần thoại và tôn giáo của người Nhật Bản, khi thiên hoàng được cho là hậu duệ trực tiếp của nữ thần mặt trời Amaterasu và tính hợp pháp của nhà cai trị dựa trên cuộc hẹn thiêng liêng này và xuất thân từ vị thần đứng đầu của Shinto. Tên của đất nước cũng như các thiết kế của lá cờ phản ánh tầm quan trọng trung tâm này của mặt trời. Lịch sử cổ đại Shoku Nihongi nói rằng Thiên hoàng Monmu đã sử dụng một lá cờ tượng trưng cho mặt trời trong triều đình của mình vào năm 701, và đây là lần đầu tiên một lá cờ họa tiết mặt trời được sử dụng ở Nhật Bản. Lá cờ lâu đời nhất được bảo tồn trong đền Unpō-ji, Kōshū, Yamanashi, có tuổi đời hơn thế kỷ 16, và một truyền thuyết cổ nói rằng lá cờ đã được Thiên hoàng Go-Reizei trao cho ngôi đền vào thế kỷ thứ 11.[6][7][8] Trong cuộc Minh Trị Duy tân, cả đĩa mặt trời và Húc Nhật kỳ của Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã trở thành những biểu tượng quan trọng trong sự nổi lên của Đế quốc Nhật Bản. Áp phích tuyên truyền, sách giáo khoa và phim mô tả lá cờ là nguồn tự hào và lòng yêu nước. Trong các gia đình ở Nhật Bản, công dân được yêu cầu trưng bày cờ trong các ngày lễ quốc gia, lễ kỷ niệm và các dịp khác theo quyết định của chính phủ. Các dấu hiệu khác nhau dành cho Nhật Bản và thiên hoàng có họa tiết Hinomaru trở nên phổ biến trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai và các cuộc xung đột khác.

Quan niệm của công chúng ở Nhật về quốc kỳ là khác nhau. Đã từ lâu, cả hai nguồn tin phương Tây và Nhật Bản đều khẳng định lá cờ là một biểu tượng mạnh mẽ và bền bỉ đối với người Nhật. Kể từ khi kết thúc Thế chiến II (Chiến tranh Thái Bình Dương), việc sử dụng quốc kỳ và quốc ca Kimigayo đã là một vấn đề gây tranh cãi cho các trường công lập ở Nhật Bản. Tranh chấp về việc sử dụng của họ đã dẫn đến các cuộc biểu tình và các vụ kiện. Cờ không được hiển thị thường xuyên ở Nhật Bản do sự liên kết của nó với chủ nghĩa bành trướng. Đối với một số người dân Okinawa, lá cờ đại diện cho các sự kiện trong Thế chiến II và sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ sau đó. Đối với một số quốc gia đã bị Nhật Bản chiếm đóng, lá cờ là biểu tượng của sự xâm lược và chủ nghĩa đế quốc. Hinomaru được sử dụng như một công cụ chống lại các quốc gia bị chiếm đóng vì mục đích đe dọa, khẳng định sự thống trị của Nhật Bản hoặc sự khuất phục. Một số biểu ngữ quân sự của Nhật Bản dựa theo Hinomaru, bao gồm cả biểu tượng hải quân. Hinomaru cũng đóng vai trò như một khuôn mẫu cho các lá cờ Nhật Bản khác trong sử dụng công cộng và tư nhân.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1900[sửa | sửa mã nguồn]

Hạm đội Kuki Yoshitaka vào năm 1594.
Chiến hạm Asahi Maru của Mạc phủ Tokugawa vào năm 1856.
Cờ Nhật Bản (1870-1999).

Chưa biết về nguồn gốc chính xác của Hinomaru,[9] song mặt trời mọc dường như đã có một số ý nghĩ tượng trưng kể từ đầu thế kỷ 7. Năm 607, một quốc thư bắt đầu bằng "nhật xuất xứ thiên tử" (thiên tử xứ mặt trời mọc) được gửi cho Tùy Dạng Đế.[10] Nhật Bản thường được gọi là "xứ mặt trời mọc".[11] Trong Bình gia vật ngữ (平家物語) từ thế kỷ 12 có chép rằng những samurai có những hình vẽ mặt trời trên quạt của họ.[12] Theo một truyền thuyết, khi người Mông Cổ xâm chiếm Nhật Bản trong thế kỷ 13, hòa thượng Nhật Liên (日蓮) trao một hiệu kỳ mặt trời cho Tướng quân để đem ra chiến trường.[13] Mặt trời cũng có liên hệ chặt chẽ với hoàng thất, do truyền thuyết kể rằng các thiên hoàng là hậu duệ của Amaterasu.[14][15]

Một trong những hiệu kỳ cổ nhất của Nhật Bản là tại chùa Unpo thuộc tỉnh Yamanashi. Theo truyền thuyết thì Thiên hoàng Go-Reizei trao nó cho Minamoto no Yoshimitsu và được xem là một bảo vật của gia tộc Takeda trong 1000 năm qua,[16]

Các hiệu kỳ được ghi nhận sớm nhất tại Nhật Bản có niên đại từ thời kỳ thống nhất vào cuối thế kỷ 16. Các hiệu kỳ thuộc về mỗi Daimyo và được sử dụng chủ yếu trên chiến trường. Hầu hết hiệu kỳ là các dải dài thường mang gia văn của Daimyo. Các thành viên trong cùng một gia tộc có những hiệu kỳ khác nhau để mang ra chiến trường. Các tướng lĩnh cũng có hiệu kỳ riêng của mình, hầu hết trong số đó khác biệt với hiệu kỳ của binh sĩ do chúng có hình vuông.[17]

Năm 1854, thời Mạc phủ Tokugawa, các thuyền của Nhật Bản được lệnh kéo Hinomaru nhằm phân biệt chúng với thuyền của ngoại quốc.[12] Trước đó, các kiểu khác nhau của Hinomaru được sử dụng trên những thuyền giao dịch với người Mỹ và người Nga.[9] Hinomaru được quy định là hiệu kỳ thương nghiệp của Nhật Bản vào năm 1870 và là quốc kỳ theo pháp luật từ năm 1870 đến năm 1885, đây là quốc kỳ đầu tiên được Nhật Bản thông qua.[18][19]

Mặc dù khái niệm về phù hiệu quốc gia còn xa lạ với người Nhật Bản, song chính phủ Minh Trị cần chúng để giao thiệp với thế giới bên ngoài. Điều này trở nên đặc biệt quan trọng sau khi Phó đề đốc Hoa Kỳ Matthew C. Perry đổ bộ lên vịnh Yokohama.[20] Chính phủ Minh Trị còn quy định thêm những biểu tượng nhận dạng cho Nhật Bản, trong đó có quốc ca Kimigayo và quốc huy.[21] Năm 1885, toàn bộ các pháp luật trước đó không được ban hành trong Công báo chính thức của Nhật Bản đều bị bãi bỏ.[22] Do quy định này, Hinomaru là quốc kỳ trên thực tế do không có pháp luật nào quy định về nó sau Minh Trị Duy tân.[23]

Những xung đột ban đầu và Chiến tranh Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

A family gathers around a young boy in a military uniform, surrounded by banners and flags. Some of the children also hold flags.
Hình ảnh những năm 1930 của một điểm tuyển sinh quân sự. Cờ được treo trên ngôi nhà và cầm trên tay của một số trẻ em.
Áp phích tuyên truyền xúc tiến hòa hợp giữa người Nhật, người Hánngười Mãn. Dòng chữ Hán tự đọc là (từ phải sang trái) "Nhật, Hoa, Mãn hiệp trợ thiên hạ thái bình".

Việc sử dụng quốc kỳ tăng lên khi Nhật Bản mưu cầu phát triển một đế quốc, Hinomaru hiện diện tại lễ sau những chiến thắng trong Chiến tranh Thanh-NhậtChiến tranh Nga-Nhật. Quốc kỳ cũng được sử dụng trong những nỗ lực chiến tranh trên toàn quốc.[24] Một phim tuyên truyền của Nhật Bản trong năm 1934 phác hoạ những quốc kỳ ngoại quốc là có thiết kế không hoàn chỉnh hoặc có khuyết điểm, còn quốc kỳ Nhật Bản thì hoàn toàn hoàn hảo.[25] Năm 1937, một nhóm thiếu nữ từ tỉnh Hiroshima thể hiện tình đoàn kết với những binh sĩ Nhật Bản chiến đấu tại Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật bằng cách ăn "bữa cơm quốc kỳ" gồm có một umeboshi tại trung tâm của một nền bằng cơm. Hinomaru bento trở thành biểu tượng chính của động viên và đoàn kết chiến tranh của Nhật Bản với những binh sĩ cho đến thập niên 1940.[26]

Hinomaru lại được sử dụng trong các lễ kỷ niệm khi Nhật Bản giành được những thắng lợi ban đầu trong Chiến tranh Trung-Nhật. Các binh sĩ Nhật Bản đều cầm quốc kỳ khi diễu hành.[24] Sách giáo khoa trong thời kỳ này cũng in Hinomaru cùng những khẩu hiệu khác nhau nhằm biểu đạt trung thành với Thiên hoàng và quốc gia. Lòng ái quốc được dạy như một đức tính cho thiếu nhi Nhật Bản. Những biểu hiện của lòng ái quốc, như trưng quốc kỳ hoặc kính bái Thiên hoàng thường nhật, đều là một phần của một "người Nhật tốt."[27] Hơn nữa,người Nhật rất coi trọng phép lịch sự.

Quốc kỳ là một công cụ của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản tại các khu vực Đông Nam Á bị chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai: nhân dân bản địa phải sử dụng quốc kỳ Nhật Bản,[28] và học sinh phải hát Kimigayo trong lễ thượng kỳ vào buổi sáng.[29] Các hiệu kỳ địa phương được phép sử dụng tại một số khu vực như Philippines, IndonesiaMãn Châu Quốc.[30] [31] [32] Trong một số thuộc địa như Triều Tiên, Hinomaru và những phù hiệu khác được sử dụng nhằm giáng người Triều Tiên xuống vị thế hạng hai trong đế quốc.[33] Đối với người Nhật, Hinomaru là "Nhật xuất kỳ sẽ soi sáng bóng tối của toàn thế giới."[34]

Thời kỳ Hoa Kỳ chiếm đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Hinomaru bị hạ xuống tại Seoul, Triều Tiên, vào ngày 9 tháng 9 năm 1945, thời điểm Nhật Bản đã đầu hàng.

Hinomaru là quốc kỳ Nhật Bản trên thực tế trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai và trong thời kỳ bị chiếm đóng.[23] Trong thời gian Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, cần phải có sự chấp thuận từ Tư lệnh Tối cao của Đồng Minh tại Nhật Bản là Douglas MacArthur để được treo Hinomaru.[35][36] Ban đầu có những hạn chế nghiêm ngặt về việc treo Hinomaru, song không đến mức độ cấm hoàn toàn.[23]

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các thuyền dân sự của Nhật Bản sử dụng một thuyền kỳ do Hoa Kỳ cấp.[37] Thuyền kỳ này được sửa đổi từ mã dấu hiệu "E", được sử dụng từ tháng 9 năm 1945 cho đến khi thời kỳ chiếm đóng kết thúc.[38] Thuyền của Hoa Kỳ hoạt động tại vùng biển Nhật Bản sử dụng hiệu kỳ dấu hiệu "O" sửa đổi làm thuyền kỳ.[39]

Ngày 2 tháng 5 năm 1947, Tướng Douglas MacArthur bãi bỏ việc cấm treo Hinomaru trong khu đất của Tòa Quốc hội Nhật Bản, tại Hoàng cư, tại dinh Thủ tướng và tại Tòa án Tối cao cùng với việc phê chuẩn Hiến pháp Nhật Bản mới.[40][41] Những hạn chế này được nới lỏng hơn nữa vào năm 1948, khi nhân dân được cho phép treo quốc kỳ trong những dịp quốc lễ. Đến tháng 1 năm 1949, những hạn chế bị bãi bỏ và bất cứ ai cũng có thể treo Hinomaru vào bất kỳ thời gian nào mà không cần sự cho phép. Kết quả là, các trường học và hộ gia đình được khuyến khích treo Hinomaru cho đến đầu thập niên 1950.[35]

Sau chiến tranh đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Hinomaru được kéo lên tại trụ sở Liên Hiệp Quốcthành phố New York, năm 1956.

Kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc kỳ Nhật Bản bị phê phán do có liên hệ với quá khứ quân phiệt của quốc gia. Sự phản đối tương tự cũng dành cho quốc ca hiện nay của Nhật Bản là Kimigayo.[16] Cảm nghĩ về tính tượng trưng của HinomaruKimigayo nhìn chung biến đổi từ một cảm giác ái quốc về "Đại Nhật Bản" sang Nhật Bản hòa bình và chống quân phiệt. Do biến đổi về tư tưởng này, quốc kỳ được sử dụng ít thường xuyên tại Nhật Bản ngay sau chiến tranh mặc dù những hạn chế bị bãi bỏ vào năm 1949.[36][42]

Do Nhật Bản bắt đầu tái lập vị thế bản thân về mặt ngoại giao, Hinomaru được sử dụng như một vũ khí chính trị tại hải ngoại. Trong một chuyến công du của Thiên hoàng HirohitoHoàng hậu Kōjun đến Hà Lan, một số công dân Hà Lan đốt Hinomaru với yêu cầu Thiên hoàng hồi quốc hoặc phải xét xử về việc những tù binh chiến tranh người Hà Lan thiệt mạng trong đại chiến.[43] Tại quốc nội, Hinomaru còn không được sử dụng trong hoạt động kháng nghị một hiệp định địa vị quân đồn trú mới được Hoa Kỳ và Nhật Bản đàm phán. Hiệu kỳ được những công đoàn và những người kháng nghị khác sử dụng phổ biến nhất là cờ đỏ cách mạng.[44]

Hinomaru và quốc ca lại gặp phải vấn đề khi Tokyo đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1964. Trước Thế vận hội, kích cỡ của hình mặt trời của quốc kỳ được cải biến một phần là do vòng mặt trời không được cho là nổi bật khi trưng cùng những quốc kỳ khác.[36] Chuyên gia về màu sắc Tadamasa Fukiura lựa chọn đặt vòng tròn mặt trời chiếm 2/3 chiều cao của quốc kỳ. Fukiura cũng lựa chọn màu sắc cho thiết kế quốc kỳ năm 1964 cũng như trong Thế vận hội Mùa đông 1998 tại Nagano.[45]

Năm 1989, Thiên hoàng Hirohito băng hà, sự kiện này lại làm nổi lên vấn đề tinh thần của quốc kỳ. Phe bảo thủ cho rằng nếu quốc kỳ có thể được sử dụng trong tang lễ mà không cần khơi lại nỗi đau thương cũ, họ có thể có cơ hội đề đề xuất rằng Hinomaru trở thành quốc kỳ mà không bị thách thức về ý nghĩa của nó.[46] Trong tang kỳ chính thức kéo dài sáu ngày, các lá quốc kỳ được treo rủ hoặc bọc trong dải màu đen trên toàn Nhật Bản.[47] Mặc dù có những báo cáo về việc những người kháng nghị phá hoại Hinomaru trong ngày an táng Thiên hoàng,[48] song việc các trường học có quyền treo Hinomaru rủ mà không có hạn chế giúp đem đến thắng lợi cho phe bảo thủ.[46]

Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được thông qua vào năm 1999, lựa chọn HinomaruKimigayo làm những biểu tượng quốc gia của Nhật Bản.[49][50] Đạo luật là một trong những pháp luật gây tranh luận nhiều nhất trong Quốc hội kể từ khi thông qua "Pháp luật về hiệp lực với các hoạt động duy trì hòa bình Liên Hiệp Quốc" vào năm 1992.[51]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của Hinomaru

Quy tắc số 57 năm 1870 có hai điều khoản liên quan đến quốc kỳ, điều khoản đầu tiên quy định về người treo và cách treo, điều khoản thứ hai quy định về cách sản xuất quốc kỳ.[9] Tỷ lệ giữa chiều cao và chiều rộng là 7:10. Hình tròn màu đỏ tượng trưng cho mặt trời và có đường kính bằng ba phần năm tổng chiều dài đứng. Luật chế định hình tròn nằm tại trung tâm, song thường được đặt lệch 1% hướng về phía vận thăng.[52][53] Ngày 3 tháng 10 cùng năm, các quy định về thiết kế thương thuyền kỳ và các hải quân kỳ khác được thông qua.[54] Đối với thương thuyền kỳ, tỷ lệ giữa chiều cao và chiều rộng là 2:3. Kích cỡ hình tròn trong vẫn giữ nguyên, song hình tròn được đặt lệch 5% hướng về phía vận thăng.[55]

Khi Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được thông qua, kích thước của quốc kỳ có biến đổi nhỏ.[1] Tỷ lệ tổng thể của quốc kỳ chuyển thành chiều cao bằng 3:5 chiều rộng. Hình tròn đỏ chuyển dịch về chính tâm, song kích cỡ tổng thể của hình tròn vẫn không đổi.[2] Nền của quốc kỳ là màu trắng (白色, bạch sắc) và hình tròn mặt trời là màu đỏ (紅色, hồng sắc), song sắc độ chính xác không được định rõ trong pháp luật năm 1999.[1]

Cục Phòng vệ Nhật Bản (nay là Bộ Phòng vệ) vào năm 1973 định rõ đặc điểm kỹ thuật của màu đỏ trên quốc kỳ là 5R 4/12 và của màu trắng là N9 trong hệ màu Munsell.[56] Văn kiện này được thay đổi vào ngày 21 tháng 3 năm 2008 nhằm tương phối dựng hình của quốc kỳ với pháp luật hiện hành và hệ màu Munsell cập nhật. Văn kiện này quy định sợi acrylic và ni lông được sử dụng để sản xuất quốc kỳ sử dụng trong quân sự. Đối với acrylic, sắc độ màu đỏ là 5.7R 3.7/15.5 và màu trắng là N9.4; đối với ni lông sắc độ màu đỏ là 6.2R 4/15.2 và sắc độ màu trắng là N9.2.[56] Trong một văn kiện do Cơ quan viện trợ phát triển chính phủ (Nhật Bản) công bố, sắc độ màu đỏ của Hinomaru và biểu trưng của Cơ quan là DIC 156 và CMYK 0-100-90-0.[57] Trong những thẩm nghị về Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca, có đề nghị sử dụng sắc độ đỏ nhạt (赤色, xích sắc) hoặc hệ màu của quy cách công nghiệp Nhật Bản.[58]

Bảng màu[sửa | sửa mã nguồn]

Màu chính thức (trắng) Màu chính thức (đỏ) Hệ màu Nguồn Năm
     N9 [59]      5R 4/12 [59] Munsell DSP Z 8701C [56] 1973
N/A      156 [60] DIC Hướng dẫn dấu hiệu phù hiệu ODA [57] 1995
N/A      0-100-90-0 CMYK Hướng dẫn dấu hiệu phù hiệu ODA [57] 1995
N/A      186 Coated [61] Pantone Album des pavillons nationaux et des marques distinctives[62] 2000
N/A      0-90-80-5[61] CMYK Album des pavillons nationaux et des marques distinctives[62] 2000
     N9.4 (Acrylic) [59]      5.7R 3.7/15.5 (Acrylic) [59] Munsell DSP Z 8701E[56] 2008
     N9.2 (Nylon) [59]      6.2R 4/15.2 (Nylon) [59] Munsell DSP Z 8704E [56] 2008
N/A      032 Coated[61] Pantone Hướng dẫn lễ nghi Thế vận hội Mùa hè 2008 – hướng dẫn sử dụng cờ và Thế vận hội Mùa hè 2012 – Hướng dẫn về Cờ và Quốc ca (Phiên bản cuối cùng của SPP)[63] [64] 2008/2012

Sử dụng và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

Một lá cờ có chữ "Vũ liên trường cửu" (久長連武 từ phải sang), cùng lời chúc của thân nhân và bằng hữu cho mỗi quân nhân Nhật Bản trong những chiến dịch thời Đế quốc.

Thời Chiến tranh thế giới thứ hai, có một phong tục phổ biến là bạn bè, bạn học và thân nhân của một quân nhân được triển khai sẽ viết vào một Hinomaru và tặng nó cho anh ta. Quốc kỳ cũng được sử dụng như một bùa vận khí tốt và một vật cầu nguyện quân nhân bình an trở về từ chiến trường. Một thuật ngữ về loại bùa này là Hinomaru Yosegaki (日の丸寄せ書き?).[65] Một truyền thống là các chữ viết không chạm vào hình mặt trời.[66] Sau những trận chiến, những quốc kỳ này thường bị đối phương đoạt lấy, hoặc sau đó được tìm thấy trên mình những quân nhân Nhật Bản tử chiến. Những quốc kỳ này trở thành vật kỷ niệm,[66] song ngày càng có nhiều quốc kỳ được gửi trả lại cho hậu duệ của những quân nhân Nhật Bản tử trận.[67]

Truyền thống viết vào Hinomaru như một bùa vận khí tốt vẫn tiếp tục, song có giới hạn. Hinomaru Yosegaki có thể xuất hiện trong những sự kiện thể thao nhằm thể hiện ủng hộ với đội tuyển quốc gia Nhật Bản.[68] Một thí dụ khác là dải buộc đầu hachimaki, vốn có nền trắng và một hình mặt trời đỏ tại trung tâm. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cụm từ "Tất thắng" (必勝 Hisshō?) hoặc "Thất sinh báo quốc" (七生報國) được viết trên hachimaki và được những phi công thần phong đeo. Điều này biểu thị rằng phi công nguyện hy sinh vì quốc gia.[69]

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, toàn bộ các hộ gia đình được yêu cầu treo Hinomaru vào những ngày quốc lễ.[23] Sau chiến tranh, việc treo quốc kỳ Nhật Bản hầu hết bị hạn chế trong các tòa nhà liên hệ với chính phủ quốc gia và địa phương như tòa thị chính; quốc kỳ hiếm khi xuất hiện tại các hộ gia đình hoặc tòa nhà thương mại,[23] song một số cá nhân và công ty chủ trương treo quốc kỳ trong những ngày lễ. Mặc dù chính phủ Nhật Bản khuyến khích công dân và dân cư treo Hinomaru trong những dịp quốc lễ, song việc này không mang tính pháp lý.[70][71] Theo thăm dò ý kiến của truyền thông dòng chính, hầu hết nhân dân Nhật Bản cảm giác Hinomaru là quốc kỳ ngay cả trước khi thông qua Pháp luật quốc kỳ và quốc ca vào năm 1999.[72] Nhật Bản không có luật hình sự hóa việc đốt Hinomaru, song đốt quốc kỳ ngoại quốc tại Nhật Bản là điều bất hợp pháp.[73][74]

Lễ nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ được công bố theo quy tắc 1 năm 1912 (treo rủ tưởng niệm Thiên hoàng).

Theo lễ nghi, quốc kỳ có thể treo từ bình minh cho đến hoàng hôn; các doanh nghiệp và trường học được phép treo quốc kỳ từ khi mở cửa đến khi đóng cửa.[75] Khi treo quốc kỳ Nhật Bản cùng quốc kỳ khác đồng thời, quốc kỳ Nhật Bản được đặt ở vị trí vinh dự và quốc kỳ ngoại quốc nằm ở bên phải, cả hai có kích cỡ bình đẳng. Khi treo cùng từ hai quốc kỳ khác trở lên, quốc kỳ Nhật Bản được xếp theo thứ thự của bảng chữ cái theo quy định của Liên Hiệp Quốc.[76] Khi các lá quốc kỳ không còn thích hợp để sử dụng, nó thường được đốt một cách kín đáo.[75] Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca không định rõ cách sử dụng quốc kỳ, song các tỉnh khác nhau lại ban hành các quy định riêng về việc sử dụng Hinomaru và các huyện kỳ của họ.[77][78]

Hinomaru có hai kiểu treo để tang, một là treo theo kiểu bán kỳ (半旗 (bán kỳ) Han-ki?) giống như tại nhiều quốc gia khác. Những Cơ quan của Bộ Ngoại giao treo bán kỳ trong thời gian tang lễ của một nguyên thủ quốc gia ngoại quốc.[79] Một kiểu treo rủ thay thế là điếu kỳ (弔旗 (Chō-ki)?), gắn thêm một dải băng màu đen ở phía trên lá quốc kỳ, kiểu này truy nguyên từ ngày 30 tháng 7 năm, 1912, khi Thiên hoàng Minh Trị băng hà và Nội các quyết định ban một sắc lệnh rằng quốc kỳ cần phải được treo để tang khi Thiên hoàng băng hà.[80] Nội các có thẩm quyền trong việc công bố treo quốc kỳ nhằm để tang.[81]

Hiệu kỳ có liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Quân kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) và Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản sử dụng một phiên bản có thiết kế mặt trời với tám tia màu đỏ hướng ra ngoài, gọi là Hachijō-Kyokujitsuki (八条旭日旗 (bát điều húc nhật kỳ)?). Một viền màu vàng nằm một phần quanh rìa lá cờ.[3]

Một biến thể nổi tiếng của thiết kế nhật chương (đĩa mặt trời) là nhật chương với 16 tia đỏ, từng được quân đội Nhật Bản sử dụng, đặc biệt là Lục quân Đế quốc Nhật BảnHải quân Đế quốc Nhật Bản. Thuyền kỳ (cờ hải quân) Jyūrokujō-Kyokujitsu-ki (十六条旭日旗 (thập lục điều húc nhật kỳ)?) được thông qua làm cờ chiến tranh lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 5 năm 1870, và được sử dụng đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945. Thuyền kỳ được tái thông qua vào ngày 30 tháng 6 năm 1954 và nay được sử dụng làm cờ hải quân của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF) và Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF).[3] Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản Katsutoshi Kawano nói rằng lá cờ là "niềm kiêu hãnh" của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản.[82] Do từng được sử dụng bởi Quân đội Đế quốc Nhật Bản, lá cờ này vẫn mang đến tình cảm tiêu cực ở Trung Quốc và Hàn Quốc.[83] Họ phản đối lá cờ này vì là biểu tượng gắn liền với chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến II. JMSDF cũng sử dụng một cờ hiệu vận hành. Được thông qua lần đầu tiên vào năm 1914 và được tái tuyên bố vào năm 1965, cờ hiệu này chứa một phiên bản đơn giản của biểu tượng cờ hải quân đặt cuối tàu, với phần lớn cờ có màu trắng. Tỷ lệ cờ hiệu nằm trong khoảng từ 1:40 đến 1:90.[84]

Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JASDF) được thành lập một cách độc lập vào năm 1952, chỉ có đĩa mặt trời đơn giản như biểu tượng của nó.[85] Đây là chi nhánh dịch vụ duy nhất có biểu tượng không theo Tiêu chuẩn Hoàng gia. Tuy nhiên, chi nhánh có một thiết kế để bay trên các căn cứ và trong các cuộc diễu hành. Thiết kế được tạo ra vào năm 1972, đây là lần thứ ba được JASDF sử dụng kể từ khi thành lập. Thiết kế chứa biểu tượng của chi nhánh tập trung trên nền màu xanh.[86]

Mặc dù không phải là quốc kỳ chính thức, cờ tín hiệu Z đóng vai trò chính trong lịch sử hải quân Nhật Bản. Vào ngày 27 tháng 5 năm 1905, Đô đốc Heihachirō Tōgō của tàu chiến Mikasa đang chuẩn bị giao chiến với Hạm đội Baltic của Nga. Trước khi Hải chiến Tsushima bắt đầu, Togo đã giương cờ Z trên Mikasa và để giao chiến với hạm đội Nga, với chiến thắng cho Nhật Bản. Kéo cờ nói với hải đoàn như sau: "Số phận của Hoàng gia Nhật Bản đặt vào trận chiến này; mọi cánh tay sẽ nỗ lực và làm hết sức mình." Cờ Z cũng được treo trên tàu sân bay Akagi vào đêm trước cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng, Hawaii, vào tháng 12 năm 1941.[87]

Cờ hoàng gia[sửa | sửa mã nguồn]

A golden flower centered on a red background
Tiêu chuẩn của Thiên hoàng.

Bắt đầu từ năm 1870, cờ được tạo ra cho Thiên hoàng Nhật Bản (lúc đó là Thiên hoàng Minh Trị), hoàng hậu và cho các thành viên khác trong hoàng tộc.[88] Lúc đầu, cờ của Thiên hoàng được trang trí công phu, với một mặt trời nằm ở trung tâm của mô hình. Thiên hoàng có những lá cờ được sử dụng trên đất liền, trên biển và trên xe ngựa. Gia đình hoàng gia cũng được cấp cờ để sử dụng trên biển và trên đất liền (một để cắm, và một cờ khi di chuyển). Các lá cờ trên xe ngựa là một bông hoa cúc đơn sắc với 16 cánh hoa, được đặt ở trung tâm của một nền đơn sắc.[54] Những lá cờ này đã bị loại bỏ vào năm 1889 khi Thiên hoàng quyết định sử dụng hoa cúc trên nền đỏ làm cờ của ông. Với những thay đổi nhỏ về sắc thái và tỷ lệ màu sắc, những lá cờ được thông qua vào năm 1889 vẫn được sử dụng bởi gia đình hoàng gia.[89][90]

Cờ của Thiên hoàng hiện tại là một bông hoa cúc 16 cánh màu vàng, tập trung trên nền đỏ với tỷ lệ 2:3. Hoàng hậu sử dụng cùng một lá cờ, hình dạng là đuôi én. Hoàng tử kế vị và công chúa kế vị sử dụng cùng một mẫu lá cờ, ngoại trừ với một bông hoa cúc nhỏ hơn và một đường viền màu trắng ở giữa các lá cờ.[91] Hoa cúc đã gắn liền với ngai vàng của Hoàng đế kể từ thời Thiên hoàng Go-Toba vào thế kỷ thứ 12, nhưng nó không trở thành biểu tượng độc quyền của ngai vàng cho đến năm 1868.[88]

Cờ địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Three flags fly in the sky.
Cờ quốc gia bay bên cạnh cờ của Okinawa and Thành phố Urasoe.

Mỗi tỉnh trong số 47 tỉnh tất cả của Nhật Bản có một lá cờ riêng, giống như quốc kỳ, bao gồm một biểu tượng - được gọi là mon - được đặt trên một mặt nền đơn sắc (trừ tỉnh Ehime, nơi nền được tô màu).[92] Có một số cờ tỉnh, như Hiroshima, phù hợp với thông số kỹ thuật của họ để làm lá cờ quốc gia (tỷ lệ 2:3, mon đặt ở trung tâm và 35 chiều dài của lá cờ).[93] Một số mon hiển thị tên tỉnh bằng chữ Nhật; một số khác được mô tả cách điệu về địa điểm hoặc một điểm đặc biệt khác của tỉnh. Một ví dụ về cờ của tỉnh là Nagano, ký tự katakana ナ (na) màu cam xuất hiện ở trung tâm của một đĩa trắng. Một cách giải thích của mon là biểu tượng na đại diện cho một ngọn núi và đĩa trắng là một cái hồ. Màu cam đại diện cho mặt trời trong khi màu trắng đại diện cho tuyết của khu vực.[94]

Đơn vị hành chính cấp hạt cũng có thể áp dụng cờ của riêng mình. Các thiết kế của cờ thành phố tương tự như cờ của tỉnh: một mon trên nền đơn sắc. Một ví dụ là lá cờ của Amakusa ở tỉnh Kumamoto : biểu tượng thành phố bao gồm ký tự Katakana ア (a) và được bao quanh bởi những con sóng.[95] Biểu tượng này được tập trung vào một lá cờ trắng, với tỷ lệ 2:3[96] Cả biểu tượng thành phố và cờ được thông qua năm 2006.[96]

Thiết kế khác[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc kỳ cũ của Nhật (1872–1887).

Ngoài những lá cờ được sử dụng bởi quân đội, một số thiết kế cờ khác được lấy cảm hứng từ quốc kỳ. Cờ Nhật Bản (cũ) trước đây bao gồm Hinomaru với một thanh ngang màu đỏ được đặt ở trung tâm của lá cờ. Ngoài ra còn có một vòng trắng mỏng xung quanh mặt trời đỏ. Sau đó, nó đã được thay thế bằng một lá cờ bao gồm dấu bưu điện 〒 màu đỏ trên nền trắng.[97]

Có hai lá cờ quốc gia được thiết kế gần đây giống với lá cờ Nhật Bản. Năm 1971, Bangladesh giành được độc lập từ Pakistan, và nước này đã thông qua một lá cờ quốc gia có nền màu xanh lá cây, được buộc bằng một đĩa tròn màu đỏ ngoài ở trung tâm có chứa bản đồ vàng của Bangladesh. Cờ hiện tại được thông qua vào năm 1972, đã bỏ bản đồ vàng và giữ các chi tiết còn lại. Chính phủ Bangladesh chính thức gọi đĩa đỏ là một vòng tròn;[98] màu đỏ tượng trưng cho máu đã đổ ra để tạo ra đất nước của họ.[99] Quốc đảo Palau sử dụng một lá cờ có thiết kế tương tự, nhưng cách phối màu hoàn toàn khác nhau. Trong khi Chính phủ Palau không trích dẫn lá cờ Nhật Bản như một ảnh hưởng trên lá cờ quốc gia của họ, Nhật Bản đã quản lý Palau từ năm 1914 cho đến năm 1944.[100] Các lá cờ của Palau mang màu sắc của trăng tròn trên nền màu xanh da trời.[101] Mặt trăng tượng trưng cho hòa bình và một quốc gia non trẻ trong khi nền màu xanh tượng trưng cho sự chuyển đổi của chính quyền Palau từ năm 1981 sang năm 1994, khi nó giành được độc lập hoàn toàn.[102]

Biểu tượng hải quân Nhật Bản cũng ảnh hưởng đến việc thiết kế các lá cờ khác. Một thiết kế cờ như vậy được sử dụng bởi Asahi Shimbun. Ở dưới cùng của lá cờ, một phần tư mặt trời được hiển thị. Ký tự kanji được hiển thị trên lá cờ, với màu trắng, bao gồm hầu hết mặt trời. Các tia sáng kéo dài từ mặt trời, xuất hiện theo thứ tự xen kẽ đỏ và trắng, đỉnh điểm là 13 sọc.[103][104] Lá cờ thường thấy tại Giải vô địch bóng chày trường trung học quốc gia, vì Asahi Shimbun là nhà tài trợ chính của giải đấu.[105] Các cờ cấp bậc và biểu tượng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản cũng dựa trên các thiết kế của họ trên biểu tượng của hải quân.[106]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b 国旗及び国歌に関する法律
  2. ^ a ă Consulate-General of Japan in San Francisco. Basic / General Information on Japan; ngày 1 tháng 1 năm 2008 [Retrieved ngày 19 tháng 11 năm 2009].
  3. ^ a ă â 自衛隊法施行令
  4. ^ Wikisource-logo.svg tại Wikisource.
  5. ^ 法令全書, Đạo luật số năm 1870 (bằng Japanese)
  6. ^ Yamanashi Tourism Organization. 日の丸の御旗 [Retrieved 2011-07-17].(tiếng Nhật)
  7. ^ Unpoji. 宝物殿の案内 [Retrieved 2011-07-17].(tiếng Nhật)
  8. ^ Little-Known Wars of Great and Lasting Impact: The Turning Points in Our History We Should Know More About. Fair Winds; 2009. ISBN 1-59233-375-3. p. 54.
  9. ^ a ă â Web Japan. Japanese Ministry of Foreign Affairs. National Flag and Anthem [PDF]; 2000 [Retrieved ngày 11 tháng 12 năm 2009].
  10. ^ Dyer 1909, tr. 24
  11. ^ Edgington 2003, tr. 123–124
  12. ^ a ă Itoh 2003, tr. 205
  13. ^ Feldman 2004, tr. 151–155
  14. ^ Ashkenazi 2003, tr. 112–113
  15. ^ Hall 1996, tr. 110
  16. ^ a ă Hongo, Jun. Hinomaru, 'Kimigayo' express conflicts both past and future. The Japan Times. ngày 17 tháng 7 năm 2007 [Retrieved ngày 11 tháng 1 năm 2008].
  17. ^ Turnbull 2001
  18. ^ Goodman, Neary 1996, tr. 77–78
  19. ^ “日の丸はいつ法律で定められたか。”. Truy cập 31 tháng 10 năm 2015. 
  20. ^ Feiler 2004, tr. 214
  21. ^ Ohnuki-Tierney 2002, tr. 68–69
  22. ^ Rohl 2005, tr. 20
  23. ^ a ă â b c Befu 1992, tr. 32–33
  24. ^ a ă Befu 2001, tr. 92–95
  25. ^ Nornes 2003, tr. 81
  26. ^ Cwiertka 2007, tr. 117–119
  27. ^ Partner 2004, tr. 55–56
  28. ^ Tipton 2002, tr. 137
  29. ^ Newell 1982, tr. 28
  30. ^ “LIFE”. Google Books. Truy cập 31 tháng 10 năm 2015. 
  31. ^ National Historical Institute. The Controversial Philippine National Flag [PDF]; 2008 [Retrieved ngày 19 tháng 1 năm 2010].
  32. ^ Taylor 2004, tr. 321
  33. ^ Goodman, Neary 1996, tr. 102
  34. ^ Ebrey 2004, tr. 443
  35. ^ a ă Bộ Giáo dục. 国旗,国歌の由来等; ngày 1 tháng 9 năm 1999 [archived ngày 10 tháng 1 năm 2008; Retrieved ngày 1 tháng 12 năm 2007]. (tiếng Nhật).
  36. ^ a ă â Goodman, Neary 1996, tr. 81–83
  37. ^ 吉田 藤人. 邦人船員消滅 [Retrieved ngày 2 tháng 12 năm 2007]. (tiếng Nhật).
  38. ^ “The Journal of Transport History”. Google Books. Truy cập 31 tháng 10 năm 2015. 
  39. ^ Carr, Hulme 1956, tr. 200
  40. ^ Yoshida, Shigeru. National Diet Library. Letter from Shigeru Yoshida to General MacArthur dated ngày 2 tháng 5 năm 1947; ngày 2 tháng 5 năm 1947 [Retrieved ngày 3 tháng 12 năm 2007]. (tiếng Nhật), (tiếng Anh).
  41. ^ “Letter from Douglas MacArthur to Prime Minister dated ngày 2 tháng 5 năm 1947(Text)”. Truy cập 31 tháng 10 năm 2015. 
  42. ^ Meyer 2009, tr. 266
  43. ^ Large 1992, tr. 184
  44. ^ Yamazumi 1988, tr. 76
  45. ^ Fukiura, Tadamasa (2009). ブラックマヨネーズ (TV). Japan: New Star Creation. 
  46. ^ a ă Borneman 2003, tr. 112
  47. ^ Chira, Susan. Hirohito, 124th Emperor of Japan, Is Dead at 87. The New York Times. ngày 7 tháng 1 năm 1989 [Retrieved ngày 30 tháng 1 năm 2010].
  48. ^ Kataoka 1991, tr. 149
  49. ^ Aspinall 2001, tr. 126
  50. ^ Vote in Japan Backs Flag and Ode as Symbols. The New York Times. ngày 23 tháng 7 năm 1999 [Retrieved ngày 13 tháng 10 năm 2010].
  51. ^ Williams 2006, tr. 91
  52. ^ 明治3年太政官布告第57号
  53. ^ Takenaka 2003, tr. 68–69
  54. ^ a ă 明治3年太政官布告第651号
  55. ^ Takenaka 2003, tr. 66
  56. ^ a ă â b c Bộ Phòng vệ. [1] [PDF]; ngày 27 tháng 11 năm 1973 [Retrieved ngày 9 tháng 7 năm 2009]. (tiếng Nhật).
  57. ^ a ă â Cơ quan viện trợ phát triển chính phủ (Nhật Bản). 日章旗のマーク、ODAシンボルマーク [PDF]; ngày 1 tháng 9 năm 1995 [Retrieved ngày 6 tháng 9 năm 2009]. (tiếng Nhật).
  58. ^ Thư viện Quốc hội Nhật Bản. 第145回国会 国旗及び国歌に関する特別委員会 第4号; ngày 2 tháng 8 năm 1999 [Retrieved ngày 1 tháng 2 năm 2010]. (tiếng Nhật).
  59. ^ a ă â b c d Hexadecimal obtained by placing the colors in Feelimage Analyzer
  60. ^ DIC Corporation. DICカラーガイド情報検索 (ver 1.4) [Retrieved ngày 15 tháng 9 năm 2009]. (tiếng Nhật).
  61. ^ a ă â Find a PANTONE color. Pantone LLC. Pantone Color Picker [Retrieved ngày 9 tháng 12 năm 2009].
  62. ^ a ă du Payrat A (2000). Album des pavillons nationaux et des marques distinctive. France: Service Hydrographique et Océanographique de la Marine. tr. JA 2.1. ISBN 2-11-088247-6. 
  63. ^ Flag Manual. Beijing, China: Beijing Organizing Committee for the Games of the XXIX Olympiad – Protocol Division. 2008. tr. B5. 
  64. ^ Flag and Anthems Manual (SPP Final Version). London, UK: The London Organising Committee of the Olympic Games and Paralympic Games Ltd. 2012. tr. 58. 
  65. ^ Thành phố Himeji, tỉnh Hyogo. 開催中の平和資料館収蔵品展から「日の丸寄せ書き」について [Retrieved ngày 25 tháng 9 năm 2009]. (tiếng Nhật).
  66. ^ a ă Smith 1975, tr. 171
  67. ^ McBain, Roger. Going back home. Courier & Press. ngày 9 tháng 7 năm 2005 [Retrieved ngày 25 tháng 9 năm 2009].
  68. ^ Takenaka 2003, tr. 101
  69. ^ Cutler 2001, tr. 271
  70. ^ Web Japan. Bộ Ngoại giao (Nhật Bản). 国旗と国歌 [PDF] [Retrieved ngày 11 tháng 12 năm 2009]. (tiếng Nhật).
  71. ^ “質問主意書:参議院”. 
  72. ^ Viện nghiên cứu Asahi. TV Asahi. 国旗・国歌法制化について; ngày 18 tháng 7 năm 1999 [archived ngày 23 tháng 5 năm 2008; Retrieved ngày 11 tháng 3 năm 2008]. (tiếng Nhật).
  73. ^ Lauterpacht 2002, tr. 599
  74. ^ Inoguchi, Jain 2000, tr. 228
  75. ^ a ă Sargo Flag Company. Flag Protocol [Retrieved ngày 15 tháng 1 năm 2008]. (tiếng Nhật).
  76. ^ Bộ Ngoại giao. プロトコール [PDF]; 2009-02 [Retrieved ngày 13 tháng 1 năm 2010]. (tiếng Nhật).
  77. ^ 国旗及び国歌の取扱いについて
  78. ^ 国旗及び県旗の取扱いについて
  79. ^ Bộ Ngoại giao (Nhật Bản). Page 1 「グローカル通信」平成21年5月号 プロトコール講座 [PDF]; 2009-05 [Retrieved ngày 20 tháng 1 năm 2010]. (tiếng Nhật).
  80. ^ 大正元年閣令第一号
  81. ^ Văn phòng nội các. Thư viện Quốc hội Nhật Bản. 全国戦没者追悼式の実施に関する件; ngày 14 tháng 5 năm 1963 [Retrieved ngày 26 tháng 1 năm 2010]. (tiếng Nhật).
  82. ^ “Japan to skip S. Korea fleet event over ‘rising sun’ flag”. The Asahi Shimbun (bằng tiếng en-US). 6 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018. 
  83. ^ 国际, 在线. 赵薇欲代言抗日网游洗刷"军旗装事件"之辱(图). Tân Hoa Xã. ngày 11 tháng 8 năm 2006 [Retrieved ngày 25 tháng 1 năm 2008]. tiếng Trung.
  84. ^ 海上自衛隊旗章規則
  85. ^ 〇海上自衛隊の使用する航空機の分類等及び塗粧標準等に 関する達
  86. ^ 自衛隊の旗に関する訓令
  87. ^ Carpenter 2004, tr. 124
  88. ^ a ă Fujitani 1996, tr. 48–49
  89. ^ Matoba 1901, tr. 180–181
  90. ^ Takahashi 1903, tr. 180–181
  91. ^ 皇室儀制令 [Imperial System] [archived 2008-12-08; Retrieved 2007-12-02]. (tiếng Nhật).
  92. ^ Government of Ehime Prefecture. 愛媛県のシンボル [Symbols of Ehime Prefecture]; 2009 [archived 2008-01-09; Retrieved 2010-01-03]. (tiếng Nhật).
  93. ^ 広島県県章および県旗の制定
  94. ^ Government of Nagano Prefecture. 長野県の県章 – 県旗 [Flag and Emblem of Nagano Prefecture]; 2006 [archived 2007-09-18; Retrieved 2007-12-02]. (tiếng Nhật).
  95. ^ 天草市章
  96. ^ a ă 天草市旗
  97. ^ Communications Museum "Tei Park". 郵便のマーク [archived 2013-01-02; Retrieved 2010-02-06]. (tiếng Nhật).
  98. ^ Prime Minister's Office, People's Republic of Bangladesh. People's Republic of Bangladesh Flag Rules (1972) [PDF]; 2005-07 [archived 2010-07-14; Retrieved 2010-01-13].
  99. ^ Embassy of Bangladesh in the Netherlands. Facts and Figures [archived 2011-07-24; Retrieved 2010-01-13].
  100. ^ Van Fossen, Anthony B.; Centre for the Study of Australia-Asia Relations, Faculty of Asian and International Studies, Griffith University. The International Political Economy of Pacific Islands Flags of Convenience. Australia-Asia. [Retrieved 2009-12-30];66(69):53.
  101. ^ Republic of Palau National Government. Palau Flag; 2008-07-18 [archived 2009-11-13; Retrieved 2010-01-13].
  102. ^ Smith 2001, tr. 73
  103. ^ Saito 1987, tr. 53
  104. ^ Tazagi 2004, tr. 11
  105. ^ Mangan 2000, tr. 213
  106. ^ Gordon 1915, tr. 217–218

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Luật[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]