Phim thảm họa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phim thảm họa là một thể loại phimthảm họa sắp xảy ra hoặc đang diễn ra với tư cách chủ đề chính. Những thảm hoạ như vậy bao gồm thiên tai như lụt lội, động đất hoặc va chạm với tiểu hành tinh, tai nạn như đắm tàu hoặc tai nạn máy bay, hoặc thiên tai như đại dịch trên toàn thế giới. Các bộ phim thường có một quá trình xây dựng mâu thuẫn, sau đó tới thiên tai, và đôi khi là hậu quả, thường là từ quan điểm của các nhân vật cụ thể hoặc gia đình của họ hoặc miêu tả các chiến thuật để sống còn của những người khác nhau.

Những bộ phim này thường có sự tham gia của nhiều diễn viên và nhiều cốt truyện, tập trung vào nỗ lực của các nhân vật để tránh né, trốn thoát hay đối phó với thảm hoạ và hậu quả của nó. Thể loại này đã thành công đặc biệt trong những năm 1970 với việc phát hành những bộ phim có tiếng tăm như: Airport (1970), sau đó một thời gian ngắn là  The Poseidon Adventure (1972), Earthquake (1974) và The Towering Inferno (1974).[1]

Các diễn viên nói chung bao gồm các diễn viên quen thuộc. Một khi thảm họa bắt đầu trong phim, nhân vật thường phải đối mặt với những điểm yếu của con người, thường bắt đầu quan hệ tình cảm và hầu như luôn luôn tìm được một kẻ xấu để đổ lỗi. Thể loại này đã được đổi mới trong những năm 1990 với sự hỗ trợ của công nghệ mô phỏng hình ảnh bằng máy tính (CGI) và ngân sách phòng thu lớn cho phép tập trung nhiều hơn vào việc phá hủy, và ít tập trung hơn vào cảm xúc con người, như trong những bộ phim của năm 1998 ArmageddonDeep Impact.[2] Tuy nhiên, các bộ phim thường có một nam anh hùng hoặc nữ anh hùng (Charlton Heston, Steve McQueen, v.v..) được kêu gọi để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại mối đe dọa này. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân "ác quỷ" hoặc "ích kỷ" là những người đầu tiên phải chịu đựng hậu quả của tai họa.[3]

Thể loại[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hồi sinh của các sản phẩm kinh phí lớn thuộc thể loại được hỗ trợ bởi những tiến bộ trong công nghệ CGI trong những năm 1990 bao gồm các bộ phim như Twister, Ngày Độc lập, Đường hầm rực lửa, Đỉnh Dante, Vocaldo, Mưa lớn, Deep ImpactArmageddon. Năm 1997, James Cameron đã sản xuất, kịch bản và đạo diễn một phiên bản của câu chuyện sử thi, Titanic. Bộ phim kết hợp các yếu tố lãng mạn với các hiệu ứng đặc biệt phức tạp và là một thành công lớn, trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất (trong mười hai năm) với hơn 2,1 tỷ đô la trên toàn thế giới,[4] và giành được 11 giải Oscar trong đó có Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BookRags, Disaster Movies”. bookrags.com. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ http://www.allrovi.com/movies/subgenre/disaster-film-d512
  3. ^ “Disaster Films”. Truy cập 12 tháng 10 năm 2017. 
  4. ^ “Box Office Mojo, Worldwide Grosses”. boxofficemojo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007. 
  5. ^ “Filmsite, Most Oscar Wins By Film”. filmsite.org. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Annan, David (1975). Catastrophe, the End of the Cinema?. Bounty Books. ISBN 0-517-52420-1. 
  • Broderick, Mick (tháng 1 năm 1992). Nuclear Movies: A Critical Analysis and Filmography of International Feature Length Films Dealing With Experimentation, Aliens, Terrorism, Holocaust. McFarland & Co. ISBN 0-89950-543-0. 
  • Dixon, Wheeler Winston. Disaster and Memory. Columbia University Press. ISBN 0-231-11316-1. 
  • Keane, Stephen (2006). Disaster Movies: The Cinema of Catastrophe. Wallflower Press. ISBN 1-905674-03-1. 
  • Newman, Kim (tháng 2 năm 2000). Apocalypse Movies: End of the World Cinema. St. Martin's Press. ISBN 0-312-25369-9. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]