Avatar (phim 2009)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Avatar
Avatar-Teaser-Poster.jpg
Áp phích chiếu rạp của phim
Đạo diễnJames Cameron
Sản xuất
Tác giảJames Cameron
Diễn viên
Âm nhạcJames Horner
Quay phimMauro Fiore
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hành20th Century Fox[2]
Công chiếu
  • 10 tháng 12, 2009 (2009-12-10) (London)
  • 18 tháng 12, 2009 (2009-12-18) (Hoa Kỳ)
  • 18 tháng 12, 2009 (2009-12-18) (Việt Nam)
Độ dài
162 phút[3]
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí237 triệu USD[4]
9 triệu USD (tái phát hành)[5]
Doanh thu2,847 tỷ USD
← Phim trước
Phim sau →
Avatar 2

Avatar là một bộ phim khoa học viễn tưởng của Mỹ[6][7] năm 2009 do James Cameron viết kịch bản và đạo diễn, với sự tham gia của các diễn viên Sam Worthington, Zoe Saldana, Stephen Lang, Michelle RodriguezSigourney Weaver. Bộ phim lấy bối cảnh vào năm 2154, khi con người đang khai thác một khoáng vật quý giá gọi là unobtanium tại Pandora, một hành tinh tươi tốt mang sự sống nằm trong chòm sao Alpha Centauri.[8][9] Việc mở rộng khai thác mỏ tại cụm làng đang đe dọa sự tồn tại của tộc người bản địa Na’vi ở Pandora. Tiêu đề của bộ phim đề cập đến ứng dụng công nghệ gen trong việc lai DNA giữa người Na’vi và người Trái Đất của một nhóm nghiên cứu sự tương tác với người bản địa ở Pandora.

Ý tưởng về Avatar bắt đầu vào năm 1994, khi Cameron viết 80 trang bản thảo cho bộ phim.[10] Việc quay phim được cho là diễn ra sau khi hoàn thành bộ phim của Cameron – Titanic (1997), và trở thành một kế hoạch được triển khai vào năm 1999, nhưng theo Cameron, những kỹ xảo cần thiết chưa có sẵn để đạt đến những gì ông đã tưởng tượng về bộ phim.[11] Bắt đầu làm việc với ý tưởng về một ngôn ngữ khác của người ngoài hành tinh vào mùa hè năm 2005, Cameron đã tiến đến phát triển kịch bản phim và suy nghĩ về một hành tinh hư cấu vào đầu năm 2006.[12][13] Avatar chính thức có được dự thảo ngân sách 237 triệu USD Mỹ.[4] Ước tính khác cho rằng chi phí sản xuất khoảng 280 đến 310 triệu USD và 150 triệu USD cho khâu quảng bá.[14][15][16] Bộ phim đã được trình chiếu dưới dạng xem 2D truyền thống, xem 3D (sử dụng các định dạng RealD 3D, Dolby 3D, XpanD 3D, IMAX 3D) và xem 4D. Việc làm phim nổi được xem là một bước đột phá trong công nghệ điện ảnh.[17]

Ngày 10 tháng 12 năm 2009, Avatar được công chiếu tại Luân Đôn; ngày 16 tháng 12, phát hành quốc tế; ngày 18 tháng 12, công chiếu tại MỹCanada, đồng thời được ca ngợi và tán dương nhiệt liệt.[18][19] và thành công trong thương mại.[20][21] Bộ phim đã phá vỡ kỷ lục phòng vé suốt thời gian trình chiếu và trở thành phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại tại Mỹ, Canada và trên toàn thế giới, vượt qua Titanic, bộ phim đã giữ kỷ lục suốt 12 năm.[22] Nó cũng trở thành bộ phim đầu tiên kiếm được hơn 2 tỷ USD.[23] Avatar đã được đề cử 9 giải Oscar, bao gồm Phim xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất,[24] và đoạt ba giải: Quay phim xuất sắc, Hiệu ứng hình ảnh và Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc. Sau thành công của phim, Cameron đã ký hợp đồng với hãng 20th Century Fox để sản xuất hai phần tiếp theo, Avatar trở thành phần đầu trong kế hoạch bộ ba. Phiên bản 2D của bộ phim bị cấm chiếu trên toàn lãnh thổ Trung Quốc vì những lo ngại tình tiết nổi dậy, bạo động trong phim có thể ảnh hưởng đến người dân.[25]

Bốn phần tiếp theo lần lượt là Avatar 2, 3, 45, sẽ được công chiếu lần lượt vào Giáng sinh năm 2022, 2024, 2026 và 2028.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2154, Tập đoàn RDA đang khai thác một loại khoáng sản có giá trị tên là unobtanium tại Pandora, một mặt trăng có hệ sinh thái rừng rậm có thể sinh sống được quay quanh Polyphemus, một hành tinh khí khổng lồ nằm trong chòm sao Alpha Centauri. Pandora, nơi có bầu không khí độc hại đối với con người, là nơi sinh sống của người Na’vi, cao khoảng 3 m, có da màu xanh, có hình dáng và trí óc giống con người. Họ sống hòa hợp với thiên nhiên và tôn thờ Mẹ vĩ đại Eywa. Để tìm hiểu về người Na’vi và sinh quyển ở Pandora, các nhà khoa học sử dụng các cơ thể người lai Na’vi gọi là Avatar, được hoạt động thông qua liên kết thần kinh bởi những người có kiểu gen phù hợp. Jake Sully, một cựu lính thủy đánh bộ bị liệt hai chân được gọi đến để thay thế người anh sinh đôi là một nhà khoa học được huấn luyện để trở thành một Avatar nhưng đã bị giết chết trong một vụ cướp. Tiến sĩ Grace Augustine, người đứng đầu chương trình Avatar, nghĩ rằng Jake là một người thay thế không thích hợp và phân công anh làm vệ sĩ. Trong khi bảo vệ các bản thể Avatar của Grace và nhà khoa học Norm Spellman trong chuyến thám hiểm nhằm thu thập một số mẫu vật sinh học và dữ liệu về rừng, bản thể Avatar của Jake đã bị tấn công bởi một loài động vật ăn thịt gọi là thanator. Khi bỏ chạy để giữ mạng sống, Jake lạc mất hai người kia và đi lang thang trong rừng. Neytiri, một cô gái người Na'vi, vô tình gặp Jake và bất đắc dĩ giải cứu anh khỏi đám động vật hoang dã về đêm. Nhìn thấy những điềm báo từ Eywa, cô đã đưa anh đến gặp gia tộc của mình tại Cây thần; ở đây, Jake gặp cha của Neytiri, tộc trưởng Eytukan. Mo'at – mẹ của Neytiri, thủ lĩnh tâm linh của cả bộ tộc – đã ra lệnh cho con gái của bà dạy cho "người trời" cách sống của người Na’vi.

Người chỉ huy Sec-Ops, Lực lượng An ninh riêng của RDA, Đại tá Miles Quaritch, hứa với Jake rằng công ty sẽ giúp anh có lại đôi chân nếu anh thu thập thông tin về người Na’vi. Cây thần là nơi giàu khoáng vật unobtanium nhất trong khoảng một trăm dặm. Khi Grace biết được Jake đã đưa thông tin cho Quaritch, cô đã tự động di chuyển cùng Jake và Norm đến một tiền đồn xa hơn. Qua ba tháng, Jake đã trở nên gần gũi với Neytiri và người dân Pandora. Sau khi Jake được kết nạp vào bộ tộc, anh và Neytiri chọn nhau làm bạn tình. Jake đã lộ ra sự thay đổi về lòng trung thành khi anh cố gắng phá hỏng một chiếc xe ủi của Lực lượng An ninh. Khi Quaritch cho Giám đốc điều hành Parker Selfridge, người lãnh đạo tập đoàn RDA, xem một đoạn video nhật ký của Jake, trong đó anh thừa nhận rằng người Na’vi sẽ không bao giờ từ bỏ Cây thần, Selfridge đã ra lệnh phá hủy Cây thần. Với những lý lẽ của Grace cho rằng phá hủy Cây thần có thể ảnh hưởng đến hệ thực vật và mạng lưới thần kinh mà mỗi người dân Pandora đều được truy cập, Selfridge đã cho Jake và Grace một giờ đồng hồ để thuyết phục người Na’vi sơ tán. Khi Jake thú nhận nhiệm vụ ban đầu của mình, Neytiri buộc tội anh phản bội toàn bộ bộ tộc, rồi bản thể Avatar của Jake và Grace bị trói và nhốt lại. Lực lượng của Quaritch bắt đầu bắn phá Cây thần, giết cha của Neytiri và những người dân vô tội khác. Mo’at liền trả tự do cho Jake và Grace, nhưng họ lại bị ngắt kết nối với bản thể Avatar, bị trở lại trụ sở RDA và bị giam giữ. Trudy Chacón, một phi công ghê tởm với cách thức tàn bạo của Quaritch, đã giải cứu họ và đưa họ đến tiền đồn để kết nối với bản thể Avatar. Trong khi cả nhóm trốn thoát, Quaritch đã bắn và để lại vài vết thương cho Grace.

Người Na’vi vốn có sẵn mối liên kết với một vài động vật. Để lấy lại lòng tin của người Na’vi, Jake đã mạo hiểm để liên kết với Toruk, một quái thú săn mồi dạng rồng biết bay cực kỳ mạnh mẽ mà người Na'vi vô cùng kính sợ và tôn sùng và trong lịch sử chỉ có năm người thuần hóa được nó để trở thành Toruk Makto. Jake tìm thấy những người tị nạn tại Cây linh hồn và cầu xin Mo’at cứu Grace. Cả bộ tộc cố gắng chuyển linh hồn Grace từ cơ thể của cô vào bản thể Avatar với sự trợ giúp của Cây linh hồn, nhưng cô không chịu nổi vết thương và đã chết – "về với Eywa". Được hỗ trợ bởi tộc trưởng mới của Omaticaya, Tsu'tey, Jake tuyển dụng hàng ngàn chiến binh từ các bộ tộc láng giềng để chống lại lực lượng của Quaritch. Vào đêm trước trận đánh, Jake thay mặt người Na’vi cầu nguyện với Eywa, thông qua kết nối với Cây linh hồn. Quaritch phát hiện ra việc huy động quân của người Na’vi và thuyết phục Selfridge ủy quyền cho ông ta tổ chức một trận đánh phủ đầu, tấn công Cây linh hồn, tin rằng việc phá hủy nó sẽ làm người bản địa mất tinh thần.

Người Na’vi đã tổ chức cuộc phản công nhưng cũng chịu tổn thất rất nặng nề, Tsu’tey và Trudy đã hi sinh. Khi đang tuyệt vọng, những động vật hoang dã đột nhiên tham gia trận đánh và áp đảo phe "người trời", Neytiri cho rằng Eywa đã đáp lại lời nguyện cầu của Jake. Jake phá hủy một tàu con thoi chở bom trước khi nó đến chỗ Cây linh hồn. Quaritch đã thoát khỏi con tàu chỉ huy trước khi nó nổ tung và khoác vào người bộ giáp robot AMP. Ông ta tình cờ tìm thấy tiền đồn kết nối bản thể Avatar nơi cơ thể con người của Jake đang nằm, làm Jake ngộ độc bởi bầu khí quyển độc hại. Neytiri sau đó giết Quaritch và kịp thời đến bên Jake để cứu mạng anh. Cả hai khẳng định tình yêu của mình khi lần đầu tiên Neytiri thấy cơ thể con người của Jake. Với ngoại lệ là Jake, Norm, Max Patel và một số nhà khoa học khác, tất cả người Trái Đất đều bị trục xuất khỏi Pandora. Jake mặc bộ đồ tượng trưng cho tộc trưởng Omaticaya. Cả bộ tộc đã thực hiện nghi lễ riêng biệt cho Eywa để chuyển linh hồn Jake sang bản thể Avatar của anh.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Loài người[sửa | sửa mã nguồn]

Sam Worthington (trái) and Zoe Saldana (phải), những người đóng vai chính trong phim.
  • Sam Worthington trong vai hạ sỹ Jake Sully, một cựu lính thủy đánh bộ bị liệt hai chân và là nhân vật chính trong phim. Anh trở thành một phần của chương trình Avatar sau khi người anh sinh đôi của anh ấy bị giết. Quá trình giáo dục quân sự đã giúp anh trở thành một chiến binh Na’vi. Cameron chọn diễn viên người Úc này sau khi tìm kiếm trên toàn thế giới những diễn viên trẻ triển vọng, đồng thời ít nổi tiếng để có thể giảm ngân sách.[26] Worthington lúc đó phải sống trong một chiếc xe hơi,[27] anh đã thử vai hai lần đầu để được chọn,[28] và anh ấy đã ký hợp đồng cho phần tiếp theo của bộ phim.[29] Cameron cảm thấy rằng vì Worthing chưa từng tham gia một bộ phim lớn nào, ông sẽ đưa một nhân vật "có tài năng xứng đáng". Cameron nói rằng "anh ta có tính cách của một người mà bạn có thể mời uống một cốc bia, và anh ta cuối cùng đã trở thành người thay đổi thế giới".[30]
  • Stephen Lang trong vai Đại tá Miles Quaritch. Quaritch là chỉ huy của một nhóm binh lính bảo vệ công ty khai mỏ và là nhân vật phản diện chính của phim. Trung thành với kỷ cương quân đội của mình, ông ta có thành kiến sâu sắc với người dân Pandora và hiển nhiên với cả hành động và lời nói. Lang đã từng không thành công khi thử một vai trong phim Aliens (1986) của Cameron, nhưng người đạo diễn này đã nhớ tới Lang và tìm kiếm ông cho bộ phim "Avatar".[31] Michael Biehn, một diễn viên trong Aliens, đã đọc kịch bản và xem một số đoạn phim 3D với Cameron,[32] nhưng cuối cùng ông không được chọn đóng vai này.
  • Sigourney Weaver trong vai tiến sỹ Grace Augustine. Augustine là một nhà sinh vật học nghiên cứu ngoài Trái Đất và đứng đầu chương trình Avatar. Cô ấy cố vấn cho Sully và là một người ủng hộ quan hệ hòa bình với người Na’vi, xây dựng một trường học dạy tiếng Anh cho họ.[33][34]
  • Michelle Rodriguez trong vai Trudy Chacón. Chacón là một phi công chiến đấu được giao việc hỗ trợ chương trình Avatar, và tỏ ra ủng hộ người Na’vi. Cameron đã muốn làm việc với Rodriguez khi xem cô ấy diễn trong Girlfight.[31]
  • Giovanni Ribisi trong Parker Selfridge. Selfridge là chủ tịch quản lý công ty khai mỏ RDA.[35] Khi lần đầu tiên anh ta có ý định hủy diệt nền văn minh Na’vi để bảo vệ hoạt động của công ty, anh ta miễn cưỡng không muốn ủy quyền cuộc tấn công người Na’vi, chỉ sau khi Quaritch thuyết phục anh rằng việc đó là cần thiết, và vụ tấn công sẽ nhân đạo. Khi cuộc tấn công trình chiếu tại trụ sở công ty, Selfridge đã lộ vẻ không hài lòng với những cảnh bạo lực.
  • Joel David Moore trong tiến sĩ Norm Spellman, một nhà thực vật học[36], anh ta học về đời sống thực vật và động vật như một phần của chương trình Avatar.[37] Anh ấy đến Pandora cùng lúc với Sully điều khiển một bản thể avatar. Mặc dù anh ấy được dự đoán sẽ là người đầu tiên liên hệ ngoại giao với người Na’vi, nhưng hóa ra Jake lại có tính cách tốt hơn và phù hợp để có được sự tôn trọng của người bản xứ.
  • Dileep Rao trong vai tiến sĩ Max Patel, một nhà khoa học làm việc trong chương trình Avatar và đi theo cuộc nổi dậy của Jake để chống lại tập đoàn RDA.[38]

Người Na’vi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zoe Saldana trong vai Neytiri, con gái của tộc trưởng người Omaticaya, bộ tộc Na’vi chính yếu trong cốt truyện. Cô ấy bị Jake thu hút vì lòng dũng cảm của anh, mặc dù hơi nản chí khi nhìn thấy sự khờ khạo và ngu ngốc của anh ta. Cô ấy là nhân vật chính thuộc người Na’vi và là người mà Jake yêu.[39] Nhân vật này, như tất cả người Na’vi, được tạo nên bằng cách sử dụng hình ảnh động, và đặc điểm bề ngoài hoàn toàn do máy tính tạo ra.[40] Saldana cũng đã ký hợp đồng đóng phần tiếp theo.[41]
  • C. C. H. Pounder trong vai Mo'at. Mo'at là người lãnh đạo tâm linh của người Omaticaya, mẹ của Neytiri, và là vợ của tộc trưởng Eytukan.[42]
  • Wes Studi trong vai Eytukan. Eytukan là tộc trưởng của Omaticaya, cha của Neytiri, chồng của Mo’at.
  • Laz Alonso trong vai Tsu'tey, chiến binh giỏi nhất của Omaticaya. Tsu'tey là người thừa kế ngôi vị tộc trưởng, và khi bắt đầu bộ phim anh ta đã hứa hôn cùng Neytiri.

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Avatar là một hành trình phiêu lưu hành động khám phá bản thân, đặt trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc với hệ sinh thái giàu có.[43] Cameron cho biết nguồn cảm hứng của ông là "mọi cuốn sách khoa học viễn tưởng mà tôi đọc khi còn nhỏ" và ông muốn đưa vào tác phẩm phong cách của loạt truyện John Carter của nhà văn Edgar Rice Burroughs.[28] Ông thừa nhận rằng Avatar có chung chủ đề với các bộ phim như At Play in the Fields of the Lord, The Emerald ForestMononoke Hime, kể về cuộc đụng độ giữa các nền văn hóa và văn minh, và với Dances with Wolves, nơi một người lính bị đánh đập cảm thấy bị cuốn hút bởi nền văn hóa mà anh đã chống lại ban đầu.[44][45] Ông cũng trích dẫn các phim anime của Miyazaki Hayao như Mononoke Hime có ảnh hưởng đến hệ sinh thái của Pandora.[45]

Vào năm 2012, Cameron đã đệ trình một tuyên bố pháp lý dài 45 trang nhằm "mô tả chi tiết nguồn gốc của các ý tưởng, chủ đề, cốt truyện và hình ảnh mà sau này sẽ trở thành Avatar." [46] Ngoài các sự kiện lịch sử (chẳng hạn như thực dân châu Âu tại châu Mỹ), kinh nghiệm sống của bản thân cùng một số dự án mà ông chưa thực hiện, Cameron đã rút ra mối liên hệ giữa Avatar và các bộ phim trước đó của mình. Ông đã tham chiếu phần kịch bản và ý niệm nghệ thuật của mình với Xenogenesis (1978) – phim ngắn đầu tay của ông – làm cơ sở cho nhiều ý tưởng và thiết kế hình ảnh trong Avatar. Ông cho biết "các ý niệm về thế giới tâm trí, trí thông minh bên trong tự nhiên, ý tưởng về việc tạo ra lực lượng hoặc ý thức sử dụng avatar, thuộc địa của các hành tinh ngoài hành tinh, lợi ích tham lam của doanh nghiệp được hỗ trợ bởi lực lượng quân sự, câu chuyện về một nhóm người yếu thế hơn lại đang chiếm ưu thế trước một lực lượng vượt trội về công nghệ, và hình ảnh các nhà khoa học giỏi [trong Avatar] đều là những chủ đề đã được sử dụng và lặp lại" từ các bộ phim trước đó của ông như Aliens, The Abyss, Rambo 2, Kẻ hủy diệtKẻ hủy diệt 2: Ngày phán xét. Ông đặc biệt đề cập đến chi tiết "xúc tu nước" trong The Abyss như một ví dụ về một "avatar" với "hình dáng của... một dạng sống ngoài hành tinh... để thu hẹp khoảng cách văn hóa và xây dựng lòng tin."[47]

Cameron cũng trích dẫn một số tác phẩm của những nhà sáng tạo khác làm "điểm tham chiếu và nguồn cảm hứng" cho Avatar. Các tác phẩm này bao gồm hai bộ phim "yêu thích" của ông là 2001: A Space Odyssey, nơi nhân loại trải qua một quá trình tiến hóa sau khi tiếp xúc với cuộc sống ngoài hành tinh, và Lawrence of Arabia, nơi "một kẻ lạ... gặp gỡ và đắm chìm vào một nền văn hóa nước ngoài và sau đó cuối cùng tham gia vào nhóm nước ngoài đó để chống lại những kẻ lạ khác." Cameron cho biết ông đã trở nên quen thuộc với khái niệm một con người vận hành một "avatar" bên trong một thế giới khác từ truyện ngắn "In the Imagicon" của George Henry Smith và tiểu thuyết The City and the Stars của Arthur C. Clarke. Ông cho biết mình biết đến thuật ngữ "avatar" khi đọc tiểu thuyết cyberpunk Neuromancer của William GibsonIslands in the Net của Bruce Sterling. Ý tưởng về một "thế giới tâm trí" bắt nguồn từ cuốn tiểu thuyết Solaris của Stanislaw Lem. Cameron đã đề cập đến một số bộ phim khác về những kẻ tương tác với "văn hóa bản địa", cũng là nguồn cảm hứng cho ông, bao gồm Dances With Wolves, The Man Who Will Be King, The Mission, The Emerald Forest, Medicine Man, The Jungle BookFernGully: The Last Rainforest. Ông cũng trích dẫn những câu chuyện về John CarterTarzan của Edgar Rice Burroughs và những câu chuyện phiêu lưu khác của Rudyard KiplingH. Rider Haggard.[47]

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2007 với tạp chí Time, Cameron được hỏi về ý nghĩa của thuật ngữ "avatar", ông trả lời rằng: "Đó là hóa thân của một trong những vị thần Hindu mang hình hài xác thịt. Trong bộ phim này, [thuật ngữ này] có nghĩa là công nghệ của con người trong tương lai có khả năng đưa trí thông minh con người vào một cơ thể được định vị từ xa, một cơ thể sinh học."[48] Cameron cũng nhắc tới manga và anime cyberpunk Nhật Bản Ghost in the Shell về cách con người có thể điều khiển từ xa và chuyển nhân cách của họ vào cơ thể một người ngoài hành tinh.[49][50] Diện mạo của Na'vi – người bản địa của Pandora – được truyền cảm hứng bởi một giấc mơ của mẹ Cameron, rất lâu trước khi ông bắt tay vào làm Avatar. Trong giấc mơ, bà nhìn thấy một người phụ nữ da xanh cao 4 m, mà ông nghĩ là "một hình ảnh tuyệt vời".[43] Ông cũng tiết lộ: "Tôi chỉ thích màu xanh lam. Đó là một màu đẹp... hơn nữa, nó có mối liên hệ với các vị thần Hindu,[51] điều này khiến tôi rất thích về mặt ý niệm."[52] Ông đã đưa những sinh vật tương tự vào kịch bản phim đầu tiên của mình (viết vào năm 1976 hoặc 1977), trong đó có một hành tinh với dân cứ bản địa là những người cao lớn có làn da xanh "tuyệt đẹp". Người Na'vi được dựa trên ý tưởng này.[43]

Đối với câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật Jake và Neytiri, Cameron đã áp dụng chủ đề tình yêu vượt qua những vì sao giống truyền thống của Romeo và Juliet.[47] Ông thừa nhận sự tương đồng với cặp Jack và Rose trong tác phẩm Titanic (1997). Một người phỏng vấn bình luận: "Cả hai cặp đôi đều đến từ những nền văn hóa hoàn toàn khác nhau, [những nền văn hóa ấy] coi thường mối quan hệ của họ và [họ] buộc phải chọn phe giữa hai cộng đồng cạnh tranh lẫn nhau."[53] Cameron mô tả Neytiri là "Pocahontas" của ông; ông cho biết cốt truyện của ông tiếp nối câu chuyện lịch sử về một "người da trắng phải lòng con gái của tù trưởng, [cô gái này đã] trở thành người dẫn lối cho anh [hòa nhập với] bộ lạc và với sự gắn kết đặc biệt của họ với thiên nhiên."[47] Cameron cảm thấy rằng câu chuyện tình yêu của Jake và Neytiri có được coi là đáng tin cậy hay không một phần phụ thuộc vào sức hấp dẫn từ ngoài hành tinh của Neytiri.[54] Mặc dù Cameron cảm thấy Jake và Neytiri không yêu nhau ngay từ đầu, nhưng hai diễn viên thủ vai nhân vật (WorthingtonSaldana) cảm thấy các nhân vật đã thực sự yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên. Cameron cho biết hai diễn viên đã "có xúc tác tuyệt vời" trong quá trình quay phim.[53]

A gray mountain in the middle of a forest.
"Dãy Hallelujah" của Pandora một phần được lấy cảm hứng từ dãy Hoàng Sơn của Trung Quốc (ảnh).[55]
Công viên rừng quốc gia Trương Gia Giới

Đối với "Dãy Hallelujah" của bộ phim, các nhà thiết kế đã lấy cảm hứng từ "nhiều loại núi khác nhau, nhưng chủ yếu là các dãy đá vôi karst ở Trung Quốc."[56] Theo nhà thiết kế sản xuất Dylan Cole, những tảng đá giả tưởng được lấy cảm hứng từ núi Hoàng Sơn (còn được gọi là Núi Hoàng), Quế Lâm, Trương Gia Giới, và những địa điểm khác trên khắp thế giới.[56] Cameron đã ghi nhận ảnh hưởng của các đỉnh núi ở Trung Quốc đối với thiết kế của các ngọn núi trong phim.[57] Để tạo ra phần nội thất thuộc địa khai thác của con người trên Pandora, các nhà thiết kế sản xuất đã đến thăm giàn khoan dầu Noble Clyde Boudreaux[58]Vịnh Mexico vào tháng 6 năm 2007. Họ đã chụp ảnh, đo lường và quay lại mọi góc của giàn khoan, sau đó tái tạo lại hình ảnh bằng công nghệ CGI trong quá trình hậu kỳ.[59] Cameron cho biết ông muốn tạo ra "một thìa đầy những chuyến phiêu lưu và hành động" nhưng cũng có lương tâm "mà có thể khi thưởng thức nó khiến bạn suy nghĩ một chút về cách bạn tương tác với thiên nhiên và đồng loại". Ông nói thêm rằng "Na'vi đại diện cho cái gì đó cao siêu hơn cái tôi của chúng ta hoặc khát vọng bên trong chúng ta, những gì chúng ta nghĩ rằng nó chính là chúng ta" và mặc dù có những con người tốt trong phim, nhưng con người vẫn "đại diện cho những phần bên trong chúng ta đang làm bẩn thế giới của chính mình và có thể tự kết án mình với một tương lai nghiệt ngã".[60]

Cameron thừa nhận rằng Avatar ngầm chỉ trích vai trò của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Iraq và bản chất phi nhân tính của chiến tranh cơ giới nói chung. Đề cập đến việc sử dụng thuật ngữ sốc và sợ hãi trong phim, Cameron nói, "Chúng tôi biết cảm giác khi phóng chiếc tên lửa đó. Chúng tôi không biết họ có cảm giác như thế nào khi hạ cánh trên đất nhà của chúng tôi, chứ không phải ở Mỹ."[61] Ông đã nói trong các cuộc phỏng vấn sau này: "Tôi nghĩ rằng thật yêu nước khi đặt câu hỏi về một hệ thống cần được cải thiện..."[62] và "Bộ phim chắc chắn không chống Mỹ."[63] Một cảnh trong phim miêu tả sự tàn phá dữ dội của Na'vi Hometree cao chót vót, nó sụp đổ trong biển lửa sau một cuộc tấn công tên lửa, bao phủ cảnh quan bởi tro bụi và than hồng. Khi được hỏi về cảnh tượng có giống với vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 hay không, Cameron cho biết ông đã "ngạc nhiên về việc nó trông giống như sự kiện 11 tháng 9".[61]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994, đạo diễn James Cameron đã viết 80 trang đề cương phim cho Avatar.[10] Tháng 8 năm 1996, Cameron cho biết sau khi hoàn thành Titanic, ông sẽ thực hiện Avatar, với việc sử dụng hình ảnh nhân tạo, hoặc hình ảnh do máy tính để tạo ra diễn viên.[11] Dự án này ước tính chi phi khoảng 100 triệu USD và bao gồm ít nhất 6 diễn viên quan trọng "sẽ xuất hiện thật nhưng không tồn tại trong tự nhiên". Nhà hiệu ứng hình ảnh Digital Domain, người mà Cameron có quan hệ đối tác, sẽ tham gia dự án, với dự kiến bắt đầu sản xuất vào mùa hè năm 1997 và đến năm 1999 sẽ phát hành.[64] Tuy nhiên, Cameron cảm thấy rằng công nghệ chưa đủ để bắt kịp câu chuyện và chưa có được sự tưởng tượng mà ông dự định làm việc. Ông quyết định tập trung vào làm phim tài liệu và chọn lọc các kỹ thuật cần thiết trong những năm tiếp theo. Bộ phim đã được tiết lộ trong tạp chí Bloomberg BusinessWeek bao gồm câu chuyện mà 20th Century Fox đã giới thiệu với hơn 10 triệu USD để Cameron quay một clip chứng tỏ cơ sở của ông trong phim Avatar, và để ra mắt giám đốc điều hành Fox vào tháng 10 năm 2005.[65]

Vào năm 2 năm 2006, Cameron tiết lộ rằng bộ phim Project 880 là "một phiên bản trang bị lại của Avatar", một bộ phim mà ông đã cố gắng thực hiện những năm gần đây,[66] trích dẫn những tiến bộ công nghệ trong việc tạo ra nhân vật bằng máy tính, Gollum, King Kong, và Davy Jones.[10] Cameron đã chọn Avatar trong dự án Battle Angel sau khi hoàn thành năm ngày kiểm tra quay phim vào năm ngoái.[67]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 đến tháng 4 năm 2006, Cameron làm việc trên kịch bản và phát triển thành một nền văn hóa cho người ngoài hành tinh trong bộ phim, là người Na’vi. Ngôn ngữ của người Na’vi được tạo ra bởi Tiến sĩ Paul Frommer, một nhà ngôn ngữ học tại trường Đại Học Bắc Cali[10] Ngôn ngữ Na’vi có một kho từ vựng hơn 1000 từ, với 30 từ được Cameron thêm vào. Các âm vị của ngôn ngữ bao gồm các phụ âm đẩy lưỡi (như là "kx" trong từ "skxawng") được tìm thấy trong tiếng Amharic của Ethiopia, và chữ cái đầu "ng" có thể được Cameron lấy từ tiếng Māori của thổ dân New Zealand.[13] Diễn viên Sigourney Weaver và người thiết kế khung cảnhbộ phim đã gặp Jodie S. Holt, giáo sư về sinh lý học về thực vật tại trường đại học California, Riversid, nghiên cứu về các cách thức sử dụng bởi các nhà thực vật học đang tìm hiểu thu thập mẫu vật, đồng thời thảo luận các cách để chứng minh được mối liên hệ giữa các sinh vật ở Pandora được mô tả trong bộ phim.[68]

Từ năm 2005 đến 2007, Cameron đã làm việc với một số ít nhà thiết kế, bao gồm họa sĩ kỳ ảo Wayne Barlowe và họa sĩ ý tưởng Jordu Schell, để hình thành các thiết kế về người Na'vi với tranh vẽ và điêu khắc thể chất khi Cameron cảm thấy rằng hình ảnh quét 3-D chưa nắm bắt được tầm nhìn của ông,[69] và họ cùng làm việc với nhau trong căn bếp ở nhà của Cameron tại Malibu, California.[70] Vào tháng 7 năm 2006, Cameron tuyên bố rằng ông sẽ làm phim "Avatar" vào khoảng giữa năm 2008 và lên kế hoạch bắt đầu xác định hình ảnh các diễn viên chính khi tổ chức buổi casting vào tháng 2 năm 2007.[71] Tháng 8 tiếp theo, nhóm sản xuất âm thanh Weta Digital ký hợp đồng và giúp Cameron thực hiện Avatar.[72] Stan Winston, người đã từng cộng tác với Cameron trước đây, và tham gia "Avatar" để giúp các nhà thiết kế phim.[73] Sản xuất và thiết kế cho bộ phim mất khoảng vài năm. Bộ phim có hai nhà sản xuất thiết kế khác nhau, hai nhóm chia làm hai nhiệm vụ khác nhau, một thì tập trung vào thực vật và động vật ở Pandora, và nhóm kia thì tạo ra người máy và người ảo.[74] Vào tháng 9 năm 2006, Cameron công bố sử dụng công nghệ quay phim kỹ thuật số để quay phim 3D. Công nghệ này sẽ được sử dụng HD với độ nét cao tại một thân máy quay duy nhất để tạo ra độ thị giác cao.[75]

Fox đã lưỡng lự vì thử nghiệm vất vả với chi phí quá mức và sự trì hoãn với bộ phim trước của Cameron Titanic, thậm chí dù Cameron đã viết lại kịch bản của Avatar để kết hợp một số nhân vật và đồng thời cắt giảm chi phí trong trường hợp thất bại của phim.[65] Cameron đã cài một đèn giao thông màu vàng bên ngoài văn phòng của đồng sản xuất Jon Landau để biểu trưng cho tương lai không vững chắc của bộ phim.[65] Vào giữa năm 2006, Fox đã nói với Cameron rằng "không có gì là không chắc chắn vì thế họ sẽ làm được bộ phim," vì thế ông ấy bắt đầu quảng bá phim tới các hãng phim khác nhau, và mang cơ sở bộ phim của ông cho Dick Cook (sau đó là chủ tịch của Công ty Walt Disney) xem.[65] Tuy nhiên, khi Disney cố gắng để chấp nhận, thì Fox lại sử dụng quyền ưu tiên đầu tiên của hãng.[65] Vào tháng 10 năm 2006, Fox cuối cùng đã đồng ý để trao quyền làm phim Avatar sau khi Ingenious Media đồng ý quay lại làm phim, họ chỉ đưa ra ngân sách thấp hơn một nửa chi phí mà Fox chính thức bỏ ra là 237 triệu USD.[65] Sau khi Fox duyệt Avatar, một người nghi ngờ liên quan đến việc chấp thuận của Fox đã làm anh ta lung lay niềm tin và nói với Cameron và Landau, "Tôi không biết chúng tôi có điên khùng hơn không khi để các anh làm việc này, hoặc các anh có điên khùng hơn khi nghĩ về những gì các anh 'có thể' làm..."[76]

Vào tháng 12 năm 2006, Cameron miêu tả Avatar như "một câu chuyện tương lai được sắp đặt trên một hành tinh 200 năm... một cuộc phiêu lưu rừng rậm cũ xì với một cách nhìn về môi trường [mà] tôi mong muốn được kể theo một cách thật thần thoại.[77] Vào tháng 1 năm 2007, báo chí đã mô tả bộ phim như "một cuộc hành trình cứu vãn con tim và một cuộc cách mạng" và câu chuyện là "một cựu lính thủy đánh bộ, miễn cưỡng tham gia vào một nỗ lực giải quyết và khai thác một hành tinh giàu khoáng sản và đa dạng sinh học, và cuối cùng là người đã vượt qua tất cả để lãnh đạo các bộ tộc trong một cuộc chiến sống còn". Câu chuyện sẽ là một thế giới hoàn hảo với một hệ sinh thái thực vật và sinh vật, những người bản địa với nền văn hóa và ngôn ngữ phong phú.[41] Ước tính chi phí của bộ phim khoảng 280 đến 310 triệu USD để sản xuất và 150 triệu USD để quảng bá, lưu ý rằng có thêm 30 triệu USD để đóng thuế sẽ giảm bớt tài chính của hãng phim và vốn của bộ phim.[14][15][16] Người phát ngôn của hãng phim, tuyên bố ngân sách của bộ phim "là 237 triệu USD, với 150 triệu USD để quảng bá."[4]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình quay phim chính của Avatar bắt đầu vào tháng 4 năm 2007 tại Los AngelesWellington. Cameron mô tả bộ phim như một sự kết hợp giữa các cảnh quay người thật đóng kết hợp với các nhân vật và môi trường do máy tính tạo ra. "Hoàn hảo nhất là đến cuối cùng, khán giả không biết họ đang xem gì", Cameron cho biết. Nam đạo diễn tiết lộ rằng ông đã làm việc bốn tháng chỉ cho các cảnh quay phụ của bộ phim.[78] Các cảnh người đóng được quay bằng phiên bản chỉnh sửa của hệ thống Fusion Camera System 3-D kỹ thuật số do Cameron và Vince Pace phát triển.[79] Vào tháng 1 năm 2007, hãng Fox cho biết việc ghi hình 3-D cho Avatar sẽ được thực hiện ở tốc độ 24 khung hình/giây bất chấp ý kiến của Cameron rằng phim 3-D yêu cầu tốc độ khung hình cao hơn.[80] Theo Cameron, 60% yếu tố trong phim là do máy tính tạo ra và 40% là người đóng, cùng với viẹc sử dụng các mô hình thu nhỏ truyền thống.[81]

Cameron đã cho hai đạo diễn cộng sự Steven SpielbergPeter Jackson cơ hội thử nghiệm công nghệ mới trong phim.[77] Spielberg nói, "Tôi thích nghĩ về nó như một kiểu trang điểm số hóa, chứ không phải hoạt ảnh tăng cường... Việc ghi hình chuyển động đêm tới trải nghiệm thân thiết và gần gũi mà vốn các diễn viên và đạo diễn chỉ có được khi làm việc trong các nhà hát kịch."[82] Spielberg và George Lucas cũng có thể đến phim trường để xem Cameron đạo diễn.[83] Để quay các cảnh trong đó CGI tương tác với người đóng, một máy quay gọi là "simulcam" đã được sử dụng, kết hợp giữa máy quay 3-D và hệ thống máy quay ảo. Trong khi các cảnh quay người đóng thực hiện bằng simulcam, các hình ảnh CGI sẽ được quay bằng máy quay ảo hoặc được thiết kế từ trước, chồng lên các hình ảnh người đóng giống như trong thực tế tăng cường và được hiển thị trên một màn hình nhỏ, giúp đạo diễn có thể chỉ dẫn các diễn viên tương tác với các chất liệu ảo trong cảnh.[84] Do quan điểm cá nhân của Cameron về biến đổi khí hậu, ông chỉ cho phép thực phẩm có nguồn gốc thực vật được phục vụ trên phim trường.[85]

Hiệu ứng hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số kỹ thuật hiệu ứng hình ảnh sáng tạo đã được sử dụng trong quá trình sản xuất. Theo Cameron, công việc thực hiện bộ phim đã bị trì hoãn từ những năm 1990 để cho phép các kỹ thuật đạt được mức độ tiến bộ cần thiết nhằm khắc họa đầy đủ tầm nhìn của ông về bộ phim.[64]</ref>[11] Đạo diễn đã lên kế hoạch sử dụng các nhân vật được tạo ra bằng CGI, sử dụng công nghệ ghi hình chuyển động mới mà ông đã phát triển trong 14 tháng tính đến tháng 12 năm 2006.[86] Những cải tiến bao gồm một hệ thống mới để chiếu sáng các khu vực rộng lớn như rừng rậm Pandora,[87] sân khấu ghi hình chuyển động hoặc "âm lượng" lớn hơn sáu lần so với bất kỳ thiết bị nào được sử dụng trước đây và một phương pháp cải tiến để ghi lại biểu cảm khuôn mặt. Để ghi hình được biểu cảm khuôn mặt, các diễn viên đội những chiếc mũ đầu lâu được thiết kế riêng có gắn một camera nhỏ đặt trước mặt của các diễn viên; thông tin thu thập được về nét mặt và mắt của các diễn viên sau đó được truyền đến máy tính.[88] Theo Cameron, phương pháp này cho phép các nhà làm phim chuyển 100% phần diễn xuất hình thể của các diễn viên sang hình thức số hóa.[89] Bên cạnh việc dữ liệu ghi hình màn trình diễn được chuyển trực tiếp vào máy tính, việc sử dụng nhiều máy quay đã cho các họa sĩ kỹ thuật số thêm nhiều góc độ của mỗi cảnh diễn xuất.[90] Một cảnh đầy thách thức về mặt kỹ thuật ở gần cuối phim khi Neytiri do máy tính tạo ra giữ Jake người đóng trong hình dạng con người, và sự chú ý được tập trung vào các chi tiết của bóng tối và ánh sáng phản chiếu giữa hai người.[91]

Công ty hiệu ứng hình ảnh hàng đầu là Weta DigitalWellington, có thời điểm đã tuyển dụng 900 nhân sự làm việc cho dự án.[92] Do lượng dữ liệu khổng lồ cần được lưu trữ, lập danh mục và phải có sẵn cho tất cả những nhân sự liên quan – thậm chí là cả những nhân sự đang ở xa nửa vòng Trái Đất, một hệ thống điện toán đám mây và quản lý tài sản kỹ thuật số (DAM) mới có tên Gaia đã được Microsoft tạo ra độc quyền cho dự án Avatar, cho phép các nhóm theo dõi và điều phối tất cả các giai đoạn trong quá trình xử lý kỹ thuật số.[93] Để kết xuất Avatar, Weta đã sử dụng 930 m2 (10.000 foot vuông) trang trại máy chủ với 4.000 máy chủ Hewlett-Packard cùng 35.000 lõi xử lý với 104 terabyte RAM và 3 petabyte bộ nhớ vùng mạng chạy Ubuntu Linux, trình quản lý cụm Grid Engine và 2 trong số các phần mềm và trình quản lý hoạt hình, RenderMan của Pixar và hệ thống quản lý hàng đợi Alfred của Pixar.[94][95][96][97] Trang trại kết xuất chiếm vị trí thứ 193 đến 197 trong danh sách TOP500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới. Một hệ thống phần mềm tô màu mới, được gọi là Mari, được phát triển bởi The Foundry với sự hợp tác của Weta.[98][99] Việc tạo các nhân vật Na'vi và thế giới ảo Pandora cần trên 1 petabyte dung lượng lưu trữ kỹ thuật số,[100] và mỗi phút của cảnh quay cuối cùng cho Avatar chiếm 17,28 gigabyte dung lượng.[101] Máy tính thường mất vài giờ để kết xuất một khung hình duy nhất của phim.[102] Để giúp hoàn thành việc chuẩn bị các chuỗi hiệu ứng đặc biệt đúng hạn, một số công ty khác đã được mời hợp tác, bao gồm Industrial Light & Magic, đã hợp tác cùng Weta Digital để tạo ra các cảnh chiến đấu. ILM chịu trách nhiệm về hiệu ứng hình ảnh cho nhiều phương tiện chuyên dụng của phim và đã nghĩ ra một cách mới để tạo ra các vụ nổ CGI.[103] Joe Letteri là tổng giám sát hiệu ứng hình ảnh của bộ phim.[104]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà soạn nhạc James Horner đã thực hiện phần nhạc nền cho bộ phim, đây lần hợp tác thứ ba của ông với Cameron sau AliensTitanic.[105] Horner thu âm phần nhạc nền với một đoạn điệp khúc nhỏ hát bằng tiếng Na'vi vào tháng 3 năm 2008.[106] Ông cũng làm việc với Wanda Bryant, một nhà dân tộc học, để tạo ra một nền văn hóa âm nhạc cho chủng tộc người ngoài hành tinh.[107] Các buổi thu âm đầu tiên được lên kế hoạch thực hiện vào đầu năm 2009.[108] Trong quá trình sản xuất, Horner đã hứa với Cameron rằng ông sẽ không làm việc trong bất kỳ dự án nào khác ngoại trừ Avatar và được biết là đã thực hiện phần nhạc nền từ bốn giờ sáng đến mười giờ đêm trong cả quá trình. Ông nói trong một cuộc phỏng vấn, "Avatar là bộ phim khó nhất mà tôi đã thực hiện và cũng là vai trò lớn nhất mà tôi đã đảm nhận." [109] Horner biên soạn phần nhạc nền bằng cách hợp nhất hai kiểu nhạc nền khác nhau. Đầu tiên, ông tạo ra một phần nhạc nền thể hiện âm thanh của người Na'vi và sau đó kết hợp nó với một phần nhạc nền "truyền thống" riêng biệt để lèo lái bộ phim.[84] Ca sĩ người Anh Leona Lewis đã được chọn để hát bài hát chủ đề cho bộ phim mang tên "I See You (Theme from Avatar)". Video âm nhạc của bài hát do Jake Nava đạo diễn, được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2009, trên MySpace.[110]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Avatar thu về 3.537.000 USD cho việc chiếu phim lúc nửa đêm ở 2.200 phòng chiếu 3D ở Bắc Mỹ.[111] Bộ phim thu về 27 triệu USD ở ngày đầu và tổng cộng 77 triệu USD cho 3 ngày cuối tuần tại Mỹ. Trở thành bộ phim có doanh thu 3 ngày cuối tuần đầu tiên vào tháng 12 lớn thứ 2 sau Thành phố chết[112][113] dù phía Đông nước Mỹ đang bị ảnh hưởng bởi bão tuyết, khiến doanh thu của phim từ khu vực này bị ảnh hưởng lớn.[114] Ở ba ngày cuối tuần tiếp theo, doanh thu của phim giảm đi chút ít với 1,8%, chốt lại ở 75,6 triệu USD, giữ vững vị trí quán quân tuần thứ 2 liên tiếp.[115] Avatar phá kỷ lục của Kỵ sĩ bóng đêm, trở thành phim có doanh thu 3 ngày cuối tuần ở tuần thứ hai cao nhất mọi thời đại[116]. Ở tuần thứ 3, doanh thu cuối tuần của phim tiếp tục giảm 9,4% xuống 68.490.688 USD, tiếp tục đứng thứ nhất về doanh thu ở Mỹ, phá vỡ kỷ lục của Người nhện, trở thành phim có doanh thu cuối tuần ở tuần thứ 3 cao nhất mọi thời đại[117]. Bộ phim tiếp tục đà phá kỷ lục, thu về 50.306.217 USD ở tuần thứ 4, phá kỷ lục của Titanic[118], đứng vững tại vị trí thứ nhất. Sau 19 ngày phát hành ở Mỹ, doanh thu của bộ phim đã vượt quá con số 1 tỷ USD trên toàn thế giới, trở thành phim vượt qua 1 tỷ USD nhanh nhất mọi thời đại.[119] Chưa đầy một tháng sau khi phát hành, phim đã thu về 435 triệu USD tại Mỹ và 910,8 triệu USD ở các nơi khác, đem về 1,346 tỷ USD cho nhà phát hành,[120] trở thành phim có doanh thu toàn thế giới cao thứ 2 trong lịch sử, chỉ sau Titanic[121] và là bộ phim có doanh thu cao thứ 5 trong lịch sử ở Mỹ (đã trừ đi sự khác biệt của lạm phát). Ngày 26 tháng 1 năm 2010, Avatar đã phá vỡ kỷ lục doanh thu của phim Titanic với con số doanh thu kỷ lục là 1,878 tỷ USD và trở thành vị vua mới trong làng phim ảnh của thế giới. Vào ngày 21 tháng 7 năm 2019, Avatar chính thức bị soán ngôi bởi Avengers: Hồi kết[121] khi đang ở mốc 2,789 tỷ USD.

Avatar là bộ phim đầu tiên được chiếu dưới dạng 3D tại Việt Nam và được chiếu trước Bắc Mỹ 12 tiếng đồng hồ (16 phút của phim thậm chí đã được chiếu cho báo giới Việt Nam vào ngày 30 tháng 10 năm 2009), do đó, nó đã gây ra một hiện tượng điện ảnh tại Việt Nam. Phòng chiếu 3D luôn kín chỗ ngồi và phải đặt vé trước 2 tuần. Hãng 20th Century Fox cũng yêu cầu Việt Nam thắt chặt kiểm soát nhằm đảm bảo bộ phim không bị lộ ra. Đến ngày 3 tháng 1 năm 2010, doanh thu của phim tại Việt Nam đạt 719.740 USD, đến ngày 10 tháng 1 năm 2010, doanh thu của phim tại thị trường Việt Nam là 835.523 USD và sau khoảng một tháng thì trở thành bộ phim đầu tiên đạt được mốc 1 triệu USD ở thị trường Việt Nam. Tính đến ngày 7 tháng 2 năm 2010 thì Avatar đã thu về 1,38 triệu USD ở Việt Nam. Phim hiện đã ngưng chiếu phiên bản 2D tại khu vực miền Bắc và miền Trung còn bản 3D vẫn tiếp tục được chiếu nhằm phục vụ nhu cầu lớn của khán giả trong dịp Tết. Đây hiện là bộ phim đầu tiên ở Việt Nam được ghi nhận và cập nhật về doanh thu một cách đầy đủ.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Avatar đã giành được giải Oscar lần thứ 82 cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất, Quay phim xuất sắc nhấtHiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất, cũng như được đề cử ở tổng cộng chín hạng mục,[122] bao gồm Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất.[24] Avatar cũng giành được giải Quả cầu vàng lần thứ 67 cho Phim chính kịch hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất, cùng với những đề cử ở hai hạng mục khác.[123] Tại Giải Sao Thổ lần thứ 36, Avatar đã chiến thắng tất cả mười hạng mục mà tác phẩm được đề cử: Phim khoa học viễn tưởng hay nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản xuất sắc nhất, Nhạc phim hay nhất, Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất.

Hiệp hội phê bình phim trực tuyến New York đã vinh danh Avatar với giải Phim hay nhất.[124] Phim cũng đã giành được Giải Critics' Choice của Hiệp hội Phê bình Phim Phát sóng cho Phim hành động hay nhất và một số hạng mục kỹ thuật, trong tổng số chín đề cử.[125] Phim đã giành được hai trong số các giải thưởng của Hiệp hội phê bình phim St. Louis: Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất và Phim nguyên bản, đổi mới hoặc sáng tạo nhất.[126] Tác phẩm cũng đã giành được giải thưởng của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh Quốc (BAFTA) cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất, cùng với đề cử ở sáu hạng mục khác, bao gồm Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.[127] Avatar ngoài ra còn nhận được nhiều giải thưởng, đề cử và danh hiệu lớn khác.

Phiên bản tái phát hành Avatar: Special Edition[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2010, Cameron xác nhận rằng bộ phim sẽ được chiếu lại tại rạp từ ngày 27 tháng 8 năm 2010, độc quyền tại các rạp 3D và IMAX 3D.[128] Avatar: Special Edition bao gồm thêm chín phút cảnh quay, tất cả đều là CG,[129] bao gồm phần mở rộng của cảnh quan hệ tình dục[130] cùng nhiều cảnh khác đã bị cắt khỏi bản phim chiếu rạp gốc.[129] Việc phát hành lại kéo dài này dẫn đến thời lượng của bộ phim tiệm cận với thời lượng tối đa của IMAX là 170 phút, do đó để lại ít thời gian hơn cho phần danh đề kết thúc. Cameron nói rằng chín phút của các cảnh thêm vào tốn hơn 1 triệu USD mộĩ phút để sản xuất và hoàn thành. Trong 12 tuần phát hành lại, Avatar: Special Edition đã thu về thêm 10,74 triệu USD ở Bắc Mỹ và 22,46 triệu USD ở thị trường quốc tế, đạt tổng doanh thu 33,2 triệu USD toàn cầu.

Phiên bản cải tiến tái phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 2022, nó đã thông báo rằng Avatar muốn tái phát hành tại các rạp vào 23 tháng 9, 2022, với cải tiến hình ảnh và âm thanh.[131]

Phần tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim Avatar 2 theo kế hoạch sẽ ra rạp vào dịp Giáng sinh năm 2022, ba phim còn lại lần lượt là Avatar 3, 4 và 5 sẽ nằm trong kế hoạch ra rạp lần lượt vào Giáng sinh năm 2024, 2026 và 2028. Tháng 12 năm 2015, sau khi xem buổi công diễn đầu tiên vở xiếc Toruk: The First Flight tại Montreal, Canada. Đạo diễn James Cameron đã trả lời phỏng vấn báo Montreal Gazette, đã chia sẻ một số điều ông tâm đắc và cho biết vở xiếc lấy cảm hứng từ bộ phim Avatar này có những ảnh hưởng nghệ thuật nhất định đối với ông trong bốn tập tiếp theo của bộ phim bom tấn Avatar (2009). Đoàn làm phim đã mời một cựu diễn viên của công ty xiếc tới hướng dẫn diễn viên những động tác thể hiện giống như các nghệ sĩ đã biểu diễn.[132][133]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ LaFraniere, Sharon (29 tháng 1 năm 2010). “China's Zeal for 'Avatar' Crowds Out 'Confucius'. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  2. ^ a b c d “Avatar (2009)”. AFI Catalog of Feature Films. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  3. ^ AVATAR [2D] version”. Ủy ban phân loại điện ảnh Vương quốc Anh. 8 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014.
  4. ^ a b c Patten, D. (ngày 3 tháng 12 năm 2009). 'Avatar's' True Cost – and Consequences”. The Wrap. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2009.
  5. ^ Wigney, James (15 tháng 8 năm 2010). “Avatar director slams bandwagon jumpers”. Herald Sun. Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010.
  6. ^ French, Philip (ngày 14 tháng 3 năm 2010). “Avatar was the year's real milestone, never mind the results”. The Observer. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2010.
  7. ^ Johnston, Rich (ngày 11 tháng 12 năm 2009). “Review: AVATAR – The Most Expensive American Film Ever… And Possibly The Most Anti-American One Too”. Bleeding Cool. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2010.
  8. ^ Choi, Charles Q. (ngày 28 tháng 12 năm 2009). “Moons like Avatar's Pandora could be found”. MSNBC. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010.
  9. ^ Maria Wilhelm & Dirk Mathison (2009). James Cameron's Avatar: A Confidential Report on the Biological and Social History of Pandora. HarperCollins. tr. 4. ISBN 0-0618-9675-6. Đã bỏ qua tham số không rõ |month= (trợ giúp)Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  10. ^ a b c d Jeff Jensen (ngày 10 tháng 1 năm 2007). “Great Expectations”. Entertainment Weekly. Time Warner. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2007.
  11. ^ a b c Hevrdejs, Judy; Conklin, Mike (9 tháng 8 năm 1996). “Channel 2 has Monday morning team in place”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  12. ^ “Crafting an Alien Language, Hollywood-Style: Professor's Work to Hit the Big Screen in Upcoming Blockbuster Avatar”. USC Marshall. University of Southern California Marshall School of Business. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  13. ^ a b “Avatar Language”. Nine to Noon. ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  14. ^ a b Barnes, Brooks (ngày 20 tháng 12 năm 2009). 'Avatar' Is No. 1 but Without a Record”. The New York Times. The New York Times Company. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009.
  15. ^ a b Fritz, Ben (ngày 20 tháng 12 năm 2009). “Could 'Avatar' hit $1 billion?”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009.
  16. ^ a b Keegan, R. (ngày 3 tháng 12 năm 2009). “How Much Did Avatar Really Cost?”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009.
  17. ^ “James Cameron's 'Avatar' Film to Feature Vocals From Singer Lisbeth Scott”. Newsblaze.com. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009.
  18. ^ David Germain (ngày 17 tháng 1 năm 2010). "Avatar" wins Golden Globes”. Chicago Sun-Times. rogerebert.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. ...[Cameron] has become king of an alien landscape, elevating space fantasy to enormous critical acclaim.
  19. ^ D.E. Williams (ngày 18 tháng 12 năm 2009). "Avatar" director James Cameron back in spotlight”. Reuters. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
  20. ^ Douglas, Edward (ngày 21 tháng 12 năm 2009). “Avatar Soars Despite Heavy Snowstorms”. ComingSoon.net. CraveOnline. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009.
  21. ^ Reporting by Dean Goodman; editing by Anthony Boadle (ngày 20 tháng 12 năm 2009). "Avatar" leads box office, despite blizzard”. Reuters. Thomson Reuters. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  22. ^ “All Time Worldwide Box Office Grosses”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010.
  23. ^ 'Avatar' Wins Box Office, Nears Domestic Record”. ABC News. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010.
  24. ^ a b “List of Academy Award nominations”. CNN. 3 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010.
  25. ^ “10 phim Oscar từng bị cấm chiếu”. VnExpress. ngày 25 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012.
  26. ^ Conan O'Brien (ngày 18 tháng 12 năm 2009). The Tonight Show with Conan O'Brien. Mùa 1. Tập 128. NBC. I was cheap
  27. ^ Kevin Williamson. “Paraplegic role helps Worthington find his feet”. lfpress.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.
  28. ^ a b Jensen, Jeff (10 tháng 1 năm 2007). “Great Expectations (page 2)”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  29. ^ “This week's cover: James Cameron reveals plans for an 'Avatar' sequel”. Entertainment Weekly. ngày 14 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010.
  30. ^ John Horn. “Faces to watch 2009: film, TV, music and Web”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2008.
  31. ^ a b Anne Thompson (ngày 2 tháng 8 năm 2007). “Lang, Rodriguez armed for 'Avatar'. Variety. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007.
  32. ^ Barnes, Jessica (ngày 26 tháng 3 năm 2007). “Michael Biehn Talks 'Avatar' – Cameron Not Using Cameras?”. Cinematical. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
  33. ^ Clint Morris (ngày 2 tháng 8 năm 2007). “Sigouney Weaver talks Avatar. Moviehole.net. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2007.
  34. ^ Ryan Stewart (ngày 21 tháng 2 năm 2008). “Exclusive: Sigourney Weaver Looks to the Future”. Premiere. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008.[liên kết hỏng]
  35. ^ Leslie Simmons (ngày 21 tháng 9 năm 2007). 'Avatar' has new player with Ribisi”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2007.
  36. ^ Cameron, James (2007). “Avatar” (PDF). Avatar Screenings. Fox and its Related Entities. tr. 10. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. Archived version ngày 6 tháng 5 năm 2010 Lưu trữ 2012-05-05 tại Wayback Machine
  37. ^ Lux, Rachel (ngày 14 tháng 12 năm 2009). “Close-Up: Joel David Moore”. altpress.com. Alternative Press Magazine, Inc. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. Archived version ngày 6 tháng 5 năm 2010 Lưu trữ 2012-05-05 tại Wayback Machine
  38. ^ Lewis Bazley (ngày 25 tháng 5 năm 2009). “Drag Me to Hell Review”. inthenews.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009.
  39. ^ Brennan, David (ngày 11 tháng 2 năm 2007). “Avatar Scriptment: Summary, Review, and Analysis”. James Cameron's Movies & Creations. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  40. ^ Thompson, Anne (ngày 9 tháng 1 năm 2007). "Titanic" director sets sci-fi epic for '09”. Reuters. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  41. ^ a b 20th Century Fox (ngày 9 tháng 1 năm 2007). “Cameron's Avatar Starts Filming in April”. ComingSoon.net. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
  42. ^ IGN Staff (ngày 30 tháng 4 năm 2007). “Pounder Talks Avatar”. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2009.
  43. ^ a b c Ordoña, Michael (13 tháng 12 năm 2009). “Eye-popping 'Avatar' pioneers new technology”. San Francisco Chronicle. Hearst Communications Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  44. ^ “James Cameron: Yes, 'Avatar' is 'Dances with Wolves' in space ... sorta”. Los Angeles Times. 14 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009.
  45. ^ a b Ito, Tokuhiro (25 tháng 12 năm 2009). “新作「アバター」宮崎アニメにオマージュ J・キャメロン監督 (New Film Avatar Homage to Miyazaki's Animated Film: J. Cameron)”. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2010.
  46. ^ Acuna, Kirsten (13 tháng 12 năm 2012). “James Cameron Swears He Didn't Rip Off The Idea For 'Avatar'. Business Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  47. ^ a b c d Gardner, Eriq (10 tháng 12 năm 2012). “Read James Cameron's Sworn Declaration on How He Created 'Avatar' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  48. ^ Keegan, Rebecca Winters (11 tháng 1 năm 2007). “Q&A with James Cameron”. Time. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  49. ^ Schrodt, Paul (1 tháng 4 năm 2017). “How the original 'Ghost in the Shell' changed sci-fi and the way we think about the future”. Business Insider. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2019.
  50. ^ Rose, Steve (19 tháng 10 năm 2009). “Hollywood is haunted by Ghost in the Shell. TheGuardian.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2011.
  51. ^ In Hinduism, the human manifestations of several deities, including Vishnu, Krishna, and Rama, have blue-colored skin.
  52. ^ Svetkey, Benjamin (15 tháng 1 năm 2010). 'Avatar:' 11 Burning Questions”. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2010.
  53. ^ a b Eric Ditzian, with reporting by Josh Horowitz (7 tháng 1 năm 2010). “James Cameron Compares His 'Avatar' And 'Titanic' Couples. The director notes the similarities between Sully and Neytiri, and Jack and Rose”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2010.
  54. ^ Woerner, Meredith (24 tháng 7 năm 2009). “James Cameron Fought the Studio to Keep His Aliens Weird in "Avatar". io9. Gizmodo. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  55. ^ “James Cameron en Chine pour faire la publicité de son film Avatar”. peopledaily.com.cn (bằng tiếng Pháp). 24 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2009.
  56. ^ a b Anders, Charlie Jane (14 tháng 1 năm 2010). “Avatar's Designers Speak: Floating Mountains, AMP Suits And The Dragon”. io9. Gizmodo. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  57. ^ Kontis, Nick (17 tháng 12 năm 2019). “Zhangjiajie, China: Get hyped for 'Avatar 2' by visiting the place that inspired the film”. USA Today (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2020.
  58. ^ “Noble Clyde Boudreaux - Rig Specifications”. Noble Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010.
  59. ^ “Avatar Designs Based on Drilling Rig”. ComingSoon.net. 12 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  60. ^ 'Avatar Friday': fans will be shown preview of James Cameron's 3-D film”. The Daily Telegraph. London. Associated Press. 18 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2010.
  61. ^ a b Hoyle, Ben (11 tháng 12 năm 2009). “War on Terror backdrop to James Cameron's Avatar”. The Australian. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009.
  62. ^ Anderson, John (10 tháng 12 năm 2009). “Alternate World, Alternate Technology”. The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2009.
  63. ^ Murphy, Mekado (21 tháng 12 năm 2009). “A Few Questions for James Cameron”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2010.
  64. ^ a b “Synthetic actors to star in Avatar. St. Petersburg Times. Times Publishing Company. ngày 12 tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.[liên kết hỏng]
  65. ^ a b c d e f R Grover & Lowry, T. and White, M. (ngày 21 tháng 1 năm 2010). “King of the World (Again)”. BusinessWeek. Bloomberg. tr. 1–4. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  66. ^ Harry Knowles (ngày 28 tháng 2 năm 2006). “Harry talks to James Cameron, Cracks PROJECT 880, the BATTLE ANGEL trilogy & Cameron's live shoot on Mars!!!”. Ain't It Cool News. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2006.
  67. ^ John Horn (ngày 8 tháng 1 năm 2007). “Director Cameron to shoot again”. Los Angeles Times.
  68. ^ Kozlowski, Lori (ngày 2 tháng 1 năm 2010). 'Avatar' team brought in UC Riverside professor to dig in the dirt of Pandora”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
  69. ^ “Avatar Concept Designer Reveals the Secrets of the Na'vi”. io9. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010.
  70. ^ Kendricks, Neil (ngày 7 tháng 3 năm 2010). “Cameron, the Science Geek Who Became a Movie Titan for the Ages”. Union-Tribune. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010.
  71. ^ Crabtree, Sheigh (ngày 7 tháng 7 năm 2006). “Cameron comes back with CG extravaganza”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2006.
  72. ^ Smith, Lynn (ngày 4 tháng 8 năm 2006). “Special-Effects Giant Signs on for 'Avatar'”. Los Angeles Times.
  73. ^ Jody Duncan & James Cameron (2006). The Winston Effect. Titan Books. ISBN 1845761502.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  74. ^ “Avatar Started As A Four-Month, Late-Night Jam Session At James Cameron's House”. ngày 10 tháng 12 năm 2009.
  75. ^ Waters, Jen (ngày 28 tháng 9 năm 2006). “Technology adds more in-depth feeling to the movie experience”. The Washington Times. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2006.
  76. ^ Jody Duncan & Lisa Fitzpatrick (2010). The Making of Avatar. United States: Abrams Books. tr. 52. ISBN 0-8109-9706-1.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  77. ^ a b Rampton, James (19 tháng 12 năm 2006). “James Cameron: King of all he surveys”. The Independent. London. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2006.
  78. ^ Waxman, Sharon (8 tháng 1 năm 2007). 'Titanic' Director Joins Fox on $200 Million Film”. The New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  79. ^ Thompson, Anne (tháng 1 năm 2010). “How James Cameron's Innovative New 3D Tech Created Avatar. Popular Mechanics. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  80. ^ Cohen, David S. (10 tháng 4 năm 2008). “James Cameron supercharges 3-D”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009.
  81. ^ Thompson, Anne (9 tháng 1 năm 2007). “Cameron sets live-action, CG epic for 2009”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  82. ^ Abramowitz, Rachel (19 tháng 2 năm 2009). “Do the 'Avatar' actors deserve recognition?”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2010.
  83. ^ Chang, Aldric (20 tháng 8 năm 2009). “Reading Between the Lines: First Image of James Cameron's Avatar”. media-freaks.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015.
  84. ^ a b James Cameron and production team (19 tháng 1 năm 2010). 'Avatar' Creating the World of Pandora (Video). Yahoo! Video. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2010.
  85. ^ Cameron, James; Cameron, Suzy Amis (4 tháng 12 năm 2017). “Animal agriculture is choking the Earth and making us sick. We must act now | James Cameron and Suzy Amis Cameron”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017.
  86. ^ Waxman, Sharon (9 tháng 1 năm 2007). “Computers Join Actors in Hybrids On Screen”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007.
  87. ^ Terdiman, Daniel (1 tháng 2 năm 2010). 'Avatar' Oscars could make Weta household name”. CNET. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014.
  88. ^ McConnon, Aili (2 tháng 4 năm 2007). “James Cameron on the Cutting Edge”. Bloomberg BusinessWeek. Bloomberg. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009.
  89. ^ Kaufman, Amy (25 tháng 7 năm 2009). “Jackson, Cameron Saddened by State of Film Industry (Video)”. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010.
  90. ^ Williams, Phillip (19 tháng 1 năm 2010). “James Cameron Mixes It Up With Avatar”. MovieMaker. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014.
  91. ^ Gelten, Larry (31 tháng 1 năm 2010). “2nd look: 'Avatar'. New York Post. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010.
  92. ^ Wakefield, Philip (December 19–25, 2009). “Close encounters of the 3D kind”. The Listener. 3632. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.Quản lý CS1: định dạng ngày tháng (liên kết)
  93. ^ Siegel, Jake (5 tháng 2 năm 2010). “Cameron Says Microsoft's Role in 'Avatar' Was Key”. Microsoft. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  94. ^ Ericson, Jim (2 tháng 1 năm 2010). “Overheard: AVATAR's Data Center”. Information Management. Information Management: 26. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2020.
  95. ^ Ericson, Jim (21 tháng 12 năm 2009). “Processing AVATAR”. SourceMedia. Information Management. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010.
  96. ^ Paul, Ryan (26 tháng 3 năm 2010). “Cloudy with a chance of Linux: Canonical aims to cash in”. Arstechnica.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2010.
  97. ^ Rowe, Robin (1 tháng 3 năm 2009). “The Day the Earth Stood Still”. Linux Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2010.
  98. ^ Hellard, Paul (25 tháng 5 năm 2010). “Jack Greasley, developer and Product Manager at The Foundry, takes CGSociety for a look around Mari, the new texture application”. cgsociety.org. CG Society. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  99. ^ Seymour, Mike (29 tháng 3 năm 2010). “Exclusive: Foundry NAB Preview”. fxguide.com. FX Guide. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  100. ^ Masters, Tim (16 tháng 12 năm 2009). “Will Avatar crown James Cameron 'King of the Universe'?”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010.
  101. ^ Rath, John (22 tháng 12 năm 2009). “The Data-Crunching Powerhouse Behind 'Avatar'. Datacenterknowledge.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2010.
  102. ^ Osborne, Doug (24 tháng 12 năm 2009). “The computing power that created Avatar”. Geek.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014.
  103. ^ Terdiman, Daniel (19 tháng 12 năm 2009). “ILM steps in to help finish 'Avatar' visual effects”. CNET. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014.
  104. ^ Giardina, Carolyn (12 tháng 10 năm 2017). 'Avatar' VFX Supervisor Joe Letteri Will be Feted by Visual Effects Society”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2017.
  105. ^ “Fox confirms Horner on Cameron's 'Avatar' (PDF). filmmusicweekly.com. 19 tháng 6 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010.
  106. ^ Dorey, Jim (2 tháng 4 năm 2008). “Na'vi Alien Language Incorporated In "Avatar" Music Soundtrack”. MarketSaw Blog. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2008.
  107. ^ Lucas, Ann (Fall 2007). “Alumni News” (PDF). UCLA Department of Ethnomusicology. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008.
  108. ^ Carlsson, Mikael (3 tháng 1 năm 2009). “Top-10 Most Anticipated Scores of 2009”. Upcoming Film Scores. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
  109. ^ Vaughan, Owen (30 tháng 11 năm 2009). “James Horner: 'Scoring Avatar has been the most difficult job I've done'. The Times. London. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010.(Cần đăng ký mua.)
  110. ^ Fukushima, Glenn (16 tháng 11 năm 2009). “Atlantic Unveils "AVATAR: MUSIC FROM THE MOTION PICTURE"; Official Companion Album to James Cameron's Upcoming Epic Adventure Features Music Composed & Conducted by Oscar-Winner James Horner, Plus "I See You (Theme From Avatar)," Performed by Leona Lewis”. Marketwired. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2009.
  111. ^ “The Numbers News”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  112. ^ “Avatar (2009)”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  113. ^ “UPDATE #3: Avatar Soars Despite Heavy Snowstorms - ComingSoon.net”. ComingSoon.net. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  114. ^ “UPDATE 1”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  115. ^ http://boxofficemojo.com/weekend/chart/?view=&yr=2009&wknd=52&p=.htm
  116. ^ “Top Grossing Movies in Their 2nd Weekend at the Box Office”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  117. ^ “Top Grossing Movies in Their 3rd Weekend at the Box Office”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  118. ^ “Top Grossing Movies in Their 4th Weekend at the Box Office”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  119. ^ 'Avatar' tops billion dollars, fastest ever: movie tracker”. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  120. ^ “Avatar”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  121. ^ a b http://www.boxofficemojo.com/alltime/world/
  122. ^ “The 82nd Academy Awards (2010) Nominees and Winners”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012.
  123. ^ “Golden Globe Winners List 2010”. Moviefone. 17 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
  124. ^ Davis, Don (14 tháng 12 năm 2009). “N.Y. Online Critics like 'Avatar'. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  125. ^ Child, Ben (15 tháng 12 năm 2009). “Tarantino's Inglourious Basterds dominates Critics' Choice awards”. The Guardian. UK. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  126. ^ Robinson, Anna (21 tháng 12 năm 2009). “St. Louis Film Critics Awards 2009”. altfg.com. Alt Film Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  127. ^ “Film Awards Winners”. British Academy of Film and Television Arts. 21 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
  128. ^ Kilday, Greg; DiOrio, Carl (8 tháng 7 năm 2010). 'Avatar: Special Edition' 3D coming to theaters”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010.
  129. ^ a b Dorey, Jim (7 tháng 8 năm 2010). “EXCLUSIVE: James Cameron Interview! Talks AVATAR Re-release, Sequels, 3D Conversions & Working With Del Toro!”. marketsaw.blogspot.com. MarketSaw. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  130. ^ Warner, Kara (11 tháng 8 năm 2010). 'Avatar' Director James Cameron Talks 'Alien Kink Scene'. MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  131. ^ Giardina, Carolyn (27 tháng 4 năm 2022). 'Avatar 2' Footage Astonishes Audience at CinemaCon”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2022.
  132. ^ “Vở xiếc Toruk tạo cảm hứng cho phần tiếp theo của Avatar”.
  133. ^ “Toruk - The First Flight”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]