Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Steven Spielberg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Steven Spielberg
Ready Player One Japan Premiere Red Carpet Steven Spielberg (41564865232).jpg
Steven Spielberg tại sự kiện ra mắt phim
Ready Player One: Đấu trường ảo ở Nhật Bản
SinhSteven Allan Spielberg
18 tháng 12, 1946 (73 tuổi)
Cincinnati, Ohio, Mỹ
Học vấnĐại học California tại Long Beach
Nghề nghiệpNhà sản xuất phim, đạo diễn phim, nhà biên kịch
Tài sản3,7 tỉ USD (2018)[1]
Chiều cao1,72 m (5 ft 7 12 in)
Năm hoạt động1969–nay
Phối ngẫu
Amy Irving
(kh. 1985⁠–⁠1989)

Kate Capshaw
(kh. 1991)
Con cái7 (bao gồm Jessica CapshawSasha Spielberg)
Cha mẹ
Người thânAnne Spielberg (em gái), Nancy Spielberg (chị gái), Sue Spielberg (chị gái)
Chữ ký
Steven Spielberg Signature.png

Steven Allan Spielberg KBE (/ˈsplbɜːrɡ/; sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946) là một nhà làm phim người Mỹ. Ông được coi là một trong những người tiên phong của kỷ nguyên điện ảnh New Hollywood và là một trong những đạo diễn và nhà sản xuất điện ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử.[2] Sau khi có được sự chú ý từ Hollywood với một số các tác phẩm chiếu rạp nhỏ lẻ, Spielberg bắt đầu nổi lên sau khi dự án Hàm cá mập (1975) mà ông đóng vai trò đạo diễn được ra mắt, và giành được thành công lớn về mặt chuyên môn cũng như thương mại, đồng thời mở ra định nghĩa mới về phim bom tấn mùa hè.[3] Các tác phẩm sau đó của ông chủ yếu đi theo thể loại khoa học viễn tưởng như Kiểu tiếp xúc thứ 3 (1977), loạt phim Indiana Jones, E.T. Sinh vật ngoài hành tinh (1982), và loạt phim Công viên kỷ Jura vốn được coi như nguyên mẫu của lối làm phim Hollywood theo trường phái thoát ly.[4]

Spielberg sau đó chuyển sang đào sâu về chủ nghĩa nhân văn trong các tác phẩm điện ảnh tiếp theo của sự nghiệp, được thể hiện rõ nhất qua Màu tím (1985), Đế chế mặt trời (1987), Bản danh sách của Schindler (1993), Amistad (1997) và Giải cứu binh nhì Ryan (1998). Ông tiếp tục theo sát chủ đề này trong các dự án đầu thế kỷ 21, nổi bật là các bộ phim được đánh giá cao về mặt chuyên môn như Munich (2005), Lincoln (2012), Người đàm phán (2015) và The Post (2017).

Phong cách đạo diễn và công nghệ làm phim của Spielberg được nhiều nhà phê bình đánh giá cao, việc sử dụng các cảnh quay phản chiếu, khuếch đại hiệu ứng thị giác, và sử dụng các cảnh quay cận cho các tình huống biểu lộ sự ngạc nhiên, thường được gọi bằng tên "Spielberg Face", vẫn tồn tại cho tới ngày nay.[5] Ông cũng được biết đến với việc cộng tác lâu dài với một số diễn viên, nhà sản xuất và kỹ sư điện ảnh tên tuổi, ví dụ như nhà soạn nhạc John Williams hay nam diễn viên Tom Hanks.

Ngoài công tác đạo diễn điện ảnh, Spielberg còn là nhà đồng sáng lập của hai hãng phim Amblin EntertainmentDreamWorks, tại đây ông cũng đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất cho nhiều bộ phim thành công, trong đó có Yêu tinh, loạt phim Điệp viên áo đen, Trở lại tương laiTransformers. Spielberg sau đó cũng tham gia sản xuất một vài trò chơi trong lĩnh vực trò chơi điện tử.

Steven Spielberg là một trong những nhà làm phim thành công nhất về mặt chuyên môn trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, với hai lần chiến thắng giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất.[6] Một vài bộ phim do ông đạo diễn nằm trong số những phim điện ảnh có doanh thu cao nhất lịch sử, đồng thời ông cũng là đạo diễn có doanh thu phim cao nhất mọi thời đại.[7] Được biết, tài sản của Spielberg có giá trị lên đến hơn 3 tỉ USD.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946 tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio,[8][9] trong một gia đình Do Thái.[a][10][11][12] Mẹ ông, Leahanni (nhũ danh Posner, sau này là Adler; 12 tháng 1 năm 1920 - 21 tháng 2 năm 2017),[13] là một nghệ sĩ đàn dương cầm, còn bố ông, Arnold Spielberg (sinh năm 1917), là một kỹ sư chuyên ngành kỹ thuật điện.[14] Ông bà nội của Spielberg đều là người Ukraine gốc Do Thái,[15][16] đã định cư ở Cincinnati vào những năm 1900; bà của Spielberg đến từ Sudylkiv, trong khi ông của Spielberg thì đến từ Kamianets-Podilskyi.[17][18] Năm 1950, gia đình ông chuyển đến thị trấn Haddon, New Jersey, khi cha ông làm việc ở công ty RCA. Ba năm sau, họ lại chuyển đến thành phố Phoenix thuộc bang Arizona.[19] Sau đó Spielberg theo học trường dạy tiếng Do Thái từ năm 1953 đến 1957, do Rabbi Albert L. Lewis giảng dạy.[20]

Khi còn là một đứa trẻ, Spielberg phải đối mặt với khó khăn trong việc trở thành một người Do Thái chính thống vì nhận thức của những người bạn mà ông chơi cùng. "Đó không phải là điều tôi muốn thừa nhận," Spielberg bày tỏ, "Nhưng khi tôi lên 9, tôi bắt đầu xấu hổ vì chúng tôi là người Do Thái. Tôi cảm thấy xấu hổ vì nhận thức của mọi người. Tôi không bao giờ hối hận khi là người Do Thái, nhưng đôi lúc tôi cũng cảm thấy khó chịu."[21][22] Spielberg cũng nói rằng ông phải chịu đựng những hành vi định kiến và bị bắt nạt: "Ở trường trung học, tôi bị đánh và đá, thậm chí làm cho mũi tôi gãy. Thật kinh khủng."[23][24][25] Năm 12 tuổi, ông thực hiện bộ phim đầu tiên tại nhà bằng mô hình đồ chơi Lionel, với nội dung chính là một vụ tai nạn tàu hỏa. Trong suốt thời niên thiếu, và sau khi vào cấp ba, Spielberg tiếp tục làm những bộ phim nghiệp dư 8 mm đề tài "mạo hiểm" với bạn bè.[26]

Năm 1958, ông trở thành một hướng đạo sinh và đã nhận được giải thưởng Distinguished Eagle Scout Award nhờ việc thực hiện một bộ phim dài 8 phút có tựa đề Cuộc đấu súng cuối cùng.[27] Nhiều năm sau, Spielberg nhớ lại: "Máy ảnh tĩnh của cha tôi bị hỏng, vì vậy tôi đã hỏi người hướng đạo xem tôi có thể kể chuyện bằng máy quay phim của cha tôi không. Ông ấy nói có, và tôi nảy ra ý tưởng cho một bộ phim. Tôi đã làm nó và nhận được bằng khen của mình. Đó là cách mà mọi thứ bắt đầu."[28] Năm 13 tuổi, khi sống ở Phoenix, Spielberg đã giành giải thưởng đầu tiên với một bộ phim 40 phút về đề tài "chiến tranh" mà ông đặt tên là Escape to Nowhere, với dàn diễn viên gồm những bạn học của ông.[29] Điều đó đã thúc đẩy ông làm thêm 15 bộ phim nghiệp dư 8 mm khác.

Một số tác phẩm mà Spielberg nói rằng có ảnh hưởng lớn với ông bao gồm King of the Monsters (1956), mà ông gọi là "bậc thầy của tất cả các bộ phim về khủng long bởi vì nó khiến bạn tin rằng nó đã thực sự xảy ra",[30] cũng như như Captains Courageous (1937), Pinocchio (1940), và đặc biệt là Lawrence xứ Ả Rập (1962), bộ phim ông đã nói rằng "đã đưa tôi vào cuộc hành trình của mình".[31] Năm 1963, ở tuổi 16, Spielberg đã viết và đạo diễn bộ phim độc lập đầu tiên của mình, một bộ phim phiêu lưu khoa học viễn tưởng dài 140 phút có tên Firelight, đã tạo cảm hứng cho một tác phẩm lớn của Spielberg sau này là Kiểu tiếp xúc thứ 3. Firelight với ngân sách 400 USD đã được chiếu ở một rạp địa phương và thu về 100 USD.[32] Một nhà báo ở thành phố Phoenix khi đó đã viết rằng cậu học sinh này sau đó có thể làm được những tác phẩm lớn.[33]

Sau khi theo học tại trường trung học Arcadia ở Phoenix trong ba năm, gia đình ông tiếp tục chuyển đến Saratoga, California, sau đó ông tốt nghiệp trường trung học Saratoga vào năm 1965. Sau khi bố mẹ ly dị, Steven Spielberg chuyển đến tiểu bang California ở với bố trong khi ba em gái và bà mẹ vẫn ở lại Arizona. Mục tiêu dài hạn của ông là trở thành một đạo diễn phim. Tại đây, Spielberg đăng ký tới ba lần vào trường điện ảnh của Đại học California tại Los Angeles và trường điện ảnh truyền hình của Đại học Nam California nhưng đều không được nhận vì chỉ tốt nghiệp cấp III với điểm trung bình loại C. Cuối cùng, cậu thanh niên Spielberg vào học tại Đại học California tại Long Beach để tránh phải đi lính trong Chiến tranh Việt Nam.[b][29]

Cũng tại đây Spielberg bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp điện ảnh với công việc thực tập không lương ở bộ phận biên tập của hãng phim Universal.[34][35] Năm 1968, ông làm bộ phim ngắn đầu tiên để chiếu rạp, đó là bộ phim dài 26 phút với tựa đề Amblin', do ông viết và đạo diễn. Sidney Sheinberg, người sau đó trở thành phó chủ tịch của Universal đã rất ấn tượng với bộ phim và đề nghị Spielberg ký hợp đồng bảy năm. Ngay lập tức Spielberg trở thành đạo diễn trẻ nhất trong lịch sử được ký hợp đồng dài hạn với một trong những hãng phim lớn ở Hollywood. Ông đã bỏ học và bắt đầu sự nghiệp đạo diễn chuyên nghiệp ở Universal.[36][37] Spielberg sau đó trở lại Đại học bang California, Long Beach và hoàn thành bằng cử nhân về Nghệ thuật Điện ảnh và Điện tử năm 2002.[38]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc đầu tiên của Spielberg ở hãng truyền hình của Universal là thực hiện một phần cho kịch bản phim truyền hình Night Gallery trong tập phim Eyes, được biên kịch bởi Rod Serling và có sự tham gia của Joan Crawford.[39] Crawford, lúc đó đã "không nói nên lời, và sau đó kinh hoàng" khi nghĩ về một người chỉ mới hai mươi mốt tuổi sẽ chỉ đạo bà, một trong những ngôi sao hàng đầu của Hollywood. "Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?" bà hỏi nhà sản xuất.[40] Nhưng thái độ của bà đã thay đổi sau khi họ bắt đầu thực hiện các cảnh quay:

Khi tôi bắt đầu làm việc với Steven, tôi đã hiểu ra tất cả mọi thứ. Điều đó ngay lập tức ập đến với tôi, và có lẽ những người khác cũng thế, rằng đây là một thiên tài trẻ. Tôi nghĩ rằng có nhiều kinh nghiệm là điều cần thiết, nhưng sau đó tôi nghĩ đến những đạo diễn có kinh nghiệm, những người không có cảm hứng trực giác của Steven và những người cứ lặp đi lặp lại những phần đoạn cũ. Điều đó được gọi là "kinh nghiệm." Sau đó tôi biết rằng Steven Spielberg có một tương lai rực rỡ ở phía trước. Hollywood không phải lúc nào cũng nhận ra tài năng, nhưng Steven sẽ không bị xem nhẹ. Tôi đã nói với anh ấy như vậy trong một tờ giấy tôi đã viết cho anh ấy. Tôi cũng viết thư cho Rod Serling. Tôi rất biết ơn anh ấy vì đã chấp thuận cho Steven làm đạo diễn. Tôi nói với anh ấy anh ấy đã hoàn toàn đúng.[40]

Crawford và Spielberg trở thành bạn thân với nhau cho đến khi bà qua đời. Sau này, Spielberg được làm một tập phim truyền hình thực sự, đó là tập L.A. 2017 trong loạt phim Name of the Game. Tập phim khoa học viễn tưởng này đã gây ấn tượng với hãng phim Universal và họ ký hợp đồng ngắn hạn với Spielberg. Ông đã chỉ đạo một phân cảnh khác trong Night Gallery và đạo diễn một số bộ phim truyền hình như Owen Marshall: Counselor at lawThe Psychiatrist, trước khi phát hành tập đầu tiên của Columbo.

Ngoài ra, ông còn thực hiện ba bộ phim chiếu trên truyền hình, Duel,[c] Something Evil[d]Savage.[e] Bộ phim dài chiếu rạp đầu tiên của ông là The Sugarland Express kể về một đôi vợ chồng bị cảnh sát săn đuổi vì họ cố giành lại quyền nuôi dưỡng con của mình. Những cảnh săn đuổi được giới phê bình đánh giá cao, và được The Hollywood Reporter gọi là "Một đạo diễn mới nổi, một tài năng đang lên".[8]:223 Tuy nhiên, bộ phim lại không thành công về mặt thương mại và chỉ được phát hành hạn chế. tuy nhiên bộ phim không thành công về mặt thương mại và chỉ được phát hành hạn chế.

Bước ngoặt cho sự nghiệp của Spielberg đến khi hai nhà sản xuất Richard ZanuckDavid Brown đề nghị ông làm đạo diễn cho Hàm cá mập, một bộ phim kinh dị dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của Peter Benchley kể về một con cá mập khổng lồ ăn thịt người. Mặc dù thành công vang dội nhưng bộ phim đã gần như bị ngưng sản xuất do bị trì hoãn và ngân sách quá hạn. Nhưng Spielberg vẫn kiên trì và hoàn thành bộ phim. Hàm cá mập sau đó đã giành được 3 giải Oscar (cho biên tập, thu âm và tiếng động), và đã thu về hơn 470 triệu USD trên toàn thế giới. Phim cũng lập kỷ lục nội địa về doanh thu phòng vé, thậm chí bộ phim còn tạo nên một cơn sốt trong công chúng được báo chí đặt tên là "Jawsmania". Hàm cá mập đã biến Spielberg thành một cái tên quen thuộc và là một trong những triệu phú trẻ nhất nước Mỹ, cho phép ông thực hiện rất nhiều dự án sau này.[8]:250 Hàm cá mập cũng được đề cử Phim hay nhất và được xem là lần hợp tác đầu tiên của Spielberg với nam diễn viên Richard Dreyfuss.

Hàm cá mập, bộ phim thành công đầu tay của Steven Spielberg

Sau khi từ chối chỉ đạo Hàm cá mập 2,[41] King KongSuperman, Spielberg và diễn viên Richard Dreyfuss tái hợp trong một bộ phim mới sản xuất năm 1977, một tác phẩm về những vật thể bay không xác định có tên Kiểu tiếp xúc thứ 3. Là một trong số ít phim Spielberg vừa viết kịch bản vừa đạo diễn, Close Encounters đã trở thành một sản phẩm ăn khách và đem lại cho ông đề cử đầu tiên ở giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim giành được hai giải Oscar cho quay phim và hiệu ứng âm thanh, nhưng quan trọng hơn nó đã khẳng định khả năng đạo diễn cho những bộ phim bom tấn của Spielberg.

Thành công của Steven Spielberg với các bộ phim thương mại lại làm giới phê bình phim coi thường những tác phẩm tiếp theo của ông. Bộ phim tiếp theo của Spielberg là 1941, một tác phẩm tốn kém về đề tài Chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng lại bị cả giới phê bình và người xem chê bai (mặc dù phim đã thu về 92,4 triệu USD trên toàn thế giới và đã kiếm được một khoản lợi nhuận nhỏ cho các hãng phim đồng sản xuất Columbia và Universal).[42] Spielberg đã xem lại dự án Close Encounters của mình và, với sự hỗ trợ tài chính từ Columbia Pictures, ông phát hành Close Encounters: The Special Edition vào năm 1980. Trong bộ phim này, Spielberg đã sửa một số lỗi ở phiên bản gốc năm 1977 và bổ sung thêm một số cảnh quay (chủ yếu là tình mẫu tử ở cuối phim). Tuy nhiên, bản làm lại chỉ là một thành công vừa phải, trong khi việc phát hành đĩa DVD năm 2001 mới khôi phục lại kết thúc ban đầu.

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau đó, Spielberg đã hợp tác cùng tác giả của loạt phim Chiến tranh giữa các vì saoGeorge Lucas để làm bộ phim Indiana Jones và chiếc rương thánh tích, tập đầu tiên của bộ ba phim nổi tiếng Indiana Jones do diễn viên Harrison Ford thủ vai tiến sĩ khảo cổ Indiana Jones. Bộ phim được coi là một sự tri ân đối với những sê-ri cliffhanger[f] của Thời hoàng kim ở Hollywood. Bộ phim đã đạt doanh thu cao nhất năm 1981 và gặt hái được đề cử vài giải Oscar, trong đó có Đạo diễn xuất sắc thứ hai cho Spielberg và Phim hay nhất (bộ phim thứ hai của ông được đề cử giải này). Cho đến ngày nay tác phẩm này vẫn được coi như một bước ngoặt của thể loại phim hành động. Với vai diễn Indiana Jones, Ford cũng đã nhận được những lời mời cho nhiều dự án khác nhau (một trong số đó là bộ phim nổi tiếng Blade Runner của Ridley Scott).[43]

Một năm sau, Spielberg trở lại với đề tài khoa học viễn tưởng quen thuộc với tác phẩm E.T. Sinh vật ngoài hành tinh, câu chuyện về tình bạn giữa một chú bé và một người ngoài hành tinh đang cố gắng quay trở về nhà trong vũ trụ. E.T. đã trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại (kỷ lục này chỉ bị phá vỡ bởi Công viên kỷ Jura, một tác phẩm khác của Spielberg). Ngoài ra phim còn được đề cử rất nhiều giải Oscar, trong đó có Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất (đề cử thứ ba của Spielberg) đã giành được bốn giải trong số đó.[44] Trong khoảng thời gian từ năm 1982 - 1985, Spielberg đã sản xuất những bộ phim ăn khách khác là Poltergeist (đồng biên kịch), Twilight Zone (chỉ đạo phân đoạn "Kick The Can")[45]The Goonies (giám đốc sản xuất, ông cũng đã viết một câu chuyện dựa trên kịch bản bộ phim). Spielberg cũng đã xuất hiện với tư cách khách mời trên một video âm nhạc của Cyndi Lauper cho bài hát chủ đề của bộ phim, "The Goonies 'R' Good Enough".[46]

Steven Spielberg và Chandran Rutnam tại một địa điểm ở Sri Lanka trong quá trình quay phim Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc..

Spielberg và George Lucas sau đó lại cùng hợp tác làm tập Indiana Jones tiếp theo với tựa đề Indiana Jones Và Ngôi Đền Tàn Khốc. Do tập phim này và Yêu tinh (đều được sản xuất bởi Spielberg) có yếu tố bạo lực cao trong khi nhắm vào đối tượng nhỏ tuổi nên đã dẫn đến việc tạo ra hệ thống phân loại PG-13. Tuy nhiên, Ngôi Đền Tàn Khốc lại được MPAA phân loại PG, mặc dù đây là phần phim đen tối và bạo lực nhất trong toàn bộ loạt phim. Đây cũng là một thành công thương mại, tuy nhiên lại không được đánh giá cao như phần đầu. Chính trong dự án này, Spielberg cũng đã gặp người vợ tương lai của mình, nữ diễn viên Kate Capshaw.[47]

Năm 1985, Spielberg cho ra mắt bộ phim Màu tím, được chuyển thể từ tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer cùng tên của Alice Walker, nói về một thế hệ phụ nữ gốc Phi và những vấn đề mà họ gặp phải trong thâp niên 1900. Bộ phim có sự tham gia của hai nữ diễn viên da màu sau đó rất nổi tiếng là Whoopi GoldbergOprah Winfrey. Màu tím tương đối thành công về mặt doanh thu và được giới chuyên môn đánh giá cao khi nhận xét Spielberg đã thành công với dòng phim chính kịch. Nhà phê bình phim Roger Ebert tuyên bố đây là bộ phim hay nhất năm và đưa vào "Thư viện phim ảnh" của mình. Màu tím cũng được đề cử 11 giải Oscar, trong đó có 2 đề cử cho Goldberg và Winfrey. Tuy nhiên, Spielberg lại không nhận được đề cử Đạo diễn xuất sắc nhất.

Năm 1987, ngay khi Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài, Spielberg đã quay bộ phim Mỹ đầu tiên ở Thượng Hải kể từ thập niên 1930, Đế chế mặt trời, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết tự truyện Empire of the Sun của J. G. Ballard, với sự tham gia của John MalkovichChristian Bale. Tuy không thành công khi công chiếu ngoài rạp, bộ phim lại được giới phê bình khen ngợi và được đề cử một số giải Oscar. Nhà phê bình Andrew Sarris gọi đây là bộ phim hay nhất của năm và sau đó đưa nó vào danh sách một trong những bộ phim hay nhất thập kỷ.[48] Spielberg cũng là nhà đồng sản xuất bộ phim năm 1987 Batteries Not Included.

Năm 1989, Spielberg bắt tay vào làm phần 3 của loạt phim "Indiana Jones" với tựa đề Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng. Một lần nữa ông hợp tác với Lucas và Ford, Spielberg cũng cho nam diễn viên Sean Connery vào một vai phụ trong phim, đó là bố của Indi. Bộ phim được đánh giá cao và trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất toàn cầu năm đó; tổng doanh thu phòng vé của nó thậm chí còn vượt qua cả Người Dơi rất được mong đợi của Tim Burton (mặt dù doanh thu nội địa lại không cao bằng). Đây được xem là phần kết tốt cho loạt phim Indiana Jones nổi tiếng. Cũng trong năm 1989, ông tái hợp với nam diễn viên Richard Dreyfuss trong bộ phim hài kịch lãng mạn Always, nói về một phi công tìm cách dập tắt đám cháy rừng. Tuy nhiên, Always chỉ thành công vừa phải và bị đánh giá trái chiều.

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg trong tháng 3 năm 1990

Vào năm 1991, Spielberg đạo diễn Hook, kể về nhân vật Peter Pan ở độ tuổi trung niên do Robin Williams thủ vai. Mặc dù kịch bản bị thay đổi nhiều lần cùng với những ý kiến ​​trái chiều từ giới chuyên môn, bộ phim lại được khán giả yêu thích và thu về được hơn 300 triệu đô la trên toàn thế giới (so với kinh phí 70 triệu USD).

Năm 1993 có thể coi là năm thành công nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Spielberg cho đến ngày hôm nay khi ông cho ra đời liền hai bộ phim được đánh giá rất cao trong lịch sử điện ảnh. Bộ phim đầu tiên thuộc thể loại khoa học giả tưởng và phiêu lưu quen thuộc của Spielberg, dựa theo cuốn tiểu thuyết của Michael Crichton có tên Công viên kỷ Jura kể về những con khủng long ăn thịt người. Với những hiệu ứng hình ảnh mang tính cách mạng được làm bởi hãng Industrial Light and Magic của người bạn George Lucas, Công viên kỷ Jura đã trở thành bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ với doanh thu toàn cầu là 914,7 triệu USD. Đây là lần thứ ba một trong những bộ phim của Spielberg trở thành phim có doanh thu cao nhất từ trước tới nay.

Bộ phim thứ hai của Spielberg trong năm này là Bản danh sách của Schindler, dựa trên câu chuyện có thật của nhà công nghiệp Oskar Schindler, người đã mạo hiểm tính mạng của mình để cứu sống 1.100 người Do Thái khỏi nạn diệt chủng Holocaust.[49] Bản danh sách của Schindler đã mang lại cho Spielberg giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất đầu tiên và cũng giành luôn giải Oscar cho Phim hay nhất. Sau thành công của bộ phim, Spielberg đã sử dụng lợi nhuận để thành lập Shoah Foundation, một tổ chức phi lợi nhuận thu thập lời kể của những người sống sót sau thảm họa Holocaust. Một số nhà phê bình cho rằng bộ phim này là tác phẩm chân thực nhất về nạn diệt chủng người Do Thái và vào năm 1999, Viện phim Mỹ đã xếp bộ phim vào danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất của điện ảnh Hoa Kỳ.

Spielberg nhận Giải Sư tử vàng bởi nhà làm phim người Ý Gillo PontecorvoLiên hoan phim quốc tế Venezia lần thứ 50, 1993

Năm 1994, Steven Spielberg tạm dừng công việc đạo diễn để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình và thành lập một xưởng phim mới, DreamWorks,[50] cùng với đối tác Jeffrey KatzenbergDavid Geffen. Năm 1996, ông chỉ đạo phần tiếp theo của Công viên kỷ Jura năm 1993 với tựa đề Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura, thu về hơn 618 triệu USD trên toàn thế giới mặc dù bị đánh giá ​​trái chiều, và là bộ phim có doanh thu cao thứ hai năm 1997, chỉ sau Titanic của James Cameron (đã vượt qua Công viên kỷ Jura để trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại).

Bộ phim tiếp theo của ông, Amistad, dựa trên một câu chuyện có thật (giống như Bản danh sách của Schindler), nói về một cuộc nổi loạn của nô lệ châu Phi. Mặc dù được giới phê bình khen ngợi, tuy nhiên phim lại không thành công về mặt doanh thu. Amistad đã được phát hành bởi DreamWorks Pictures,[51] hãng phim đã sản xuất tất cả các bộ phim của ông từ Amistad trở đi, ngoại trừ Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê, Những cuộc phiêu lưu của TintinReady Player One: Đấu trường ảo.[52]

Năm 1998, Spielberg cho ra đời tác phẩm về Chiến tranh thế giới thứ 2 có tên Giải cứu binh nhì Ryan với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên 2 lần đạt giải Oscar Tom Hanks. Bộ phim kể về một nhóm lính Mỹ do Đại úy Miller (Tom Hanks) lãnh đạo thực hiện sứ mạng giải cứu một lính nhảy dù có ba người anh bị giết trong vòng 24 giờ. Giải cứu binh nhì Ryan là một thành công lớn về thương mại khi thu về hơn 480 triệu đô la trên toàn thế giới và là bộ phim có doanh thu cao nhất năm tại phòng vé Bắc Mỹ (trên toàn thế giới, phim đứng ở vị trí thứ hai sau Armageddon của Michael Bay). Ông cũng đã giành được giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho tác phẩm này. Những hình ảnh chân thực mô tả sự ác liệt của chiến tranh trong Giải cứu binh nhì Ryan đã ảnh hưởng tới nhiều phim lấy đề tài chiến tranh sau đó như Diều hâu gãy cánh hay Kẻ thù trước cổng. Bộ phim cũng là tác phẩm lớn đầu tiên của Spielberg thực hiện cho hãng phim DreamWorks của ông. Sau đó, Spielberg và Tom Hanks đã sản xuất một bộ phim truyền hình ngắn tập dựa trên cuốn sách Band of Brothers của Stephen Ambrose. Loạt phim 10 tập theo chân những cựu binh của đại đội Easy thuộc Sư đoàn Lính dù 101. Band of Brothers đã giành được một số giải Quả cầu vàngEmmy.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2001, Steven đã thực hiện dự án cuối cùng của Stanley Kubrick, người bạn đã mất vào năm 1999, AI – Trí tuệ nhân tạo. Phim lấy bối cảnh tương lai, kể về một android hình người có khả năng yêu thương, A.I. nổi bật với hiệu ứng hình ảnh đột phá và cốt truyện sâu sắc. Mặc dù bộ phim không được thành công cho lắm ở Mỹ, nhưng nó đã thể hiện tốt hơn ở nước ngoài với tổng doanh thu phòng vé trên toàn thế giới là 236 triệu USD.

Spielberg và nam diễn viên Tom Cruise hợp tác lần đầu trong Bản báo cáo thiểu số, dựa trên truyện ngắn của Philip K. Dick kể về một thanh tra ở Washington DC vào năm 2054, được dự đoán sẽ giết một người mà anh không hề quen biết. Bộ phim đã nhận được những lời khen ngợi trên trang web Rotten Tomatoes khi có tỉ lệ đồng thuận 92%, với 206 trong số 225 đánh giá mà họ cho là tích cực.[53] Bộ phim thu về hơn 358 triệu USD trên toàn thế giới. Roger Ebert, người gọi nó là bộ phim hay nhất năm 2002, ca ngợi tầm nhìn của nó về thế giới tương lai cũng như cách Spielberg pha trộn giữa CGI với live-action.[54]

Bộ phim Hãy bắt tôi nếu có thể năm 2002 của Spielberg dựa trên câu chuyện có thật của siêu lừa đảo trẻ nhất nước Mỹ - Frank Abagnale (do Leonardo DiCaprio thủ vai). Nó đã mang về cho Christopher Walken một đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất. Phim được biết đến với phần nhạc nền của John Williams và phần mở đầu độc đáo của nó. Đây là một bom tấn cả về mặt phòng vé[55] lẫn chuyên môn.[56]

Spielberg lại tái hợp với Tom Hanks, Catherine Zeta-JonesStanley Tucci trong The Terminal năm 2004, một bộ phim hài tình cảm nói về một người đàn ông gốc Đông Âu bị phải sống trong phòng chờ sân bay 9 tháng. Tuy bị đánh giá trái chiều nhưng bộ phim lại tương đối thành công về doanh thu. Năm 2005, tạp chí Empire đã xếp Spielberg đứng thứ nhất trong danh sách những đạo diễn vĩ đại nhất mọi thời đại.

Năm 2005, Spielberg làm lại bộ phim Đại chiến thế giới (đồng sản xuất giữa Paramount và DreamWorks) dựa theo tiểu thuyết Chiến tranh giữa các thế giới của H.G. Wells. Phim có sự tham gia của ngôi sao điện ảnh Tom CruiseDakota Fanning, và, giống với các bộ phim của ông trước đây, phần hiệu ứng được thực hiện bởi Industrial Light & Magic (ILM). Khác với E.TKiểu tiếp xúc thứ 3 nói về người ngoài hành tinh thân thiện, Đại chiến thế giới lại tập trung vào những kẻ xâm lược. Đây là một thành công phòng vé khi thu về 234 triệu USD chỉ tính riêng thị trường Hoa Kỳ và doanh thu tổng cộng lên tới 591 triệu USD trên toàn thế giới.

Hậu trường vụ tai nạn máy bay trong Đại chiến thế giới

Bộ phim Munich của Spielberg, kể về các sự kiện sau Cuộc thảm sát ở Munich năm 1972 của các vận động viên Israel tại Thế vận hội Olympic, là bộ phim thứ hai của ông lấy đề tài là người Do Thái (đầu tiên là Bản danh sách của Schindler). Bộ phim dựa trên Vengeance, một cuốn sách của nhà báo người Canada George Jonas. Trước đây, nó đã được chuyển thể thành một bộ phim 1986, Sword of Gideon. Munich đã nhận được những lời khen ngợi, nhưng lại bị đánh giá thấp tại phòng vé Hoa Kỳ và thế giới; nó cũng là một trong những bộ phim gây tranh cãi nhất của Spielberg cho đến nay.[57] Munich đã nhận được năm đề cử giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất, Biên tập phim xuất sắc nhất, Nhạc phim hay nhất (của John Williams), Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg. Đó là đề cử Đạo diễn xuất sắc thứ sáu và đề cử Phim hay nhất thứ năm của Spielberg.

Spielberg đạo diễn Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê, đóng máy vào tháng 10 năm 2007 và được phát hành vào ngày 22 tháng 5 năm 2008.[58][59] Đây là bộ phim đầu tiên của ông không được DreamWorks phát hành kể từ năm 1997. Bộ phim đã nhận được những đánh giá phân cực từ các nhà phê bình, nhưng nói chung là tích cực,[60] và thành công về mặt tài chính, thu về 786 triệu đô la trên toàn thế giới. Đây cũng là phần phim có doanh thu cao nhất trong nhượng quyền thương mại.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2009, Spielberg đã quay bộ phim hoạt hình đầu tiên dựa trên Những cuộc phiêu lưu của Tintin, được viết bởi họa sĩ người Bỉ Hergé,[61] cùng với Peter Jackson. Những cuộc phiêu lưu của Tintin: Bí mật tàu Kỳ Lân bị đẩy lùi ngày phát hành cho đến tháng 10 năm 2011, do sự phức tạp của công nghệ hoạt hình máy tính. Buổi ra mắt phim trên thế giới diễn ra vào ngày 22 tháng 10 năm 2011 tại Brussels, Bỉ.[62] Bộ phim được phát hành tại các rạp Bắc Mỹ vào ngày 21 tháng 12 năm 2011, dưới định dạng Digital 3DIMAX.[63] Nó đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[64] và thu về hơn 373 triệu USD trên toàn thế giới.[65] Những cuộc phiêu lưu của Tintin đã giành giải Phim hoạt hình hay nhất tại Giải Quả cầu vàng năm đó.[66] Đây là bộ phim không phải của Pixar đầu tiên giành được hạng mục này kể từ khi nó được giới thiệu lần đầu tiên.[67][68] Jackson đã được xác nhận sẽ chỉ đạo phần phim thứ hai.[69]

Spielberg đạo diễn bộ phim Chiến mã, được quay ở Anh vào mùa hè năm 2010.[70] Nó được phát hành chỉ bốn ngày sau khi Những cuộc phiêu lưu của Tintin được công chiếu, vào ngày 25 tháng 12 năm 2011. Bộ phim, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên được viết bởi Michael Morpurgo và xuất bản năm 1982, kể về tình bạn lâu dài giữa một cậu bé người Anh và chú ngựa Joey trước và trong Thế chiến I. Cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành một vở kịch ăn khách ở Luân Đôn, cũng như trên sân khấu Broadway. Chiến mã là bộ phim đầu tiên trong bốn bộ phim Spielberg liên tiếp được phát hành bởi Disney. Chiến mã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[71] và được đề cử sáu giải Oscar, trong đó có Phim hay nhất.

Spielberg tiếp theo thực hiện một tác phẩm chính kịch lịch sử Lincoln, với sự tham gia của Daniel Day-Lewis trong vai Tổng thống Hoa Kỳ Abraham LincolnSally Field trong vai Mary Todd Lincoln.[72] Dựa trên Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln của Doris Kearns Goodwin, bộ phim đã kể về bốn tháng cuối đời của Lincoln. Được biên kịch bởi Tony Kushner, bộ phim được quay tại Richmond, Virginia, vào cuối năm 2011,[73] và được phát hành tại Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2012.[74][75] Khi phát hành, Lincoln nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình, và được đề cử 12 giải Oscar (nhiều nhất trong số các phim năm đó), bao gồm Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg.[76] Nó đã giành giải thưởng dành cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và Day-Lewis đã giành giải Oscar cho Nam diễn viên xuất sắc nhất với vai diễn Lincoln.

Spielberg sẽ chỉ đạo bộ phim về cuộc đời của xạ thủ bắn tỉa Mỹ Chris Kyle, có tựa đề Lính bắn tỉa Mỹ, theo một thông tin được công bố ngày 2 tháng 5 năm 2013.[77] Tuy nhiên, vào ngày 5 tháng 8 năm 2013, Spielberg đã quyết định không chỉ đạo bộ phim mà thay vào đó là đạo diễn Clint Eastwood.

Spielberg quảng bá bộ phim Ready Player One: Đấu trường ảo (2018) tại Nhật Bản.

Spielberg sau đó đạo diễn Người đàm phán, một bộ phim chính kịch thời Chiến tranh Lạnh dựa trên sự cố U-2 năm 1960, và tập trung vào các cuộc đàm phán của James B. Donovan với Liên Xô để thả phi công Gary Powers sau khi máy bay của anh bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Bộ phim có sự tham gia của Tom Hanks trong vai Donovan, cũng như Mark Rylance, Amy RyanAlan Alda, với phần kịch bản do anh em nhà Coen chắp bút.[78] Bộ phim được quay từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2014 tại địa điểm ở thành phố New York, Berlin và Wroclaw, Ba Lan, và được phát hành vào ngày 16 tháng 10 năm 2015.[79][80] Người đàm phán nhận được sự hoan nghênh từ các nhà phê bình, và được đề cử sáu giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất; Rylance đã giành giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, trở thành diễn viên thứ hai giành chiến thắng trong các bộ phim của Spielberg.

Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ của Spielberg là tác phẩm chuyển thể từ câu chuyện thiếu nhi nổi tiếng của Roald Dahl, với sự tham gia của "tân binh" Ruby Barnhill và Rylance trong vai Người khổng lồ thân thiện. DreamWorks đã mua bản quyền nguyên tác vào năm 2010, và ban đầu John Madden dự định sẽ chỉ đạo bộ phim.[81] Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ là tác phẩm cuối cùng được viết bởi nhà biên kịch ET Melissa Mathison trước khi bà qua đời. Phim được Walt Disney Pictures hợp tác sản xuất và phát hành, đánh dấu bộ phim đầu tiên mang thương hiệu Disney do Spielberg làm đạo diễn. Bộ phim ra mắt tại Liên hoan phim Cannes[82] vào ngày 14 tháng 5 năm 2016[83] và được phát hành rộng rãi ở Mỹ vào ngày 1 tháng 7 năm 2016.[78]

Tom Hanks và Meryl Streep đã có dịp đóng cặp với nhau trong The Post, một bộ phim năm 2017 của Spielberg.[84] Bộ phim kể lại sự kiện tờ The Washington Post xuất bản tập tài liệu Pentagon Papers, qua đó giúp phanh phui những bí mật bẩn thỉu của chính phủ Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam hồi đầu thập niên 1970.[85] Quá trình sản xuất bắt đầu tại New York vào ngày 30 tháng 5 năm 2017.[86] Bộ phim bắt đầu phát hành giới hạn vào ngày 22 tháng 12 năm 2017, sau đó đã phát hành rộng rãi vào ngày 12 tháng 1 năm 2018.

Spielberg thực hiện bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cùng tên Ready Player One: Đấu trường ảo của Ernest Cline. Phim có sự tham gia của Tye Sheridan,[87] Olivia Cooke,[88] Ben Mendelsohn, Simon PeggMark Rylance. Nó bắt đầu được sản xuất tại Luân Đôn vào tháng 7 năm 2016,[89] một năm trước The Post, được quay, chỉnh sửa và phát hành trong thời gian hậu kỳ về hiệu ứng cho Ready Player One. Ready Player One ban đầu dự kiến ​​sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2017 bởi Warner Bros.,[90] nhưng đã bị đẩy lùi đến ngày 29 tháng 3 năm 2018, để tránh cạnh tranh với Star Wars: Jedi cuối cùng.[91] Phim đã được chiếu tại liên hoan phim South by Southwest, vào ngày 11 tháng 3 năm 2018.[92]

Spielberg đang chỉ đạo Câu chuyện phía Tây, được chuyển thể từ bộ phim cùng tên năm 1961.[93] Tony Kushner tuyên bố vào tháng 7 năm 2017 rằng ông đã thay đổi một số chi tiết cho Spielberg, ngoại trừ phần nhạc kịch, cũng như bối cảnh cuối những năm 1950.[94] Bộ phim dự kiến ​​sẽ được Disney phát hành vào ngày 18 tháng 12 năm 2020.[95]

Dự án sắp tới[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg đã lên kế hoạch quay bộ phim chuyển thể từ dự án Vụ bắt cóc Edgardo Mortara của David Kertzer vào đầu năm 2017 để phát hành vào cuối năm đó,[96] nhưng việc sản xuất đã bị hoãn lại. Cuốn sách kể về câu chuyện có thật của một cậu bé người Do Thái năm 1858 ở Ý, đã bị một người hầu trong gia đình bí mật rửa tội và sau đó bị bắt cóc khỏi gia đình bởi các Giáo hoàng, nơi cậu được nuôi dưỡng và đào tạo như một linh mục, gây phẫn nộ cho dư luận quốc tế và trở thành một thông tin gây chấn động. Mark Rylance, trong lần hợp tác thứ tư với Spielberg, đã được tuyên bố sẽ đóng vai chính Giáo hoàng Pius IX. Oscar Isaac được chọn đóng vai cha của Mortara, nhưng sau đó lại từ chối.[97] Spielberg đã gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diễn viên đóng vai cậu bé Do Thái, mặc dù đã có hơn 2000 đứa trẻ thử vai.[98]

Spielberg sẽ chỉ đạo một tác phẩm chuyển thể từ cuốn hồi ký của phóng viên ảnh người Mỹ Lynsey Addario, có tựa đề là It's What I Do. Nữ diễn viên Jennifer Lawrence đã được hãng Warner Bros. thuyết phục thành công để tham gia dự án này.[99]

Vào tháng 4 năm 2018, Spielberg xác nhận đạo diễn bộ phim chuyển thể từ bộ truyện tranh Blackhawk. Warner Bros Pictures sẽ phát hành bộ phim, với kịch bản do David Koepp chắp bút.[100] Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1981 để quảng bá cho Chiếc rương thánh tích, Spielberg đã ví nó với loạt truyện Blackhawk.[101]

Dự án đang chờ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2009, Spielberg được cho là đã cố gắng giành lấy bản quyền chuyển thể sê-ri Halo của Microsoft thành phim.[102] Vào tháng 9 năm 2008, Steven Spielberg đã mua bản quyền tiểu thuyết Chocky của John Wyndham và dự định sẽ thực hiện nó. Ông cũng quan tâm đến việc chuyển thể A Steady Rain,[103] Pirate Latitudes,[104] 39 Clues,[105] và bản làm lại của When Worlds Collide.

Vào tháng 5 năm 2009, Steven Spielberg đã mua bản quyền về cuộc đời của Martin Luther King, Jr. Spielberg sẽ tham gia bộ phim không chỉ với tư cách nhà sản xuất mà còn với tư cách là đạo diễn.[106] Tuy nhiên, bản quyền câu chuyện được thực hiện từ di sản của King, do con trai Dexter dẫn đầu, trong khi hai người con còn sống khác là Reverend BerniceMartin III ngay lập tức đe dọa sẽ kiện và không chấp thuận dự án của họ.[107]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim của Spielberg thường đề cập đến một số chủ đề nhất định. Trong một cuộc phỏng vấn của AFI vào tháng 8 năm 2000, Spielberg đã nói về mối quan tâm của ông đối với sự sống ngoài trái đất và nó đã ảnh hưởng đến một số bộ phim của ông như thế nào. Spielberg nói mình giống như một người ngoài hành tinh trong thời thơ ấu,[8] và sự quan tâm của bố dành cho ông, một người hâm mộ khoa học viễn tưởng và luôn nghĩ rằng người ngoài hành tinh sẽ không đến trái đất để xâm lược, mà thay vào đó là sự tò mò và chia sẻ tri ​​thức.[108]

Một chủ đề có tác động mạnh mẽ đến Spielberg là những cảm xúc và niềm tin như một đứa trẻ, được chứng thực bằng các tác phẩm như Kiểu tiếp xúc thứ 3, E.T. Sinh vật ngoài hành tinh, Hook, AI - Trí tuệ nhân tạoChuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ. Theo Warren Buckland,[109] những chủ đề này được miêu tả thông qua việc sử dụng các cảnh quay camera có độ phân giải khác nhau, đã trở thành một trong những thương hiệu của Spielberg. Trong các trường hợp khi các bộ phim của ông ấy tập trung về trẻ em (ET. Sinh vật ngoài hành tinh, Đế chế mặt trời, Công viên kỷ Jura, v.v.), thì chúng cũng xuất hiện trong Munich, Giải cứu binh nhì Ryan, The Terminal, Minority Report, và Amistad. Mỗi bộ phim của ông đều có những cảnh quay khuếch đại thị giác, và cảnh nước trong Hàm cá mập được quay từ góc nhìn thấp của một người nào đó đang bơi. Một chủ đề hướng đến trẻ em khác trong các bộ phim của Spielberg là mất đi sự hồn nhiên và sắp đến độ tuổi trưởng thành. Trong Đế chế mặt trời, Jim, một cậu bé người Anh hư hỏng do được nuông chiều, mất đi sự hồn nhiên của mình sau khi phải trải qua Thế chiến II ở Trung Quốc. Tương tự, trong Hãy bắt tôi nếu có thể, Frank ngây thơ và dại dột tin rằng anh có thể có lại được gia đình của mình bằng cách tích lũy đủ tiền để hỗ trợ họ.

Chủ đề dai dẳng nhất trong suốt các bộ phim của ông là căng thẳng trong mối quan hệ bố mẹ và con cái. Bố mẹ (thường là người bố) là những người nghiện rượu chè, luôn vắng mặt hoặc không biết gì. Peter Banning ở đầu bộ phim Hook là một người bố bất đắc dĩ, nhưng xuyên suốt bộ phim đã lấy lại được sự tôn trọng từ con cái mình. Sự vắng mặt của bố Elliott trong E.T là ví dụ nổi tiếng nhất của chủ đề này. Trong Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng, tiết lộ rằng Indy luôn có mối quan hệ rất căng thẳng với bố mình, một giáo sư văn học thời trung cổ, vì ông ta luôn quan tâm đến việc nghiên cứu, đặc biệt là về Chén Thánh, hơn là con trai mình, mặc dù cboos anh dường như không nhận ra hoặc hiểu được tác động tiêu cực của những điều đó (ông ta thậm chí còn tin rằng ông là một người cha tốt vì đã dạy con trai mình biết cách "tự lập", điều mà Indy không nhận ra). Ngay cả Oskar Schindler trong Bản danh sách của Schindler cũng không muốn có con. Trong Màu tím, nhân vật chính, Celie thậm chí đã bị người cha lợi dụng nhiều lần. Munich miêu tả Avner là một người đàn ông xa cách vợ và con gái mới sinh. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ; như Brody trong Hàm cá mập là một người đàn ông tận tụy của gia đình, trong khi John Anderton trong Bản báo cáo thiểu số là một người cha đau khổ vì sự mất tích của con trai mình. Chủ đề này được cho là khía cạnh tự truyện nhất trong các bộ phim của Spielberg, vì bản thân Spielberg bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn của cha mẹ ông khi còn nhỏ. Hơn nữa, với chủ đề này, các nhân vật chính trong các bộ phim của anh thường xuất thân từ những gia đình không được nguyên vẹn, bao gồm cả E.T. Người ngoài hành tinh (mẹ của nhân vật chính Elliot đã ly hôn) và Hãy bắt tôi nếu có thể (bố và mẹ của Frank Abagnale đã chia tay từ đầu phim).

Hầu hết các bộ phim của ông nói chung là lạc quan về bản chất. Mặc dù một số nhà phê bình cáo buộc các bộ phim của ông hơi tình cảm quá mức, Spielberg cảm thấy nó vẫn ổn miễn là nó được ngụy trang. Ông vẫn là một đạo diễn được đánh giá cao cũng như được ghi nhận là một trong những đạo diễn có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Những cái tên có ảnh hưởng khác bao gồm Frank CapraJohn Ford.[110]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg gặp nữ diễn viên Amy Irving lần đầu vào năm 1976 theo gợi ý của đạo diễn Brian De Palma khi biết ông đang tìm một nữ diễn viên để đóng trong Kiểu tiếp xúc thứ 3. Sau khi gặp cô ấy, Spielberg nói với đồng sản xuất Julia Phillips, "Tối qua, tôi đã gặp một cô gái có trái tim thực sự tan vỡ".[8]:293 Mặc dù vẫn còn quá trẻ cho vai diễn, nhưng Irving và Spielberg bắt đầu hẹn hò và cuối cùng cô ấy đã chuyển sang một nơi mà cô gọi là ngôi nhà "độc thân vui tính" của Steven.[8]:294 Họ sống với nhau trong bốn năm, nhưng những căng thẳng trong sự nghiệp đã ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ. Irving muốn chắc chắn rằng bất cứ thành công nào cô đạt được với tư cách là một diễn viên sẽ là của riêng mình: "Tôi không muốn được biết đến việc tôi là bạn gái của Steven," cô nói, và đã không tham gia bất kỳ bộ phim nào của ông trong những năm đó.[8]:295 Kết quả là họ đã chia tay vào năm 1979, nhưng vẫn là những người bạn thân thiết. Sau đó vào năm 1984, họ đã tái hôn vào tháng 11 năm 1985 và có một đứa con, Max Samuel. Tuy nhiên, hơn ba năm sau, nhiều căng thẳng trong sự nghiệp đã khiến hai người ly hôn một lần nữa. Họ đồng ý ở gần nhau để tạo điều kiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc con trai.[8]:403 Cuộc ly hôn được xem là tốn kém thứ ba trong lịch sử của những người nổi tiếng.[111]

Spielberg sau đó đã có quan hệ tình cảm với nữ diễn viên Kate Capshaw, người mà ông gặp trong buổi thử vai của bộ phim Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc. Họ kết hôn vào ngày 12 tháng 10 năm 1991. Capshaw sau đó đã cải đạo sang Do Thái giáo.[112][113] Họ sống trong bốn ngôi nhà khác nhau ở Pacific Palisades, California; Nông trại Quelle, Georgica PondEast Hampton, New York;[114] Thành phố New York; và Naples, Florida.

Hiện Steven Spielberg đã có bảy người con, bao gồm:

  • Jessica Capshaw (sinh ngày 9 tháng 8 năm 1976) - con gái của Kate Capshaw và Robert Capshaw.
  • Max Samuel Spielberg (sinh ngày 13 tháng 6 năm 1985) - con trai của Spielberg và nữ diễn viên Amy Irving.
  • Theo Spielberg (sinh ngày 21 tháng 8 năm 1988) - con trai, được Capshaw nhận nuôi trước khi kết hôn với Spielberg.[115]
  • Sasha Rebecca Spielberg (sinh ngày 14 tháng 5 năm 1990, Los Angeles)
  • Sawyer Avery Spielberg (sinh ngày 10 tháng 3 năm 1992, Los Angeles)[116]
  • Mikaela George (sinh ngày 28 tháng 2 năm 1996) - được nhận nuôi bởi Kate Capshaw.
  • Destry Allyn Spielberg (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1996(

Tài sản[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tạp chí Forbes, tài sản của Spielberg nằm ở mức 3,7 tỷ USD. Nó được tiết lộ vào năm 2009 trong cuộc điều tra Madoff Ponzi, cho biết Spielberg và Capshaw nằm trong số các nhà đầu tư bị Bernie Madoff lừa gạt.

Sự công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Spielberg là một trong tám người mang Cờ Olympic vào Sân vận động Rice-Eccles tại Lễ khai mạc Thế vận hội Mùa đông 2002Thành phố Salt Lake. Năm 2006, Premiere liệt kê ông là nhân vật quyền lực và có ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh. Tạp chí Time xếp ông là một trong 100 người quan trọng nhất của thế kỷ. Vào cuối thế kỷ 20, Life xem ông là người có ảnh hưởng nhất trong thế hệ của ông.[117] Vào năm 2009, trường Đại học Boston đã trao tặng ông bằng Tiến sĩ danh dự.[118]

Theo danh sách những người có ảnh hưởng nhất năm 2014 của Forbes, Spielberg được đánh giá là người nổi tiếng có ảnh hưởng nhất ở Mỹ. Bản danh sách này được thực hiện bởi E-Poll Market Research ghi nhận 6.600 người thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau "được xem là có ảnh hưởng đến công chúng, đồng nghiệp của họ hoặc cả hai." Spielberg có điểm số 47, nghĩa là 47% người Mỹ tin rằng ông có ảnh hưởng.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg thường hỗ trợ các ứng cử viên của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ. Ông đã quyên góp hơn 800.000 đô la cho đảng Dân chủ và những người ứng cử. Ông từng là bạn thân của cựu Tổng thống Bill Clinton và cùng Tổng thống tham gia lễ kỷ niệm Thiên niên kỷ của Hoa Kỳ. Ông chỉ đạo một bộ phim dài 18 phút có tựa đề The American Journey, với phần nhạc nền được thực hiện bởi John Williams. Phim được chiếu tại Gala Thiên niên kỷ của Mỹ vào ngày 31 tháng 12 năm 1999, tại National Mall, hồ phản chiếu thuộc Nhà tưởng niệm LincolnWashington, D.C.[119]

Bộ trưởng Quốc phòng William S. Cohen hộ tống Spielberg vào Lầu năm góc với tư cách người đứng đầu quân đội.

Spielberg từ bỏ tư cách là thành viên ban cố vấn quốc gia của Hội Nam Hướng đạo Mỹ vào năm 2001 vì ông không tán thành lập trường chống đồng tính luyến ái của tổ chức.[120][121] Năm 2007, Liên đoàn Ả Rập đã bỏ phiếu tẩy chay các bộ phim của Spielberg sau khi ông quyên góp 1 triệu USD cho các hoạt động cứu trợ ở Israel trong Chiến tranh Liban 2006.[122][123] Vào ngày 20 tháng 2 năm 2007, Spielberg, Jeffrey KatzenbergDavid Geffen đã mời đảng Dân chủ đến gây quỹ cho Barack Obama.[124] Vào tháng 2 năm 2008, Spielberg đã rút khỏi vai trò cố vấn cho Thế vận hội Mùa hè 2008 để đáp lại sự bất lực của chính phủ Trung Quốc đối với Chiến tranh Darfur.[125] Spielberg tuyên bố rằng "Tôi thấy rằng lương tâm của tôi sẽ không cho phép tôi tiếp tục công việc như bình thường." Ông cũng nói rằng "Chính phủ Sudan chịu trách nhiệm cho những tội ác này, nhưng cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, phải có trách nhiệm nhiều hơn nữa.".[126] Ủy ban Olympic Quốc tế tôn trọng quyết định của Spielberg, nhưng chủ tịch Ủy ban Jacques Rogge thừa nhận trong một cuộc phỏng vấn rằng "[Spielberg] chắc chắn sẽ mang lại nhiều điều sáng tạo cho Lễ khai mạc.".[127] Tuyên bố của Spielberg đã nhận sự chỉ trích từ các quan chức Trung Quốc và truyền thông nhà nước gọi lời chỉ trích của ông là "không công bằng".[128] Vào tháng 9 năm 2008, Spielberg và vợ đã đề nghị hỗ trợ cho hôn nhân đồng giới bằng cách quyên góp 100.000 đô la cho quỹ chiến dịch "No on Proposition 8", tương đương với số tiền Brad Pitt quyên góp cho cùng chiến dịch vào một tuần trước.[129]

Năm 2018, Spielberg và Kate Capshaw đã quyên góp 500.000 đô la cho cuộc biểu tình của sinh viên March for Our Lives để ủng hộ việc kiểm soát súng đạn ở Hoa Kỳ.[130]

Sở thích[sửa | sửa mã nguồn]

Là một nhà sưu tập kỷ vật điện ảnh, Spielberg đã mua một tấm ván trượt làm bằng gỗ balsa từ bộ phim Công dân kane (1941) vào năm 1982.[131] Ông đã mua bản sao kịch bản bộ phim radio The War of the Worlds (1938) của Orson Welles vào năm 1994.[132] Spielberg cũng đã mua những bức tượng Giải Oscar đang được bán đấu giá trên thị trường và tặng lại chúng cho Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh, để ngăn chặn việc mua bán trái phép chúng. Những bức tượng mà ông đã mua bao gồm giải Oscar mà Bette Davi nhận được nhờ vai diễn trong Dangerous (1935) và Jezebel (1938), và giải Oscar của Clark Gable trong It Happened One Night (1934).[133]

Spielberg là một nhà sưu tập những tác phẩm của họa sĩ minh họa người Mỹ Norman Rockwell. Một bộ sưu tập gồm 57 bức tranh và bản vẽ của Rockwell thuộc sở hữu của Spielberg và đạo diễn George Lucas đã được trưng bày tại Viện bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Smithsonian vào ngày 2 tháng 7 năm 2010 - 2 tháng 1 năm 2011, trong một cuộc triển lãm có tên Telling Stories.[134]

Ngoài ra, Spielberg cũng là một người say mê phim ảnh và khi không quay phim, ông sẽ xem nhiều bộ phim vào cuối tuần.[135] Ông ấy xem hầu hết các tác phẩm bom tấn mùa hè ở rạp và hầu hết đều yêu thích những bộ phim này.[136]

Kể từ khi chơi Pong trong lúc quay Hàm cá mập vào năm 1974, Spielberg đã là một game thủ cuồng nhiệt. Ông đã chơi nhiều trò chơi phiêu lưu của LucasArt, bao gồm những phiên bản đầu tiên của Monkey Island..[137][138] Ông đã sở hữu cho mình hệ máy Wii, PlayStation 3, PSPXbox 360 và thích chơi những trò chơi bắn súng góc nhìn thứ nhất như sê-ri Medal of HonorCall of Duty 4: Modern Warfare. Spielberg cũng chỉ trích việc sử dụng những đoạn cắt cảnh trong các trò chơi, đã gọi chúng là sự xúc phạm và cảm thấy việc đưa cốt chuyện vào trò chơi một cách tự nhiên là một thách thức đối với những nhà phát triển trò chơi trong tương lai.[139]

Bị theo dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Spielberg bị theo dõi bởi nhà lý luận âm mưu và cựu nhân viên xã hội Diana Napolis. Cô cáo buộc ông, cùng với nữ diễn viên Jennifer Love Hewitt, đã kiểm soát suy nghĩ của cô thông qua công nghệ "cybertronic" và là một phần của âm mưu chống lại cô. Napolis đã từng phải vào bệnh viện tâm thần trước khi bị cáo buộc theo dõi và được toà tuyên án treo với điều kiện cô không được liên lạc với Spielberg hoặc Hewitt.[140][141][142]

Jonathan Norman đã bị bắt sau hai lần cố gắng đột nhập vào khu dân cư Pacific Palisades vào tháng 6 và tháng 7 năm 1997. Norman đã bị giam 25 năm ở nhà tù California. Spielberg nói với tòa án: "Nếu Jonathan Norman thực sự đối mặt với tôi, tôi tin rằng tôi sẽ bị hãm hiếp hoặc giết chết."[143][144]

Công việc sản xuất phim[sửa | sửa mã nguồn]

Steveb Spielberg vào năm 1999

Kể từ giữa những năm 1980, Steven Spielberg đã trở thành một nhà sản xuất phim "chính hiệu". Ông đã sản xuất một số phim hoạt hình, bao gồm cả những sê-ri nổi tiếng của Warner Bros. như Tiny Toon Adventures, Animaniacs, Pinky and the Brain, Toonsylvania, và Freakazoid!, trong đó ông hợp tác với Jean MacCurdyTom Ruegger. Do vai trò của ông đối với những loạt phim này, nên hầu hết phần giới thiệu trong số chúng đều có dòng chữ "Steven Spielberg presents" cũng như trở thành khách mời cho nhiều chương trình. Sua đó, Spielberg sản xuất Don Bluth, An American TailThe Land Before Time, được phát hành bởi Universal Studios. Spielberg cũng từng là một trong những giám đốc sản xuất của Who frames Roger Rabbit và ba bộ phim ngắn (Tummy Trouble, Roller Coaster Rabbit, Trail Mix-Up), tất cả đều do Disney phát hành, và được quảng bá bởi Walt Disney PicturesTouchstone Pictures. Hơn nữa, trong một thời gian ngắn, ông là giám đốc sản xuất của của bộ phim lấy chủ đề y khoa có tên ER. Năm 1989, trò chơi The Dig được phát triển bởi LucasArts dựa trên một ý tưởng ban đầu từ loạt phim Amazing Stories của Spielberg. Ông đã đóng góp cho dự án kể từ đó cho đến năm 1995 khi trò chơi được phát hành. Ông cũng hợp tác với Knowledge Adventure để phát triển trò chơi Steven Spielberg's Director's Chair, được phát hành vào năm 1996. Trong đó, Spielberg xuất hiện trong vai chính mình để hướng dẫn người chơi.

Năm 1993, Spielberg đóng vai trò là giám đốc sản xuất cho loạt phim truyền hình rất được mong đợi SeaQuest DSV; một bộ phim khoa học viễn tưởng lấy bối cảnh "tương lai gần" với sự tham gia của Roy Scheider (từng được Spielberg chỉ đạo trong Hàm cá mập), Jonathan Brandis và được phát sóng trên NBC. Trong khi mùa đầu tiên là một thành công vừa phải, thì mùa thứ hai lại có chất lượng kém hơn. Tên của Spielberg không còn xuất hiện trong mùa thứ ba và chương trình đã bị hủy bỏ giữa chừng.

Spielberg là giám đốc sản xuất không được ghi danh trong The Haunting, The Prince of Egyp, Just Like Heaven,[145] Gã chằn tinh tốt bụng, Road to Perdition,[146]Evolution. Ông cũng là giám đốc sản xuất cho bộ phim Đặc vụ áo đen năm 1997 và những phần nối tiếp, Đặc vụ áo đen 2, Điệp viên áo đen 3, và Đặc vụ áo đen: Sứ mệnh toàn cầu. Năm 2005, ông sản xuất cho bộ phim Hồi ức của một geisha, chuyển thể từ tiểu thuyết của Arthur Golden. Năm 2006, Spielberg đồng sản xuất với nhà làm phim lừng danh Robert Zemeckis trong một bộ phim hoạt hình kinh dị có tên Monster House, đánh dấu sự hợp tác thứ tám của họ kể từ năm 1990 trong Trở lại tương lai 3. Clint Eastwood và Steven Spielberg hợp tác lần đầu tiên khi Spielberg đồng sản xuất với Robert Lorenz và Eastwood trong Ngọn cờ cha ôngNhững lá thư từ đảo Iwo. Ông cũng đã có được đề cử Phim hay nhất thứ 12 tại lễ trao giải Oscar lần thứ 79 (cùng với Lorenz và Eastwood). Spielberg cũng là giám đốc sản xuất cho Disturbia và loạt phim hành động Robot đại chiến cùng với Hasbro Brian Goldner. Những phần phim nối tiếp của Robot đại chiếnTransformers: Bại binh phục hận, Transformers: Vùng tối của mặt trăng, Transformers: Kỷ nguyên hủy diệt, và Transformers: Chiến binh cuối cùng đều được đạo diễn bởi Michael Bay và được biên kịch bởi Roberto OrciAlex Kurtzman. Năm 2011, ông đã sản xuất bộ phim khoa học viễn tưởng Super 8 của J. J. Abrams cho hãng Paramount Pictures.[147]

Những tác phẩm khác do Spielberg sản xuất là Band of Brothers, TakenMặt trận Thái Bình Dương. Ông cũng là giám đốc sản xuất cho miniseries được đánh giá cao năm 2005 Into the West, đã giành được hai giải Emmy, trong đó có một giải cho phần nhạc nền của Geoff Zanelli. Đối với miniseries năm 2010 Mặt trận Thái Bình Dương, ông đã tái hợp tác với Tom Hanks và Gary Goetzman. Bộ phim được cho là đáng giá 250 triệu USD và là một miniseries chiến tranh gồm 10 tập, tập trung vào các trận chiến ở Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Bruce McKenna, người đã viết kịch bản cho Band of Brothers là biên kịch chính.

Năm 2007, Steven Spielberg và Mark Burnett đồng sản xuất On the Lot, một chương trình truyền hình thực tế về công việc làm phim. Mặc dù vậy, ông không bao giờ từ bỏ việc làm phim truyền hình. Sau đó, ông hợp tác với Diablo Cody, người từng thắng Giải Oscar để phát triển United States of Tara.

Năm 2011, Spielberg ra mắt Falling Skies, một sê-ri khoa học viễn tưởng trên mạng TNT. Ông đã phát triển loạt phim với Robert Rodat và được ghi nhận là giám đốc sản xuất. Spielberg cũng đang sản xuất loạt phim truyền hình Terra Nova cho Công ty Fox. Terra Nova bắt đầu vào năm 2149, khi tất cả sự sống trên hành tinh Trái đất bị đe dọa tuyệt chủng dẫn đến việc các nhà khoa học mở một cánh cửa cho phép con người quay trở lại thời điểm 85 triệu năm trước.[148][149] Spielberg cũng sản xuất The River,[150] Smash,[151] Under the Dome,[152] Extant,[153] The Whispers,[154] một chương trình phỏng theo Bản báo cáo thiểu số,[155]Bull.[156] Tuy nhiên, sau những cáo buộc về tình dục đối với Michael Weatherly, Amblin đã ngừng sản xuất loạt phim này và Spielberg không còn là một nhà điều hành sản xuất nữa.[157]

Năm 2008, Spielberg và DreamWorks đã mua bản quyền để sản xuất một bộ phim live-action chuyển thể từ manga Ghost in the Shell. Bộ phim do Avi AradSteven Paul sản xuất, Rupert Sanders đạo diễn và Scarlett Johansson đóng vai chính, được phát hành vào năm 2017.[158][159][160]

Vào tháng 1 năm 2013, HBO đã xác nhận rằng họ đang phát triển một loạt phim truyền hình thứ 3 lấy đề tài Thế chiến II (sau Band of BrothersMặt trận Thái Bình Dương) dựa trên cuốn sách Masters of the Air của Donald L. Miller.[161] Vào tháng 3 năm 2017, NME cho biết bộ phim đang tiến triển dưới tựa đề The Mighty Eighth.[162]

Vào tháng 3 năm 2013, Spielberg tuyên bố rằng ông đang "phát triển kịch bản của Stanley Kubrick thành một miniseries nói về cuộc đời của Napoleon."[163] Vào tháng 5 năm 2016, Cary Fukunaga đã đàm phán để chỉ đạo một miniseries cho HBO, từ một kịch bản của David Lenland dựa trên các tài liệu được Kubrick nghiên cứu trong nhiều năm.[164]

Spielberg có kế hoạch quay phần thứ năm trong loạt phim Indiana Jones. Tài tử Harrison Ford vẫn tiếp tục đóng vai Indiana và sẽ được sản xuất bởi Kathleen KennedyFrank Marshall. Kịch bản của Indiana Jones 5 đang được viết bởi David Koepp, người cũng đã biên kịch cho rất nhiều bộ phim khác của Spielberg, bao gồm cả phần phim Indiana Jones trước đó.[165] Ban đầu nó được dự định sẽ phát hành bởi Disney vào ngày 19 tháng 7 năm 2019.[166] Sau đó, nó đã được thông báo rằng việc quay phim sẽ bắt đầu ở Anh vào tháng 4 năm 2019.[167] và sẽ phát hành vào ngày 10 tháng 7 năm 2020.[168] Việc quay phim đã bị hoãn lại vào tháng 6 năm 2018, khi Jonathan Kasdan được tuyên bố là nhà biên kịch mới của bộ phim.[169] Ngay sau đó, ngày phát hành đã lùi đến ngày 9 tháng 7 năm 2021.[170] Vào tháng 5 năm 2019, có thông tin rằng Dan Fogelman đã được thuê để viết một kịch bản mới, và câu chuyện của Kasdan, tập trung vào con tàu vàng của Đức Quốc xã, sẽ không được đưa vào phim.[171] Vào tháng 2 năm 2020, theo một số tờ báo, vì muốn "một thế hệ trẻ hơn sẽ thổi luồng gió mới vào thương hiệu mà ông đã tạo dựng", Spielberg sẽ không còn chỉ đạo bộ phim nữa, nhưng thay vào đó ông sẽ tham gia vào khâu sản xuất.[172]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim Spielberg tham gia dưới vai trò đạo diễn.

Năm Tựa đề Nhà phát hành Chú thích
1968 Amblin' Filmways Phim ngắn
1971 Duel Universal Pictures / CIC
1974 The Sugarland Express Universal Pictures
1975 Hàm cá mập Universal Pictures Vai lồng tiếng khách mời: Nhân viên Amity Point
1977 Kiểu tiếp xúc thứ 3 Columbia Pictures
1979 1941 Universal Pictures / Columbia Pictures
1981 Chiếc rương thánh tích Paramount Pictures
1982 E.T. Sinh vật ngoài hành tinh Universal Pictures
1983 Twilight Zone: The Movie Warner Bros. Phân đoạn: "Kick the Can"
1984 Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc Paramount Pictures Vai diễn khách mời: Khách tại sân bay
1985 Màu tím Warner Bros
1987 Đế chế mặt trời Warner Bros.
1989 Always Universal Pictures/United Artists
1989 Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng Paramount Pictures
1991 Hook TriStar Pictures
1993 Công viên kỷ Jura Universal Pictures
Bản danh sách của Schindler Universal Pictures
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura Universal Pictures Vai diễn khách mời: Người đàn ông đang ăn bỏng ngô
Amistad DreamWorks Pictures
1998 Giải cứu binh nhì Ryan DreamWorks Pictures / Paramount Pictures
2001 A.I. Artificial Intelligence Warner Bros. / DreamWorks Pictures
2002 Bản báo cáo thiểu số 20th Century Fox / DreamWorks Pictures
Hãy bắt tôi nếu có thể DreamWorks Pictures
2004 The Terminal DreamWorks Pictures
2005 Đại chiến thế giới Paramount Pictures / DreamWorks Pictures
Munich Universal Pictures / DreamWorks Pictures
2008 Indiana Jones và vương quốc sọ pha lê Paramount Pictures
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin Paramount Pictures / Columbia Pictures
Chiến mã Walt Disney Studios
2012 Lincoln Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2013 Sói già phố Wall Universal Pictures Đồng đạo diễn một cảnh quay, không được ghi chú vai trò[173]
2015 Người đàm phán Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ Walt Disney Studios
2017 The Post 20th Century Fox
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo Warner Bros.
2020 Câu chuyện phía Tây Walt Disney Studios

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg nhận giải dịch vụ công cộng được trao bởi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ William Cohen năm 1999
Ngôi sao của Steven Spielberg trên Đại lộ danh vọng Hollywood
Dấu chân và dấu tay của Steven Spielberg trước Nhà hát Trung Hoa Grauman
Cựu Tổng thống Clinton và Spielberg khi ông nhận giải thưởng Tự do năm 2009 tại Philadelphia

Steven Spielberg đã đem về ba giải Oscar trong sự nghiệp của mình. Ông được đề cử bảy giải Oscar cho hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và giành được hai trong số đó (Bản danh sách của SchindlerGiải cứu binh nhì Ryan), và thắng một giải Oscar cho Phim hay nhất (Bản danh sách của Schindler). Năm 1987, Spielberg được trao Giải tưởng niệm Irving G. Thalberg cho công việc sản xuất sáng tạo.

Nhờ những kinh nghiệm khi còn là một Hướng đạo sinh, Spielberg đã giúp Hội Nam Hướng đạo Mỹ phát triển huy hiệu điện ảnh nhằm thúc đẩy kỹ năng làm phim. Huy hiệu được giới thiệu tại Hội nghị Hướng đạo Quốc gia năm 1989, nơi Spielberg tham dự, và cá nhân ông đã tư vấn công việc cho nhiều chàng trai theo yêu cầu của họ.[174] Cùng năm đó, thế giới chứng kiến sự ra đời của tác phẩm cuối cùng trong loạt phim Indiana Jones, Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng. Cảnh mở đầu cho thấy Indiana Jones lúc còn nhỏ đang mặc một bộ đồng phục Hướng đạo. Spielberg tuyên bố ông đã biến Indiana Jones trở thành một Hướng đạo sinh nhằm tri ân quãng thời gian mà ông bước ơc trên con đường Hướng đạo. Vì những thành tựu của mình, Spielberg đã được trao Giải Đại bàng Hướng đạo cho cá nhân xuất sắc.[175]

Steven Spielberg nhận giải Thành tựu trọn đời AFI vào năm 1995.

Năm 1998, ông được trao tặng Huân chương Thập tự của Cộng hòa Liên bang Đức. Giải thưởng được trao bởi Tổng thống Roman Herzog để công nhận bộ phim Bản danh sách của Schindler và tổ chức Shoah-Foundation của ông.[176]

Năm 1999, Spielberg nhận bằng Tiến sĩ danh dự từ Đại học Brown. Spielberg cũng được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng William Cohen trao tặng Huân chương Quốc phòng cho Dịch vụ Công cộng xuất sắc tại Lầu năm góc vào ngày 11 tháng 8 năm 1999; Cohen đã trao huân chương nhằm công nhận bộ phim Giải cứu binh nhì Ryan của Spielberg.

Năm 2001, Steven Spielberg được Nữ hoàng Elizabeth II bổ nhiệm làm Hiệp sĩ Đế chế Anh (KBE) nhờ những thành tựu cho ngành công nghiệp giải trí của Vương quốc Anh.[177]

Năm 2004, ông được tổng thống Jacques Chirac công nhận là hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội tinh.[178] Vào ngày 15 tháng 7 năm 2006, Spielberg được trao Giải Thành tựu trọn đời Gold Hugo tại Gala Mùa hè của Liên hoan phim Quốc tế Chicago,[179] và cũng được trao tặng một giải thưởng của Trung tâm Kennedy vào ngày 3 tháng 12. Một bộ phim về tiểu sử của Steven Spielberg đã được thực hiện, do Liam Neeson dẫn chuyện và nói về những lời cảm ơn từ các cựu chiến binh Thế chiến II vì bộ phim Giải cứu binh nhì Ryan, cũng như màn biểu diễn bài hát Candide của Leonard Bernstein, do John Williams (nhà soạn nhạc và là bạn thân lâu năm của Spielberg) thực hiện.[180]

Đại sảnh Danh vọng Khoa học Viễn tưởng đã ghi danh đạo diễn Steven Spielberg vào năm 2005, năm đầu tiên họ công nhận những người có các đóng góp phi văn học.[181][182] Vào tháng 11 năm 2007, ông được trao Giải Thành tựu trọn đời tại Giải thưởng của Hiệp hội Hiệu ứng Hình ảnh thường niên lần thứ sáu vào tháng 2 năm 2009. Ông cũng được trao tặng Giải Cecil B. DeMille tại Giải Quả cầu vàng 2008; tuy nhiên, do cuộc biểu tình của Hiệp hội Nhà văn Hoa Kỳ, Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood đã hoãn việc tham dự buổi lễ năm 2009.[183][184] Năm 2008, Spielberg nhận huân chương Bắc Đẩu Bội tinh.[185]

Tháng 6 năm 2008, Spielberg được Đại học bang Arizona trao tặng giải Hugh Downs cho Truyền thông xuất sắc.[186]

Spielberg đã nhận được bằng danh dự tại Lễ tốt nghiệp hàng năm lần thứ 136 ở Đại học Boston vào ngày 17 tháng 5 năm 2009. Vào tháng 10 năm 2009, Steven Spielberg đã nhận được Huy chương Tự do Philadelphia; người trao tặng ông tấm huy chương là cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton. Những khách mời đặc biệt trong buổi lễ trao tặng bao gồm Whoopi Goldberg, Thống đốc Pennsylvania Ed Rendell và Thị trưởng Philadelphia Michael Nutter.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 2011, Spielberg trở thành Tư lệnh Huân chương Vương miệng Bỉ. Ông được Bộ trưởng Tài chính Liên bang Bỉ Didier Reynders trao chiếc huân chương trên một dải ruy băng cổ đỏ. Tư lệnh là cấp bậc cao thứ ba của Huân chương Vương miện. Ông cũng là chủ tịch ban giám khảo của Liên hoan phim Cannes 2013.[187]

Vào ngày 19 tháng 11 năm 2013, Steven Spielberg được Cục Quản lý và Lưu trữ Quốc gia vinh danh với Giải thưởng Thành tích. Spielberg đã nhận được hai bản fax của Tu chính án thứ 13 của Hiến pháp Hoa Kỳ, một bản được thông qua nhưng không được phê chuẩn vào năm 1861, cũng như một bản năm 1865 được ký bởi Tổng thống Abraham Lincoln. Quá trình thay đổi và thông qua Tu chính án thứ 13 là chủ đề của bộ phim Lincoln do ông đạo diễn.[188]

Vào ngày 24 tháng 11 năm 2015, Spielberg đã được trao Huân chương Tự do Tổng thống từ Tổng thống Barack Obama trong một buổi lễ tại Nhà Trắng.[189]

Vào ngày 26 tháng 5 năm 2016, Spielberg đã được Đại học Harvard trao tặng Bằng Tiến sĩ danh dự.

Vào tháng 7 năm 2016, Steven Spielberg được trao huy hiệu Blue Peter bằng vàng trên chương trình truyền hình dành cho trẻ em Blue Peter của BBC.[190]

Năm Phim Giải Oscar Giải BAFTA Giải Quả cầu vàng
Đề cử Thắng Đề cử Thắng Đề cử Thắng
1975 Hàm cá mập 4 3 7 1 4 1
1977 Kiểu tiếp xúc thứ 3 9 2 9 1 4
1979 1941 3 5
1981 Chiếc rương thánh tích 9 5 7 1 1
1982 E.T. Sinh vật ngoài hành tinh 9 4 12 1 5 2
1984 Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc 2 1 4 1
1985 Màu tím 11 1 5 1
1987 Đế chế mặt trời 6 6 3 2
1989 Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng 3 1 3 1
1991 Hook 5 1
1993 Công viên kỷ Jura 3 3 3 2
Bản danh sách của Schindler 12 7 13 7 6 3
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura 1
Amistad 4 4
1998 Giải cứu binh nhì Ryan 11 5 10 2 5 2
2001 A.L. Trí tuệ nhân tạo 2 1 3
2002 Bản báo cáo thiểu số 1 1
Hãy bắt tôi nếu có thể 2 4 1 1
2005 Đại chiến thế giới 3
Munich 5 2
2008 Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê 1
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin 2 2 1 1
Chiến mã 6 5 2
2012 Lincoln 12 2 10 1 7 1
2015 Người đàm phán 6 1 9 1 1
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ 1
2017 The Post 2 6
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo 1 1
Tổng cộng 131 34 110 22 66 11

Những bộ phim được đề cử Giải Oscar[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg đã chỉ đạo mười bốn bộ phim được đề cử hoặc giành giải Oscar cho diễn xuất của các diễn viên trong phim.

Năm Người được đề cử Phim Kết quả
Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1993 Liam Neeson Bản danh sách của Schindler Đề cử
1998 Tom Hanks Giải cứu binh nhì Ryan Đề cử
2012 Daniel Day-Lewis Lincoln Chiến thắng
Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1986 Whoopi Goldberg Màu tím Đề cử
2017 Meryl Streep The Post Đề cử
Giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
1993 Ralph Fiennes Bản danh sách của Schindler Đề cử
1997 Anthony Hopkins Amistad Đề cử
2002 Christopher Walken Bắt tôi nếu có thể Đề cử
2012 Tommy Lee Jones Lincoln Đề cử
2015 Mark Rylance Người đàm phán Chiến thắng
Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
1977 Melinda Dillon Kiểu tiếp xúc thứ 3 Đề cử
1986 Margaret Avery Màu tím Đề cử
Oprah Winfrey Đề cử
2012 Sally Field Lincoln Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Họ của ông có nguồn gốc là tên một thành phố của Áo, thành phố Spielberg bei Knittelfeld, nơi những người tổ tiên Hungary gốc Do Thái của ông đã sống ở thế kỷ 17.
  2. ^ Sau khi Spielberg đã là một đạo diễn nổi tiếng, USC đã trao tặng bằng tốt nghiệp danh dự cho ông năm 1994 và đến năm 1996 thì Spielberg đã trở thành một ủy viên quản trị của trường.
  3. ^ Bộ phim kể về một kẻ tâm thần săn đuổi một người lái xe (do Dennis Weaver thủ vai) và bắt đầu khủng bố anh ta.
  4. ^ Something Evil đã được sản xuất và phát hành dựa trên The Exorcist, sau đó đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất từng được phát hành dưới dạng phim.
  5. ^ Spielberg đã hoàn thành hợp đồng của mình bằng cách chỉ đạo bộ phim truyền hình kinh dị có tên Savage, với sự tham gia của Martin Landau.
  6. ^ Những bộ phim phiêu lưu được chia thành nhiều phần.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Steven Spielberg”. Forbes. Truy cập 9 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ The cinema of Steven Spielberg: Empire of light. Nigel Morris. Wallflower Press. 2007
  3. ^ Higgins, Bill (7 tháng 4 năm 2012). 'Jaws': Revisiting Hollywood's First Summer Blockbuster”. The Hollywood Reporter. Truy cập 10 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ “Steven Spielberg to Harvard grads: Be the movie heroes of real life”. The Economic Times. 
  5. ^ Lê Hồng Lâm (4 tháng 4 năm 2018). “Steven Spielberg - Người khổng lồ của các bom tấn và kiệt tác điện ảnh”. Zing.vn. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  6. ^ Directors with two or more Oscars
  7. ^ McClintock, Pamela (17 tháng 4 năm 2018). “Box-Office Milestone: Steven Spielberg Is First Member of $10B Directors' Club”. The Hollywood Reporter. Truy cập 18 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ a ă â b c d đ e McBride, Joseph (1997). Steven Spielberg. Faber and Faber. ISBN 978-0-571-19177-2. 
  9. ^ Post 50 (18 tháng 12 năm 2012). “Steven Spielberg: 10 Little Known Facts About The Director On His Birthday”. HuffPost. Truy cập 26 tháng 2 năm 2019. 
  10. ^ Heller, Zoe (22 tháng 5 năm 1993). “FILM / The Real Thing: Steven Spielberg, fueller of fantasies, wizard”. The Independent. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  11. ^ Shales, Tom (15 tháng 12 năm 1993). “THE MAN AT THE TOP OF 'SCHINDLER'S LIST'. The Washington Post. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  12. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  13. ^ “Fred A. Bernstein”. Fredbernstein.com. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 3 năm 2013. Truy cập 25 tháng 5 năm 2012. 
  14. ^ “Steven Spielberg Biography (1947?–)”. filmreference.com. Truy cập 15 tháng 1 năm 2008. 
  15. ^ “Arnold Meyer Spielberg (b. 1917)”. birth-records.mooseroots.com. Truy cập 10 tháng 1 năm 2018. 
  16. ^ Gutfreund, Sara Debbie (28 tháng 1 năm 2017). “Steven Spielberg's Jewish Roots”. The Jewish Website - aish.com. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  17. ^ Illingworth, Shaun (12 tháng 5 năm 2006). “Interview:Spielberg, Arnold”. Rutgers University. Truy cập 25 tháng 10 năm 2015. 
  18. ^ Tugend, Tom (13 tháng 6 năm 2012). “A close encounter with Steven Spielberg's dad”. The Jewish Journal of Greater Los Angeles. Truy cập 25 tháng 10 năm 2015. 
  19. ^ Denby, David (16 tháng 1 năm 2017). “Steven Spielberg at Seventy”. The New Yorker. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  20. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  21. ^ Jungreis-Wolff, Slovie (22 tháng 8 năm 2015). “Steven Spielberg, E.T. and Growing Up Jewish”. The Jewish Website - aish.com. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  22. ^ “Steven Spielberg: 'We Can't Just Sit Back and Hope'. Parade Magazine. 27 tháng 3 năm 1994. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 2 năm 2016. 
  23. ^ Weinraub, Bernard (12 tháng 12 năm 1993). “Steven Spielberg Faces the Holocaust”. The New York Times (The New York Times Company). 
  24. ^ Isenberg, Noah (9 tháng 1 năm 2017). “The Making of Steven Spielberg”. The New Republic. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  25. ^ Reed, J.D. (15 tháng 3 năm 1999). “Steven Spielberg”. People. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  26. ^ Jackson, Kathi (2007). Steven Spielberg: A Biography. Greenwood Publishing Group. tr. 5. ISBN 9780313337963. Truy cập 21 tháng 4 năm 2015. 
  27. ^ “Steven Spielberg Sighted in Arizona”. Truy cập 19 tháng 11 năm 2007. 
  28. ^ “Nickelodeon Magazine Interviews Steven Spielberg”. Nickelodeon Magazine. Truy cập 29 tháng 7 năm 2008. 
  29. ^ a ă Joseph McBride, Steven Spielberg, Nhà xuất bản Faber and Faber, 1997
  30. ^ Ryfle, Steve (1998). Japan's Favorite Mon-Star: The Unauthorized Biography of the Big G. ECW Press. tr. 15–17. ISBN 9781550223484. 
  31. ^ “10 great films that inspired Steven Spielberg”. British Film Institute. 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019. 
  32. ^ Từ cuộc phỏng vấn của James Lipton với Steven Spielberg trên Inside the Actor's Studio.
  33. ^ Ian Freer, The Complete Spielberg, Nhà xuất bản Virgin, 2001
  34. ^ “Board of Trustees – About USC”. usc.edu. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 7 năm 2011. 
  35. ^ “CSU Newsline – Steven Spielberg To Graduate from California State University, Long Beach With Bachelor's Degree in Film and Electronic Arts”. Calstate.edu. 14 tháng 5 năm 2002. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 3 năm 2010. Truy cập 2 tháng 3 năm 2010. 
  36. ^ Stephanie Chavez (31 tháng 5 năm 2002). “Spielberg to Add B.A. to His Resume”. Los Angeles Times. 
  37. ^ Mark Bulik (26 tháng 6 năm 2014). “1969: Spielberg and Snow White”. The New York Times. 
  38. ^ Hiscock, John (ngày 30 tháng 6 năm 2002). “Spielberg: why I went back to college”. Telegraph.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  39. ^ “Night Gallery”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  40. ^ a ă Chandler, Charlotte. Not the Girl Next Door: Joan Crawford, a Personal Biography, Hal Leonard Corp. (2008) p. 261
  41. ^ Baxter, John (1997). Steven Spielberg: The Unauthorised Biography. London: Harper Collins. tr. 145. ISBN 978-0-00-638444-1. 
  42. ^ "1941, Box Office Information." The Numbers, ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  43. ^ “Blade Runner”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  44. ^ Wise, Damon (21 tháng 10 năm 2010). “ET: The Extra-Terrestrial: No 7 best sci-fi and fantasy film of all time”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập 18 tháng 10 năm 2017. 
  45. ^ Heitmueller, Karl (ngày 3 tháng 4 năm 2007). “Rewind: Major-Studio flicks that belong in the Grind House”. MTV. Truy cập 2 tháng 1 năm 2009. Ultimate A-lister Steven Spielberg co-produced this big-budget adaptation of Rod Serling's classic '60s TV show.... 
  46. ^ Cyndi Lauper – The Goonies 'R' Good Enough trên YouTube
  47. ^ “Steven Spielberg Biography”. Biography.com. Ngày 18 tháng 12 năm 1947. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  48. ^ “Andrew Sarris' Top 10 lists 1958–2005”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  49. ^ The screenplay, adapted from Thomas Keneally's novel, was originally in the hands of fellow director Martin Scorsese, but Spielberg negotiated with Scorsese to trade scripts. (At the time, Spielberg held the script for a remake of Cape Fear.)
  50. ^ Army Archered (ngày 17 tháng 6 năm 1993). “Spielberg to take break after completing 'List'. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2007. 
  51. ^ (formed with former Disney animation exec Jeffrey Katzenberg and media mogul David Geffen, providing the other letters in the company name)
  52. ^ Masters, Kim (ngày 15 tháng 6 năm 2016). “Steven Spielberg on DreamWorks' Past, Amblin's Present and His Own Future”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  53. ^ Rotten Tomatoes. “Minority Report”. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  54. ^ Ebert, Roger (21 tháng 6 năm 2002). “Minority Report”. Chicago Sun-Times. Truy cập 10 tháng 4 năm 2018. 
  55. ^ “Box office collection of Catch Me If You Can”. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  56. ^ “Reviews of Catch Me If You Can”. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  57. ^ Yossi Melman and Steven Hartov (ngày 17 tháng 1 năm 2006). “Munich: Fact and Fantasy”. The Guardian (The Guardian Unlimited). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  58. ^ “New Indy Adventure Begins Shooting”. IndianaJones.com. Ngày 18 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007. 
  59. ^ “Spielberg, Ford and Lucas on Indy IV”. Empire. Ngày 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  60. ^ “Indiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull (2008)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  61. ^ "The Man Behind Boy, Dog and Their Adventures" Book review by Charles McGrath, The New York Times, ngày 22 tháng 12 năm 2009 (ngày 23 tháng 12 năm 2009, p. C1 NY ed.). Book reviewed: Hergé: The Man Who Created Tintin, by Pierre Assouline; translated by Charles Ruas, 276 pages. Oxford University Press. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009.
  62. ^ “Tintin Has World Premiere in His Hometown”. NPR. Associated Press. Ngày 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011. [liên kết hỏng]
  63. ^ “The Adventures of Tintin Official Movie Site”. Paramount Pictures. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  64. ^ “The Adventures of Tintin (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  65. ^ “The Adventures of Tintin (Box office)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  66. ^ “2012 GOLDEN GLOBES Nominees and Winners – Complete List!”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  67. ^ “Tintin Takes Golden Globe”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  68. ^ “The Adventures of Tintin (Trivia)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  69. ^ Wigler, Josh (ngày 26 tháng 10 năm 2011). “Jackson To Direct 'Tintin' Sequel”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  70. ^ "Steven Spielberg starts filming War Horse on Dartmoor" Lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2011, tại Wayback Machine. by Tristan Nichols, The Herald ngày 3 tháng 8 năm 2010
  71. ^ “War Horse (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  72. ^ Breznican, Anthony (ngày 13 tháng 4 năm 2011). “Steven Spielberg's 'Lincoln' gets its Mary Todd: Sally Field”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  73. ^ Garbarek, Ben (ngày 9 tháng 5 năm 2011). “First casting calls for Steven Spielberg movie”. WWBT (Richmond). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  74. ^ “This Week in the Civil War”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  75. ^ Fischer, Russ (ngày 19 tháng 11 năm 2010). “Daniel Day-Lewis to Star in Steven Spielberg's 'Lincoln'. /Film. 
  76. ^ “Nominees for the 85th Academy Awards”. oscars.org. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  77. ^ “Steven Spielberg, Bradley Cooper to team for 'American Sniper'. LA Times. Truy cập 3 tháng 5 năm 2013. 
  78. ^ a ă Bahr, Lindsey (16 tháng 6 năm 2014). “Steven Spielberg's Cold War thriller and 'The BFG' snag release dates”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập 22 tháng 10 năm 2019. 
  79. ^ McNary, Dave (ngày 16 tháng 6 năm 2014). “Tom Hanks-Steven Spielberg Cold War Thriller Set for Oct. 16, 2015”. Variety. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 
  80. ^ “Amy Ryan, Alan Alda Join Tom Hanks in Steven Spielberg's Cold War Thriller”. Variety. Ngày 21 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  81. ^ Andrew Pulver (ngày 28 tháng 4 năm 2014). “Steven Spielberg to tackle The BFG movie”. The Guardian. 
  82. ^ Jaafar, Nancy Tartaglione,Ali (ngày 14 tháng 4 năm 2016). “Cannes Film Festival 2016 Lineup: 'The BFG', 'Nice Guys', Penn, Refn, Almodóvar & More Confirmed; No Closing-Night Pic”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  83. ^ “Programme”. Festival de Cannes. Truy cập 1 tháng 12 năm 2017. 
  84. ^ Fleming, Jr., Mike (ngày 10 tháng 3 năm 2017). “Spielberg, Hanks & Streep's Pentagon Papers Pic A Contender In Next Oscar Race”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2017. 
  85. ^ Tuấn Lương (30 tháng 1 năm 2018). “Bom tấn ‘Indiana Jones 5’ sớm khởi quay trong năm 2019”. new.zing.vn. 
  86. ^ “Production Underway on Spielberg's THE PAPERS, Starring Meryl Streep & Tom Hanks”. Broadwayworld.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  87. ^ Kevin Jagernauth (ngày 25 tháng 2 năm 2016). “Tye Sheridan Lands Lead In Steven Spielberg's 'Ready Play – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016. 
  88. ^ Oliver Lyttelton (ngày 11 tháng 9 năm 2015). 'Me, Earl & The Dying Girl' & 'Bates Motel' Star Olivia C – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  89. ^ “New BFFs Spielberg, Rylance team up for 'The BFG' and big things beyond”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  90. ^ Mike Fleming Jr (ngày 6 tháng 8 năm 2015). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Slotted For December 2017”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  91. ^ Lang, Brent (ngày 9 tháng 2 năm 2016). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Pushed Back to Avoid 'Star Wars: Episode VIII'. Variety (Variety Media, LLC). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016. 
  92. ^ Staff, Variety (12 tháng 3 năm 2018). “Spielberg's 'Ready Player One' Premiere Hit With Technical Difficulties”. 
  93. ^ Mike Fleming Jr (ngày 5 tháng 3 năm 2014). 'West Side Story' Remake For Steven Spielberg In Works At Fox – Deadline”. Deadline Hollywood. Penske Business Media, LLC. 
  94. ^ Teeman, Tim (ngày 19 tháng 7 năm 2017). “Tony Kushner: Why I'm Writing a Play About Donald Trump”. The Daily Beast. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  95. ^ “New West Side Story Movie Sets December 2020 Release”. Truy cập 19 tháng 1 năm 2020. 
  96. ^ Jr, Mike Fleming (ngày 11 tháng 4 năm 2016). “Steven Spielberg Sets 'The Kidnapping Of Edgardo Mortara' Next; Tony Kushner Script, Mark Rylance Is Pope Pius IX”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  97. ^ Kroll, Justin (ngày 18 tháng 4 năm 2014). “Steven Spielberg Boards Religious Drama 'Edgardo Mortara' (Exclusive)”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  98. ^ Fleming Jr., Mike (ngày 19 tháng 1 năm 2018). “Steven Spielberg Eyes Indiana Jones & 'West Side Story' Atop Next Directing Vehicles”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018. 
  99. ^ Dương Nga (13 tháng 4 năm 2019). “Jennifer Lawrence vào vai phóng viên do Spielberg đạo diễn”. doisongvn. 
  100. ^ “Steven Spielberg to Direct Film Adaptation of DC's 'Blackhawk'. 
  101. ^ Sragow, Michael (ngày 25 tháng 6 năm 1981). “Inside 'Raiders of the Lost Ark'. Rolling Stone. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2018. The one [Spielberg] feels Raiders is closest to is Blackhawk – the DC comic (and 1952 Sam Katzman serial)... 
  102. ^ “The New Halo Game Is a Hit – So What's the Status of the Halo Movie?”. 
  103. ^ “SDCC: Spielberg Interested in A Steady Rain Movie”. ComingSoon. 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập 21 tháng 7 năm 2011. 
  104. ^ Spielberg to make pirates movie – Yahoo! Movies UK & Ireland “Yahoo Movies UK”. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập 28 tháng 8 năm 2009. 
  105. ^ Michael Fleming (24 tháng 6 năm 2008). “Steven Spielberg follows '39 Clues'. Variety. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 12 năm 2008. Truy cập 3 tháng 9 năm 2008. 
  106. ^ "Steven Spielberg to direct Martin Luther King film" Daily Telegraph, May 19, 2009. Footnote format December 24, 2009.
  107. ^ -sue-over-planned-biographical-film/ "King's Children May Sue Over Planned Biographical Film" by Dave Itzkoff, The New York Times ArtsBeat blog, May 20, 2009. Retrieved December 24, 2009.
  108. ^ E.T. DVD Production Notes Booklet. Universal. 2002. 
  109. ^ Directed by Steven Spielberg: Poetics of the Contemporary Hollywood Blockbuster
  110. ^ The Culture Show (TV). BBC. Ngày 4 tháng 11 năm 2006. 
  111. ^ 'Most costly' celebrity divorces”. BBC News. 13 tháng 4 năm 2007. 
  112. ^ Arenson, Karen W. (ngày 24 tháng 9 năm 1995). “From 'Schindler's List,' a Jewish Mission”. The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  113. ^ Pogrebin, Abigail (tháng 10 năm 2005). Stars of David: Prominent Jews Talk About Being Jewish. Bantam Dell Pub Group. ISBN 978-0-7679-1612-7. 
  114. ^ "Billionaires on vacation: No. 80: Steven Spielberg" by Christina Valhouli, Forbes magazine, September 19, 2002. Retrieved December 24, 2009.
  115. ^ “Spielberg, Steven – Fun Facts, Answers, Factoids, Info, Information”. Funtrivia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010. 
  116. ^ Schuster, Dana (7 tháng 9 năm 2012). “A stage for Spielberg's son”. New York Post. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  117. ^ “The 50 most influential baby boomers: Top 10”. Life. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  118. ^ “Honoring Steven Spielberg: Talking about old-school filmmaking, the virtues of TV, and the scent of film”. BU Today. Ngày 13 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  119. ^ “The Clintons' Showbiz Celebration”. BBC News. 1 tháng 1 năm 2000. Truy cập 21 tháng 10 năm 2006. 
  120. ^ “Spielberg quits scouts 'over gay ban'. BBC News. 17 tháng 4 năm 2001. Truy cập 30 tháng 10 năm 2006. 
  121. ^ “Spielberg resigns from Boy Scouts board”. Hollywood.com. 26 tháng 4 năm 2001. Truy cập 10 tháng 3 năm 2006. 
  122. ^ "Spielberg movies banned by Arab League, WikiLeaks cable reveals." Haaretz, December 18, 2010.
  123. ^ “Spielberg donates $US1m to Israeli relief”. The Age (Melbourne). Associated Press. 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập 18 tháng 12 năm 2010. 
  124. ^ Obama excites entertainment community By JOCELYN NOVECK, AP National Writer[liên kết hỏng]
  125. ^ Rachel Abramowitz (2008). “Spielberg drops out as Beijing Olympics advisor”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 6 năm 2008. Truy cập 13 tháng 2 năm 2007. 
  126. ^ “Spielberg in Darfur snub to China”. BBC News. 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập 16 tháng 5 năm 2008. 
  127. ^ “Rogge respect for Spielberg move”. BBC News. 15 tháng 2 năm 2008. Truy cập 16 tháng 5 năm 2008. 
  128. ^ Bristow, Michael (20 tháng 2 năm 2008). “China hits back over Olympics row”. BBC News. Truy cập 16 tháng 5 năm 2008. 
  129. ^ “Spielberg Makes Like Pitt, Supports Same-Sex Marriage – E! Online”. Uk.eonline.com. 23 tháng 9 năm 2008. Truy cập 2 tháng 3 năm 2010. 
  130. ^ Gonzalez, Sandra (21 tháng 2 năm 2018). “Oprah, Steven Spielberg also donating to March For Our Lives, following George Clooney's pledge”. CNN. Truy cập 29 tháng 3 năm 2018. 
  131. ^ “Hidden Treasures: Prop Art”. The New York Times (The New York Times Company). 13 tháng 6 năm 1982. Truy cập 11 tháng 2 năm 2016. 
  132. ^ Sale 7565 / Lot 149, Orson Welles. Typescript radioplay The War of the Worlds. Christie's, June 2, 1994
  133. ^ “Spielberg saves Bette Davis Oscar”. Los Angeles Times. Associated Press. 21 tháng 12 năm 2002. Truy cập 11 tháng 2 năm 2016. 
  134. ^ Smithsonian American Art Museum. “Exhibitions: Telling Stories”. Washington, D.C. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 4 năm 2013. 
  135. ^ Face to Face. BBC Two. 31 tháng 1 năm 1994. 
  136. ^ Ian Freer (tháng 8 năm 2005). “Death from Above”. Empire. tr. 99. 
  137. ^ GameSpot, "Storytime with Ron Gilbert – PAX Australia 2013 Keynote", Ron Gilbert, July 7, 2013, accessed March 21, 2015
  138. ^ DoubleFineProd, "Tim Schafer Plays Day of the Tentacle Part 1", Tim Schafer, May 9, 2014, accessed March 22, 2015
  139. ^ Tom Chick (8 tháng 12 năm 2008). “A Close Encounter with Steven Spielberg”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập 11 tháng 12 năm 2008. 
  140. ^ “Spielberg wins order banning cult stalker”, The Australian, 23 tháng 10 năm 2002: 12 
  141. ^ Sauer, M (31 tháng 12 năm 2002). “Stalking suspect to undergo more psychological tests”. The San Diego Union-Tribune. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 9 năm 2008. Truy cập 30 tháng 10 năm 2008. 
  142. ^ De Young, Mary (2004). The day care ritual abuse moral panic. Jefferson, N.C.: McFarland. tr. 234–5. ISBN 978-0-7864-1830-5. 
  143. ^ “Spielberg stalker jailed”. BBC News. 17 tháng 6 năm 1998. Truy cập 11 tháng 12 năm 2011. 
  144. ^ Sylvester, Sherri (26 tháng 2 năm 1998). “Spielberg recounts fears, anguish over alleged stalker”. CNN. Truy cập 11 tháng 12 năm 2011. 
  145. ^ “If Only It Were True by Marc Levy – Reviews, Discussion, Bookclubs, Lists”. Goodreads.com. Truy cập 25 tháng 5 năm 2012. 
  146. ^ Jensen, Jeff (19 tháng 7 năm 2002). “From the EW archives: Tom Hanks talks Road to Perdition. Entertainment Weekly. Truy cập 22 tháng 10 năm 2019. 
  147. ^ “NEW 'Super 8' Teaser Details, Spielberg/Abrams Collaboration Confirmed!”. Bloody-disgusting.com. 6 tháng 5 năm 2010. Truy cập 31 tháng 1 năm 2011. 
  148. ^ Schneider, Michael (11 tháng 12 năm 2006). “Spielberg takes development role in Fox TV projects”. Variety. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập 11 tháng 12 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  149. ^ Hibberd, James (11 tháng 3 năm 2011). “Fox pushes back 'Terra Nova' to fall”. Entertainment Weekly. Truy cập 22 tháng 10 năm 2019. 
  150. ^ “ABC's 'The River' offers scary mystery”. USA Today. 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  151. ^ 'Smash': It has Steven Spielberg, Katharine McPhee, Marilyn Monroe”. Bản gốc lưu trữ 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập 15 tháng 5 năm 2011. 
  152. ^ “Stephen King, Steven Spielberg Go 'Under the Dome'. Rolling Stone. 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2017. 
  153. ^ Brian Lowry (6 tháng 8 năm 2015). “Steven Spielberg's 'Extant' Only One of Many Alien TV Shows – Variety”. Variety. Variety Media, LLC. 
  154. ^ Brian Lowry (29 tháng 5 năm 2015). 'The Whispers' Review Steven Spielberg Series ABC – Variety”. Variety. Variety Media, LLC. 
  155. ^ Whitney Friedlander (21 tháng 9 năm 2015). 'Minority Report': Producers on Show Based on Tom Cruise Movie – Variety”. Variety. Variety Media, LLC. 
  156. ^ Andreeva, Nellie (20 tháng 3 năm 2017). “Glenn Gordon Caron Tapped As New 'Bull' Showrunner Under CBS TV Studios Deal”. Deadline Hollywood. Truy cập 1 tháng 12 năm 2017. 
  157. ^ Porter, Rick (9 tháng 5 năm 2019). “Steven Spielberg's Amblin TV Leaves CBS' 'Bull' Over Harassment Scandal”. The Hollywood Reporter. Truy cập 9 tháng 5 năm 2019. 
  158. ^ Siegel, Tatiana; Fleming, Michael (14 tháng 4 năm 2008). “DreamWorks to make 'Ghost' in 3-D”. Variety. Bản gốc lưu trữ 18 tháng 8 năm 2011. Truy cập 9 tháng 11 năm 2011. 
  159. ^ Kroll, Justin (5 tháng 1 năm 2015). “Scarlett Johansson Signs on to Star in DreamWorks' 'Ghost in the Shell' (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập 5 tháng 1 năm 2015. 
  160. ^ Bishop, Bryan (25 tháng 1 năm 2014). “Live-action 'Ghost in the Shell' movie signs the director of 'Snow White and the Huntsman'. The Verge. Truy cập 3 tháng 3 năm 2014. 
  161. ^ HBO Developing Third WWII Miniseries with Tom Hanks, Steven Spielberg (Exclusive) (The Hollywood Reporter)
  162. ^ Production progresses on reported Spielberg/Tom Hanks HBO miniseries 'The Mighty Eighth' (NME)
  163. ^ “Steven Spielberg developing Stanley Kubrick”. The Hollywood Reporter. 
  164. ^ “Cary Fukunaga in Talks to Direct HBO Stanley Kubrick Mini 'Napoleon,' From Steven Spielberg”. The Hollywood Reporter. Truy cập 1 tháng 12 năm 2017. 
  165. ^ Kroll, Justin (ngày 18 tháng 3 năm 2016). 'Indiana Jones 5' Taps Writer David Koepp, a Steven Spielberg Regular”. Variety. Variety Media, LLC. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  166. ^ D'Alessandro, Anthony (ngày 15 tháng 3 năm 2016). “Steven Spielberg & Harrison Ford Team Up For 'Indiana Jones 5'; Disney Sets July 2019 Release”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  167. ^ “Spielberg Confirms 'Indy 5' Will Begin Production In April 2019”. Ngày 19 tháng 3 năm 2018. 
  168. ^ “Star Wars: Episode IX and Next Indiana Jones Get Release Dates”. Starwars.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  169. ^ 'Indiana Jones 5' Will Miss 2020 Release Date (EXCLUSIVE)”. Ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  170. ^ “Disney Pushes 'Indiana Jones 5' a Year to 2021, Dates 'Maleficent 2,' 'Jungle Cruise'. 
  171. ^ https://comicbook.com/movies/2019/05/01/indiana-jones-5-new-writer-abandoned-plot-details-revealed/
  172. ^ “Steven Spielberg bất ngờ rời ghế đạo diễn bom tấn Indiana Jones 5”. Truy cập 19 tháng 4 năm 2020. 
  173. ^ “Martin Scorsese, Leonardo DiCaprio Finally Open Up About Wolf of Wall Street. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017. 
  174. ^ Boys' Life, September 1989
  175. ^ “Distinguished Eagle Scout Award”. National Capital Area Council – Boy Scouts of America. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 10 năm 2006. Truy cập 21 tháng 10 năm 2006. 
  176. ^ “Steven Spielberg erhält das Bundesverdienstkreuz”. Berlin Online. 11 tháng 11 năm 1998. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 12 năm 2008. 
  177. ^ “Spielberg receives Royal honour”. BBC News. 30 tháng 1 năm 2001. 
  178. ^ “Le Président de la République remet les insignes de chevalier de la Légion d'Honneur à M. Steven Spielberg” (bằng tiếng French). Palais de l'Élysée. 5 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 12 năm 2007. Truy cập 29 tháng 9 năm 2007. 
  179. ^ “Spielberg receives Lifetime Achievement Award”. Chicago Film Festival. 17 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 10 năm 2006. Truy cập 21 tháng 10 năm 2006. 
  180. ^ Sentinel, Hal Boedeker, Tribune newspapers: Orlando. “`Kennedy Center Honors' hits mostly high notes”. chicagotribune.com (bằng tiếng en-US). Truy cập 26 tháng 1 năm 2020. 
  181. ^ “It's Official! Inductees Named for 2005 Hall of Fame Class”. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 3 năm 2005. Truy cập 26 tháng 3 năm 2005. . Press release March 24, 2005. Science Fiction Museum (sfhomeworld.org). Archived March 26, 2005. Retrieved March 22, 2013.
  182. ^ "Science Fiction and Fantasy Hall of Fame" Lưu trữ 21 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine.. Mid American Science Fiction and Fantasy Conventions, Inc. Retrieved April 7, 2013. This was the official website of the hall of fame to 2004.
  183. ^ “Spielberg to Receive Cecil B. DeMille Award”. ComingSoon.net. 14 tháng 11 năm 2007. Truy cập 14 tháng 11 năm 2007. 
  184. ^ “Spielberg Globe honour 'deferred'. BBC News. 9 tháng 1 năm 2008. 
  185. ^ “French honour for Steven Spielberg”. Press Association. 21 tháng 5 năm 2008. Truy cập 22 tháng 5 năm 2008. [liên kết hỏng]
  186. ^ Spielberg Receives Arizona State University Communication Award Newswise. Retrieved June 22, 2008.
  187. ^ “Steven Spielberg to head up Cannes Film Festival jury”. BBC News. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013. 
  188. ^ Ted Johnson (21 tháng 11 năm 2013). “Spielberg Honored by National Archives – Variety”. Variety. 
  189. ^ “President Obama Names Recipients of the Presidential Medal of Freedom”. The White House. 16 tháng 11 năm 2015. Truy cập 16 tháng 11 năm 2015. 
  190. ^ Burns, Catherine (July 22, 2016) Steven Spielberg has just won at life. He's got a Gold Blue Peter badge BBC Newsbeat website

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]