Steven Spielberg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Steven Spielberg
Ready Player One Japan Premiere Red Carpet Steven Spielberg (41564865232).jpg
Steven Spielberg tại sự kiện ra mắt phim
Ready Player One: Đấu trường ảo ở Nhật Bản
Sinh 18 tháng 12, 1946 (71 tuổi)
Cincinnati, Ohio, Mỹ
Học vấn Đại học California tại Long Beach
Nghề nghiệp Nhà làm phim
Năm hoạt động 1969–nay
Tài sản 3,6 tỉ USD[1] (2018)
Vợ/chồng Amy Irving
(k. 1985; l. 1989)

Kate Capshaw
(k. 1991)
Con cái
Cha mẹ
Người thân Anne Spielberg (em gái)
Chữ ký
Steven Spielberg Signature.png

Steven Allan Spielberg (sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946) là một nhà làm phim người Mỹ. Ông được coi là một trong những người tiên phong của kỷ nguyên điện ảnhNew Hollywood và là một trong những đạo diễn và nhà sản xuất điện ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử.[2]

Sau khi có được sự chú ý từ Hollywood với một số các tác phẩm chiếu rạp nhỏ lẻ, Spielberg bắt đầu nổi lên sau khi dự án Hàm cá mập (1975) mà ông đóng vai trò đạo diễn được ra mắt, và giành được thành công lớn về mặt chuyên môn cũng như thương mại, đồng thời mở ra định nghĩa mới về phim bom tấn mùa hè.[3] Các tác phẩm sau đó của ông chủ yếu đi theo thể loại khoa học viễn tưởng như Close Encounters of the Third Kind (1977), loạt phim Indiana Jones, E.T. the Extra-Terrestrial (1982), và loạt phim Công viên kỷ Jura vốn được coi như nguyên mẫu của lối làm phim Hollywood theo trường phái thoát ly.[4] Spielberg sau đó chuyển sang đào sâu về chủ nghĩa nhân văn trong các tác phẩm điện ảnh tiếp theo của sự nghiệp, được thể hiện rõ nhất qua The Color Purple (1985), Empire of the Sun (1987), Bản danh sách của Schindler (1993), Amistad (1997) và Giải cứu binh nhì Ryan (1998). Ông tiếp tục theo sát chủ đề này trong các dự án đầu thế kỷ 21, nổi bật là các bộ phim được đánh giá cao về mặt chuyên môn như Munich (2005), Lincoln (2012), Người đàm phán (2015) và The Post (2017).

Phong cách đạo diễn và công nghệ làm phim của Spielberg được nhiều nhà chuyên môn đánh giá cao, việc sử dụng các cảnh quay phản chiếu, khuếch đại hiệu ứng thị giác, và sử dụng các cảnh quay cận cho các tình huống biểu lộ sự ngạc nhiên, thường được gọi bằng tên "Spielberg Face", vẫn tồn tại cho tới ngày nay.[5] Ông cũng được biết đến với việc cộng tác lâu dài với một số diễn viên, nhà sản xuất và kỹ sư điện ảnh tên tuổi, ví dụ như nhà soạn nhạc John Williams hay nam diễn viên Tom Hanks. Ngoài công tác đạo diễn điện ảnh, Spielberg còn đóng vai trò nhà sản xuất cho nhiều bộ phim thành công, trong đó có hai loạt phim Men in BlackBack to the Future. Ông cũng là nhà đồng sáng lập của xưởng phim hoạt hình DreamWorks, và tại đây ông cũng đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất. Spielberg sau đó cũng tham gia sản xuất một vài trò chơi trong lĩnh vực trò chơi điện tử

Spielberg là một trong những nhà làm phim thành công nhất về mặt chuyên môn trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, với hai lần chiến thắng giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất.[6] Một vài phim điện ảnh do ông đạo diễn nằm trong số những phim điện ảnh có doanh thu cao nhất lịch sử, và ông cũng là đạo diễn có doanh thu phim cao nhất lịch sử.[7]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg sinh ra tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio, trong một gia đình Do Thái,[8] bố ông là Arnold còn mẹ là Leahanni Spielberg[9], ông có ba em gái. Họ của ông có nguồn gốc là tên một thành phố của Áo, thành phố Spielberg nơi những người tổ tiên Hungary gốc Do Thái của ông đã sống ở thế kỷ 17.

Ngay từ tuổi thiếu niên, Spielberg đã bắt đầu làm những bộ phim nghiệp dư 8 mm đề tài "mạo hiểm" với bạn bè, bộ phim đầu tiên được cậu bé Spielberg quay tại một nhà hàng ở Scottsdale, tiểu bang Arizona. Năm 13 tuổi, Spielberg giành giải thưởng đầu tiên với một bộ phim 40 phút về đề tài "chiến tranh" mà cậu đặt tên là Escape to Nowhere.[10]. Năm 1963, tại trường cấp III Arcadia thành phố Phoenix bang Arizona, cậu học sinh 16 tuổi Spielberg đã viết và đạo diễn bộ phim độc lập đầu tiên của mình, một bộ phim phiêu lưu khoa học viễn tưởng dài 140 phút có tên Firelight, bộ phim đã tạo cảm hứng cho một tác phẩm lớn của Spielberg sau này là Close Encounters of the Third Kind. Firelight với ngân sách 400 USD đã được chiếu ở một rạp địa phương và thu về 100 USD. Một nhà báo ở thành phố Phoenix khi đó đã viết rằng cậu học sinh này sau đó có thể làm được những tác phẩm lớn[11].

Sau khi bố mẹ ly dị, Steven Spielberg chuyển đến tiểu bang California với bố trong khi ba em gái và bà mẹ vẫn ở lại Arizona. Spielberg tốt nghiệp trường cấp III SaratogaSaratoga bang California năm 1965. Trong thời gian này, Spielberg đã trở thành một hướng đạo sinh và đã nhận được giải thưởng Distinguished Eagle Scout Award của tổ chức Hướng đạo sinh Hoa Kỳ (BSA) nhờ việc phát triển những tiêu chuẩn trao tặng huy hiệu danh dự cho hoạt động điện ảnh của hướng đạo sinh.

Sau khi chuyển đến California, Spielberg đăng ký tới ba lần vào trường điện ảnh của Đại học California tại Los Angeles và trường điện ảnh truyền hình của Đại học Nam California nhưng đều không được nhận vì chỉ tốt nghiệp cấp III với điểm trung bình loại C. Sau khi Spielberg đã là một đạo diễn nổi tiếng, USC đã trao tặng bằng tốt nghiệp danh dự cho ông năm 1994 và đến năm 1996 thì Spielberg đã trở thành một ủy viên quản trị của trường. Cuối cùng cậu thanh niên Spielberg vào học tại Đại học California tại Long Beach để tránh phải đi lính trong Chiến tranh Việt Nam[10]. Cũng tại đây Spielberg bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp điện ảnh với công việc thực tập không lương ở bộ phận biên tập của hãng phim Universal. Năm 1968, ông làm bộ phim ngắn đầu tiên để chiếu rạp, đó là bộ phim 24 phút với tựa đề Amblin. Sidney Sheinberg, người sau đó trở thành phó chủ tịch phụ trách sản xuất của hãng truyền hình thuộc Universal đã xem bộ phim và lập tức Spielberg trở thành đạo diễn trẻ nhất trong lịch sử được ký hợp đồng dài hạn với Universal, một trong các hãng phim chính của Hollywood, cậu bỏ học và bắt đầu sự nghiệp đạo diễn chuyên nghiệp.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1968–75: Những năm đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc đầu tiên của Spielberg ở hãng truyền hình của Universal là thực hiện một phần cho kịch bản phim truyền hình Night Gallery trong tập phim Eyes, diễn viên chính của bộ phim này là Joan Crawford, người sau đó trở thành bạn thân của ông đến khi bà chết. Sau đó Spielberg được làm một tập phim truyền hình thực sự, đó là tập L.A. 2017 trong loạt phim Name of the Game. Tập phim khoa học viễn tưởng này đã gây ấn tượng với hãng phim Universal và họ ký hợp đồng ngắn hạn với Spielberg để làm ba bộ phim chiếu trên truyền hình, Duel, The ExorcistSavage. Bộ phim dài chiếu rạp đầu tiên của ông là The Sugarland Express kể về một đôi vợ chồng bị cảnh sát săn đuổi vì họ cố giành lại quyền nuôi dưỡng con của mình. Những cảnh quay cuộc săn đuổi của cảnh sát được giới phê bình đánh giá cao, tuy nhiên bộ phim không thành công về mặt thương mại và chỉ được phát hành hạn chế.

Bước ngoặt cho sự nghiệp của Spielberg đến khi hai nhà sản xuất Richard Zanuck và David Brown đề nghị ông làm đạo diễn cho bộ phim Hàm cá mập, một bộ phim kinh dị dựa theo tiểu thuyết của Peter Benchley. Bộ phim sau đó đã giành được 3 giải Oscar (cho biên tập, thu âm và tiếng động), và đã lập kỉ lục doanh thu tại thị trường Mỹ khi thu về tới hơn 100 triệu USD, thậm chí bộ phim còn tạo nên một cơn sốt trong công chúng được báo chí đặt tên là "Jawsmania".

1975–93: Ông vua của những phim bom tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm cá mập bộ phim thành công đầu tay của Steven Spielberg

Từ chối đạo diễn phần 2 của Hàm cá mập, Spielberg và diễn viên Richard Dreyfuss gặp nhau trong một bộ phim mới sản xuất năm 1977, một tác phẩm về những vật thể bay không xác định có tên Close Encounters of the Third Kind. Là một trong số ít phim Spielberg vừa viết kịch bản vừa đạo diễn, Close Encounters đã trở thành một sản phẩm ăn khách và đem lại cho ông đề cử đầu tiên ở giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim giành hai giải Oscar cho quay phim và hiệu quả âm thanh, nhưng quan trọng hơn nó đã khẳng định khả năng đạo diễn cho những bộ phim bom tấn của Spielberg.

Thành công của Steven Spielberg với các bộ phim thương mại lại làm giới phê bình phim coi thường những tác phẩm tiếp theo của ông. Bộ phim tiếp theo của Spielberg là 1941, một tác phẩm tốn kém về đề tài Chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng lại bị cả giới phê bình và người xem chê bai. Ngay sau đó, Spielberg đã hợp tác cùng tác giả của loạt phim Chiến tranh giữa các vì saoGeorge Lucas để làm bộ phim Raiders of the Lost Ark, tập đầu tiên của bộ ba phim nổi tiếng Indiana Jones do diễn viên Harrison Ford thủ vai tiến sĩ khảo cổ Indiana Jones. Bộ phim đã đạt doanh thu cao nhất năm 1981 và được đề cử vài giải Oscar trong đó có đề cử giải Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho Spielberg và đề cử giải Phim hay nhất (bộ phim thứ hai của ông được đề cử giải này), cho đến ngày nay bộ phim này cũng vẫn được coi như một tác phẩm bước ngoặt của thể loại phim hành động.

Năm 1982 Spielberg trở lại với đề tài khoa học viễn tưởng quen thuộc với bộ phim E.T. the Extra-Terrestrial, câu chuyện về tình bạn giữa một chú bé và một người ngoài hành tinh đang cố gắng quay trở về nhà trong vũ trụ. E.T. đã trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại (kỷ lục này chỉ bị phá vỡ bởi Công viên kỷ Jura, một tác phẩm khác của Spielberg). Ngoài ra bộ phim còn được đề cử rất nhiều giải Oscar trong đó có đề cử Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất (đề cử thứ ba của Spielberg). Đến năm 1984, Spielberg và George Lucas lại cùng hợp tác làm tập Indiana Jones tiếp theo với tên Indiana Jones and the Temple of Doom. Tuy vẫn là một thành công thương mại nhưng tập phim này không được đánh giá cao như phần đầu. Cũng trong thời gian này Spielberg còn sản xuất hai bộ phim ăn khách khách là Twilight ZoneThe Goonies.

Năm 1985, Spielberg cho ra mắt bộ phim The Color Purple với sự tham gia của hai nữ diễn viên da đen sau đó rất nổi tiếng là Whoopi GoldbergOprah Winfrey. Bộ phim tương đối thành công về doanh thu và được giới phê bình đánh giá cao khi nhận xét Spielberg đã thành công với dòng phim chính kịch. Nhà phê bình phim Roger Ebert còn coi đây là bộ phim hay nhất của năm, The Color Purple cũng được đề cử 11 giải Oscar. Năm 1987, ngay khi Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài, Spielberg đã quay bộ phim Mỹ đầu tiên ở Thượng Hải kể từ thập niên 1930, bộ phim Empire of the Sun. Tuy không thành công khi công chiếu ngoài rạp, bộ phim lại được giới phê bình khen ngợi và được đề cử một số giải Oscar.

Năm 1989, Spielberg bắt tay vào làm phần 3 của loạt phim "Indiana Jones" với tựa đề Indiana Jones and the Last Crusade (Indiana Jones và cuộc Thập tự chinh cuối cùng). Bộ phim được đánh giá cao và cũng đạt doanh thu cao, nó được coi là phần kết tốt cho loạt phim Indiana Jones nổi tiếng.

Năm 1993 có thể coi là năm thành công nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Spielberg cho đến ngày hôm nay khi ông cho ra đời liền hai bộ phim được đánh giá rất cao trong lịch sử điện ảnh. Bộ phim đầu tiên thuộc thể loại khoa học giả tưởng và phiêu lưu quen thuộc của Spielberg, dựa theo cuốn tiểu thuyết của Michael Crichton có tên Công viên kỷ Jura nói về những con khủng long ăn thịt người. Với những hiệu ứng hình ảnh mang tính cách mạng được làm bởi hãng Industrial Light and Magic của người bạn George Lucas, bộ phim của Spielberg đã trở thành bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ, vượt qua bộ phim E.T..

Bộ phim thứ hai của Spielberg trong năm này là Bản danh sách của Schindler, dựa trên câu chuyện có thật của nhà công nghiệp Oskar Schindler, người đã mạo hiểm tính mạng của mình để cứu sống 1.100 người Do Thái khỏi nạn diệt chủng. Bản danh sách của Schindler đã mang lại cho Spielberg giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất đầu tiên và cũng giành luôn giải Oscar Phim hay nhất. Một số nhà phê bình cho rằng bộ phim này là tác phẩm chân thực nhất về nạn diệt chủng người Do Thái và năm 1999, Viện phim Mỹ đã xếp bộ phim vào danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất của điện ảnh Mỹ.

1993–nay[sửa | sửa mã nguồn]

Steven Spielberg phát biểu tại Lầu Năm Góc bên cạnh áp phích phim Giải cứu binh nhì Ryan.

Năm 1994, cùng với Jeffrey Katzenberg và David Geffen, Spielberg tham gia thành lập hãng phim độc lập DreamWorks SKG. Sau thành công của năm 1993, Spielberg tạm ngừng sự nghiệp đạo diễn 4 năm trước khi quay trở lại với phần tiếp theo của Công viên kỷ Jura với tự đề The Lost World, bộ phim này đã thu về gần 230 triệu USD ở thị trường Mỹ mặc dù không được đánh giá cao như phần đầu.

Năm 1998, Spielberg cho ra đời bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ 2 có tên Giải cứu binh nhì Ryan với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên 2 lần đạt giải Oscar Tom Hanks. Spielberg giành được giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho tác phẩm này. Những hình ảnh chân thực mô tả sự ác liệt của chiến tranh trong phim đã ảnh hưởng tới nhiều phim chiến tranh sau đó như Black Hawk Down hay Enemy at the Gates. Bộ phim cũng là tác phẩm lớn đầu tiên của Spielberg thực hiện cho hãng phim DreamWorks của ông.

Năm 2005, Spielberg làm lại bộ phim Đại chiến thế giới dựa theo tiểu thuyết Chiến tranh giữa các thế giới của H.G. Wells, bộ phim có sự xuất hiện của ngôi sao điện ảnh Tom CruiseDakota Fanning. Không được đánh giá cao, bộ phim vẫn thu về 234 triệu USD chỉ tính riêng thị trường Mỹ và doanh thu tổng cộng lên tới 591 triệu USD. Năm 2008, Steven được mời đạo diễn chương trình khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008 song đã từ chối vì bất đồng với chính phủ Trung Quốc trong vấn đề hòa bình ở Sudan.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim Spielberg tham gia dưới vai trò đạo diễn.

Năm Tựa đề Ghi chú
1968 Amblin' Phim ngắn
1971 Duel
1974 The Sugarland Express
1975 Hàm cá mập Vai lồng tiếng khách mời: Nhân viên Amity Point
1977 Close Encounters of the Third Kind
1979 1941
1981 Chiếc rương thánh tích
1982 E.T. the Extra-Terrestrial
1983 Twilight Zone: The Movie Phân đoạn: "Kick the Can"
1984 Indiana Jones and the Temple of Doom Vai diễn khách mời: Khách tại sân bay
1985 The Color Purple
1987 Empire of the Sun
1989 Always
Indiana Jones and the Last Crusade
1991 Hook
1993 Công viên kỷ Jura
Bản danh sách của Schindler
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura Vai diễn khách mời: Man Eating Popcorn
Amistad
1998 Giải cứu binh nhì Ryan
2001 A.I. Artificial Intelligence
2002 Minority Report
Catch Me If You Can
2004 The Terminal
2005 Đại chiến thế giới
Munich
2008 Indiana Jones và vương quốc sọ người
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin
War Horse
2012 Lincoln
2013 The Wolf of Wall Street Đồng đạo diễn một cảnh quay, không được ghi chú vai trò[12]
2015 Người đàm phán
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ
2017 The Post
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Steven Spielberg". Forbes. Retrieved December 9, 2016.
  2. ^ The cinema of Steven Spielberg: Empire of light. Nigel Morris. Wallflower Press. 2007
  3. ^ Higgins, Bill (7 tháng 4 năm 2012). 'Jaws': Revisiting Hollywood's First Summer Blockbuster”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ “Steven Spielberg to Harvard grads: Be the movie heroes of real life”. The Economic Times. 
  5. ^ Lê Hồng Lâm (4 tháng 4 năm 2018). “Steven Spielberg - Người khổng lồ của các bom tấn và kiệt tác điện ảnh”. Zing.vn. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  6. ^ Directors with two or more Oscars
  7. ^ McClintock, Pamela (17 tháng 4 năm 2018). “Box-Office Milestone: Steven Spielberg Is First Member of $10B Directors' Club”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  9. ^ “Fred A. Bernstein”. Fredbernstein.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ a ă Joseph McBride, Steven Spielberg, Nhà xuất bản Faber and Faber, 1997
  11. ^ Ian Freer, The Complete Spielberg, Nhà xuất bản Virgin, 2001
  12. ^ “Martin Scorsese, Leonardo DiCaprio Finally Open Up About Wolf of Wall Street. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]