Steven Spielberg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Steven Spielberg
Ready Player One Japan Premiere Red Carpet Steven Spielberg (41564865232).jpg
Steven Spielberg tại sự kiện ra mắt phim
Ready Player One: Đấu trường ảo ở Nhật Bản
SinhSteven Allan Spielberg
18 tháng 12, 1946 (72 tuổi)
Cincinnati, Ohio, Mỹ
Học vấnĐại học California tại Long Beach
Nghề nghiệpNhà sản xuất phim, đạo diễn phim, nhà biên kịch
Năm hoạt động1969–nay
Tài sản3,7 tỉ USD (2018)[1]
Vợ/chồng
Amy Irving
(cưới 1985; ld. 1989)

Kate Capshaw
(cưới 1991)
Con cái7 (bao gồm Jessica CapshawSasha Spielberg)
Cha mẹ
Người thânAnne Spielberg (em gái), Nancy Spielberg (chị gái), Sue Spielberg (chị gái)
Chữ ký
Steven Spielberg Signature.png

Steven Allan Spielberg (/ˈsplbɜːrɡ/; sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946) là một nhà làm phim người Mỹ. Ông được coi là một trong những người tiên phong của kỷ nguyên điện ảnh New Hollywood và là một trong những đạo diễn và nhà sản xuất điện ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử.[2] Sau khi có được sự chú ý từ Hollywood với một số các tác phẩm chiếu rạp nhỏ lẻ, Spielberg bắt đầu nổi lên sau khi dự án Hàm cá mập (1975) mà ông đóng vai trò đạo diễn được ra mắt, và giành được thành công lớn về mặt chuyên môn cũng như thương mại, đồng thời mở ra định nghĩa mới về phim bom tấn mùa hè.[3] Các tác phẩm sau đó của ông chủ yếu đi theo thể loại khoa học viễn tưởng như Kiểu tiếp xúc thứ 3 (1977), loạt phim Indiana Jones, E.T. Sinh vật ngoài hành tinh (1982), và loạt phim Công viên kỷ Jura vốn được coi như nguyên mẫu của lối làm phim Hollywood theo trường phái thoát ly.[4]

Spielberg sau đó chuyển sang đào sâu về chủ nghĩa nhân văn trong các tác phẩm điện ảnh tiếp theo của sự nghiệp, được thể hiện rõ nhất qua Màu tím (1985), Đế chế mặt trời (1987), Bản danh sách của Schindler (1993), Amistad (1997) và Giải cứu binh nhì Ryan (1998). Ông tiếp tục theo sát chủ đề này trong các dự án đầu thế kỷ 21, nổi bật là các bộ phim được đánh giá cao về mặt chuyên môn như Munich (2005), Lincoln (2012), Người đàm phán (2015) và The Post (2017).

Phong cách đạo diễn và công nghệ làm phim của Spielberg được nhiều nhà phê bình đánh giá cao, việc sử dụng các cảnh quay phản chiếu, khuếch đại hiệu ứng thị giác, và sử dụng các cảnh quay cận cho các tình huống biểu lộ sự ngạc nhiên, thường được gọi bằng tên "Spielberg Face", vẫn tồn tại cho tới ngày nay.[5] Ông cũng được biết đến với việc cộng tác lâu dài với một số diễn viên, nhà sản xuất và kỹ sư điện ảnh tên tuổi, ví dụ như nhà soạn nhạc John Williams hay nam diễn viên Tom Hanks. Ngoài công tác đạo diễn điện ảnh, Spielberg còn là nhà đồng sáng lập của hai hãng phim Amblin EntertainmentDreamWorks, tại đây ông cũng đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất cho nhiều bộ phim thành công, trong đó có Yêu tinh, loạt phim Điệp viên áo đen, Trở lại tương laiTransformers. Spielberg sau đó cũng tham gia sản xuất một vài trò chơi trong lĩnh vực trò chơi điện tử.

Steven Spielberg là một trong những nhà làm phim thành công nhất về mặt chuyên môn trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, với hai lần chiến thắng giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất.[6] Một vài bộ phim do ông đạo diễn nằm trong số những phim điện ảnh có doanh thu cao nhất lịch sử, đồng thời ông cũng là đạo diễn có doanh thu phim cao nhất mọi thời đại.[7] Được biết, tài sản của Spielberg có giá trị lên đến hơn 3 tỉ USD.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946 tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio, trong một gia đình Do Thái.[8] Mẹ ông, Leahanni (nhũ danh Posner, sau này là Adler; 12 tháng 1 năm 1920 - 21 tháng 2 năm 2017),[9] là một nghệ sĩ đàn dương cầm, còn bố ông, Arnold Spielberg (sinh năm 1917), là một kỹ sư chuyên nghành kỹ thuật điện.[10] Ông bà nội của Spielberg đều là người Ukraine gốc Do Thái,[11][12] đã định cư ở Cincinnati vào những năm 1900; bà của Spielberg đến từ Sudylkiv, còn ông thì đến từ Kamianets-Podilskyi.[13][14] Năm 1950, gia đình ông chuyển đến thị trấn Haddon, New Jersey, khi cha ông làm việc ở công ty RCA. Ba năm sau, họ lại chuyển đến thành phố Phoenix, Arizona thuộc bang Arizona.[15] Sau đó Spielberg theo học trường dạy tiếng Do Thái từ năm 1953 đến 1957, do Rabbi Albert L. Lewis giảng dạy.[16] Họ của ông có nguồn gốc là tên một thành phố của Áo, thành phố Spielberg bei Knittelfeld, nơi những người tổ tiên Hungary gốc Do Thái của ông đã sống ở thế kỷ 17.

Khi còn là một đứa trẻ, Spielberg phải đối mặt với việc khó hoà đồng vì nhận thức của những người bạn mà ông chơi cùng. "Đó không phải là điều tôi muốn thừa nhận,". Spielberg cũng nói rằng ông phải chịu đựng những hành vi phân biệt chủng tộc và bị bắt nạt: "Ở trường trung học, tôi bị đánh và đá, làm cho lỗ mũi tôi chảy ra máu. Thật kinh khủng."[17][18][19] Năm 12 tuổi, ông thực hiện bộ phim đầu tiên tại nhà bằng mô hình đồ chơi Lionel, với nội dung chính là một vụ tai nạn tàu hỏa. Trong suốt thời niên thiếu, và sau khi vào cấp ba, Spielberg tiếp tục làm những bộ phim nghiệp dư 8 mm đề tài "mạo hiểm" với bạn bè.[20]

Năm 1958, ông trở thành một hướng đạo sinh và đã nhận được giải thưởng Distinguished Eagle Scout Award nhờ việc phát triển những tiêu chuẩn trao tặng huy hiệu danh dự cho hoạt động điện ảnh của hướng đạo sinh bằng cách làm một bộ phim dài 8 phút có tựa đề Cuộc đấu súng cuối cùng.[21] Nhiều năm sau, Spielberg nhớ lại: "Máy ảnh tĩnh của cha tôi bị hỏng, vì vậy tôi đã hỏi người hướng đạo xem tôi có thể kể chuyện bằng máy quay phim của cha tôi không. Ông ấy nói có, và tôi nảy ra ý tưởng cho một bộ phim. Tôi đã làm nó và nhận được bằng khen của mình. Đó là cách mà mọi thứ bắt đầu."[22] Năm 13 tuổi, khi sống ở Phoenix, Spielberg đã giành giải thưởng đầu tiên với một bộ phim 40 phút về đề tài "chiến tranh" mà cậu đặt tên là Escape to Nowhere, với dàn diễn viên gồm những bạn học của ông.[23] Điều đó đã thúc đẩy ông làm thêm 15 bộ phim nghiệp dư 8 mm khác.

Một số tác phẩm mà Spielberg nói rằng có ảnh hưởng lớn với ông bao gồm King of the Monsters (1956), mà ông gọi là "bậc thầy của tất cả các bộ phim về khủng long bởi vì nó khiến bạn tin rằng nó đã thực sự xảy ra",[24] cũng như như Thuyền trưởng gan dạ (1937), Pinocchio (1940), và đặc biệt là Lawrence xứ Ả Rập (1962). Năm 1963, tại trường cấp III Arcadia ở Phoenix, cậu học sinh 16 tuổi Spielberg đã viết và đạo diễn bộ phim độc lập đầu tiên của mình, một bộ phim phiêu lưu khoa học viễn tưởng dài 140 phút có tên Firelight, bộ phim đã tạo cảm hứng cho một tác phẩm lớn của Spielberg sau này là Close Encounters of the Third Kind. Firelight với ngân sách 400 USD đã được chiếu ở một rạp địa phương và thu về 100 USD. Một nhà báo ở thành phố Phoenix khi đó đã viết rằng cậu học sinh này sau đó có thể làm được những tác phẩm lớn[25].

Sau khi theo học tại trường trung học Arcadia ở Phoenix trong ba năm, gia đình ông tiếp tục chuyển đến Saratoga, California, sau đó ông tốt nghiệp trường trung học Saratoga vào năm 1965. Sau khi bố mẹ ly dị, Steven Spielberg chuyển đến tiểu bang California ở với bố trong khi ba em gái và bà mẹ vẫn ở lại Arizona. Mục tiêu dài hạn của ông là trở thành một đạo diễn phim. Tại đây, Spielberg đăng ký tới ba lần vào trường điện ảnh của Đại học California tại Los Angeles và trường điện ảnh truyền hình của Đại học Nam California nhưng đều không được nhận vì chỉ tốt nghiệp cấp III với điểm trung bình loại C. Sau khi Spielberg đã là một đạo diễn nổi tiếng, USC đã trao tặng bằng tốt nghiệp danh dự cho ông năm 1994 và đến năm 1996 thì Spielberg đã trở thành một ủy viên quản trị của trường. Cuối cùng cậu thanh niên Spielberg vào học tại Đại học California tại Long Beach để tránh phải đi lính trong Chiến tranh Việt Nam.[23]

Cũng tại đây Spielberg bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp điện ảnh với công việc thực tập không lương ở bộ phận biên tập của hãng phim Universal. Năm 1968, ông làm bộ phim ngắn đầu tiên để chiếu rạp, đó là bộ phim 24 phút với tựa đề Amblin'. Sidney Sheinberg, người sau đó trở thành phó chủ tịch phụ trách sản xuất của hãng truyền hình thuộc Universal đã xem bộ phim và lập tức Spielberg trở thành đạo diễn trẻ nhất trong lịch sử được ký hợp đồng dài hạn với Universal, một trong các hãng phim chính của Hollywood, cậu bỏ học và bắt đầu sự nghiệp đạo diễn chuyên nghiệp. Spielberg sau đó trở lại Đại học bang California, Long Beach và hoàn thành bằng cử nhân về Nghệ thuật Điện ảnh và Điện tử năm 2002.[26]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc đầu tiên của Spielberg ở hãng truyền hình của Universal là thực hiện một phần cho kịch bản phim truyền hình Night Gallery trong tập phim Eyes, được niên kịch bởi Rod Serling và có sự tham gia của Joan Crawford.[27] Crawford, lúc đó đã "không nói nên lời, và sau đó kinh hoàng" khi nghĩ về một người chỉ mới hai mươi mốt tuổi sẽ chỉ đạo cô, một trong những ngôi sao hàng đầu của Hollywood. "Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?" cô hỏi nhà sản xuất.[28] Nhưng thái độ của cô đã thay đổi sau khi họ bắt đầu thực hiện các cảnh quay và sau đó trở thành bạn thân của Spielberg cho đến khi qua đời. Sau đó Spielberg được làm một tập phim truyền hình thực sự, đó là tập L.A. 2017 trong loạt phim Name of the Game. Tập phim khoa học viễn tưởng này đã gây ấn tượng với hãng phim Universal và họ ký hợp đồng ngắn hạn với Spielberg để làm ba bộ phim chiếu trên truyền hình, Duel, Something EvilSavage. Bộ phim dài chiếu rạp đầu tiên của ông là The Sugarland Express kể về một đôi vợ chồng bị cảnh sát săn đuổi vì họ cố giành lại quyền nuôi dưỡng con của mình. Những cảnh quay cuộc săn đuổi của cảnh sát được giới phê bình đánh giá cao, tuy nhiên bộ phim không thành công về mặt thương mại và chỉ được phát hành hạn chế.

Bước ngoặt cho sự nghiệp của Spielberg đến khi hai nhà sản xuất Richard Zanuck và David Brown đề nghị ông làm đạo diễn cho Hàm cá mập, một bộ phim kinh dị dựa theo tiểu thuyết của Peter Benchley kể về một con cá mập khổng lồ ăn thịt người. Bộ phim sau đó đã giành được 3 giải Oscar (cho biên tập, thu âm và tiếng động), và đã lập kỉ lục doanh thu tại thị trường Mỹ khi thu về tới hơn 100 triệu USD, thậm chí bộ phim còn tạo nên một cơn sốt trong công chúng được báo chí đặt tên là "Jawsmania". Hàm cá mập đã biến Spielberg thành một cái tên quen thuộc và là một trong những triệu phú trẻ nhất nước Mỹ, cho phép ông thực hiện rất nhiều dự án sau này.

Hàm cá mập, bộ phim thành công đầu tay của Steven Spielberg

Từ chối chỉ đạo Hàm cá mập 2,[29] King KongSuperman, Spielberg và diễn viên Richard Dreyfuss tái hợp trong một bộ phim mới sản xuất năm 1977, một tác phẩm về những vật thể bay không xác định có tên Close Encounters of the Third Kind (Kiểu tiếp xúc thứ 3). Là một trong số ít phim Spielberg vừa viết kịch bản vừa đạo diễn, Close Encounters đã trở thành một sản phẩm ăn khách và đem lại cho ông đề cử đầu tiên ở giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim giành được hai giải Oscar cho quay phim và hiệu ứng âm thanh, nhưng quan trọng hơn nó đã khẳng định khả năng đạo diễn cho những bộ phim bom tấn của Spielberg.

Thành công của Steven Spielberg với các bộ phim thương mại lại làm giới phê bình phim coi thường những tác phẩm tiếp theo của ông. Bộ phim tiếp theo của Spielberg là 1941, một tác phẩm tốn kém về đề tài Chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng lại bị cả giới phê bình và người xem chê bai.[30] Ngay sau đó, Spielberg đã hợp tác cùng tác giả của loạt phim Chiến tranh giữa các vì saoGeorge Lucas để làm bộ phim Indiana Jones và chiếc rương thánh tích, tập đầu tiên của bộ ba phim nổi tiếng Indiana Jones do diễn viên Harrison Ford thủ vai tiến sĩ khảo cổ Indiana Jones. Bộ phim đã đạt doanh thu cao nhất năm 1981 và được đề cử vài giải Oscar trong đó có Đạo diễn xuất sắc thứ hai cho Spielberg và Phim hay nhất (bộ phim thứ hai của ông được đề cử giải này), cho đến ngày nay tác phẩm này vẫn được coi như một bước ngoặt của thể loại phim hành động. Với vai diễn Indiana Jones, Ford cũng đã nhận được những lời mời cho nhiều dự án khác nhau (một trong số đó là bộ phim nổi tiếng Blade Runner của Ridley Scott).[31]

Spielberg sau đó đã xem lại dự án Close Encounters của mình và, với sự hỗ trợ tài chính từ Columbia Pictures, ông đã phát hành Close Encounters: The Special Edition vào năm 1980. Trong bộ phim này, Spielberg đã sửa một số lỗi ở phiên bản gốc năm 1977 và bổ sung thêm một số cảnh quay. Tuy nhiên, bản làm lại chỉ là một thành công vừa phải, trong khi việc phát hành đĩa DVD năm 2001 mới có thể giúp ổn định lại doanh thu.

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982 Spielberg trở lại với đề tài khoa học viễn tưởng quen thuộc với tác phẩm E.T. Sinh vật ngoài hành tinh, câu chuyện về tình bạn giữa một chú bé và một người ngoài hành tinh đang cố gắng quay trở về nhà trong vũ trụ. E.T. đã trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại (kỷ lục này chỉ bị phá vỡ bởi Công viên kỷ Jura, một tác phẩm khác của Spielberg). Ngoài ra phim còn được đề cử rất nhiều giải Oscar trong đó có đề cử Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất (đề cử thứ ba của Spielberg). Trong khoảng thời gian từ năm 1982 - 1985, Spielberg đã sản xuất những bộ phim ăn khách khác là Poltergeist (đồng biên kịch), Twilight Zone (chỉ đạo phân đoạn "Kick The Can")[32]The Goonies. Spielberg cũng đã xuất hiện với tư cách khách mời trên một video âm nhạc của Cyndi Lauper cho bài hát chủ đề của bộ phim, "The Goonies 'R' Good Enough".[33]

Steven Spielberg và Chandran Rutnam tại một địa điểm ở Sri Lanka trong quá trình quay phim Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc..

Spielberg và George Lucas sau đó lại cùng hợp tác làm tập Indiana Jones tiếp theo với tựa đề Indiana Jones Và Ngôi Đền Tàn Khốc. Do tập phim này và Yêu tinh (đều được sản xuất bởi Spielberg) có yếu tố bạo lực cao trong khi nhắm vào đối tượng nhỏ tuổi nên đã dẫn đến việc tạo ra hệ thống phân loại PG-13. Tuy nhiên, Ngôi Đền Tàn Khốc lại được MPAA phân loại PG, mặc dù đây là phần phim đen tối và bạo lực nhất trong toàn bộ loạt phim. Đây cũng là một thành công thương mại, tuy nhiên lại không được đánh giá cao như phần đầu. Chính trong dự án này, Spielberg cũng đã gặp người vợ tương lai của mình, nữ diễn viên Kate Capshaw.[34]

Năm 1985, Spielberg cho ra mắt bộ phim Màu tím, được chuyển thể từ tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer cùng tên của Alice Walker với sự tham gia của hai nữ diễn viên da màu sau đó rất nổi tiếng là Whoopi GoldbergOprah Winfrey. Bộ phim tương đối thành công về mặt doanh thu và được giới chuyên môn đánh giá cao khi nhận xét Spielberg đã thành công với dòng phim chính kịch. Nhà phê bình phim Roger Ebert còn xem đây là bộ phim hay nhất của năm, Màu tím cũng được đề cử 11 giải Oscar, trong đó có 2 đề cử cho Goldberg và Winfrey. Tuy nhiên, Spielberg lại không nhận được đề cử Đạo diễn xuất sắc nhất.

Năm 1987, ngay khi Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài, Spielberg đã quay bộ phim Mỹ đầu tiên ở Thượng Hải kể từ thập niên 1930, bộ phim Đế chế mặt trời. Tuy không thành công khi công chiếu ngoài rạp, bộ phim lại được giới phê bình khen ngợi và được đề cử một số giải Oscar. Nhà phê bình Andrew Sarris gọi đây là bộ phim hay nhất của năm và sau đó đưa nó vào danh sách một trong những bộ phim hay nhất thập kỷ.[35] Spielberg cũng là nhà đồng sản xuất bộ phim năm 1987 Batteries Not Included.

Năm 1989, Spielberg bắt tay vào làm phần 3 của loạt phim "Indiana Jones" với tựa đề Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng. Một lần nữa ông hợp tác với Lucas và Ford, Spielberg cũng cho nam diễn viên Sean Connery vào một vai phụ trong phim, đó là bố của Indi. Bộ phim được đánh giá cao và trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất toàn cầu năm đó; tổng doanh thu phòng vé của nó thậm chí còn vượt qua cả Người Dơi rất được mong đợi của Tim Burton. Đây được xem là phần kết tốt cho loạt phim Indiana Jones nổi tiếng. Cũng trong năm 1989, ông tái hợp với nam diễn viên Richard Dreyfuss trong bộ phim hài kịch lãng mạn Always. Tuy nhiên, Always chỉ thành công vừa phải và bị đánh giá trái chiều.

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg trong tháng 3 năm 1990

Vào năm 1991, Spielberg đạo diễn Hook, kể về nhân vật Peter Pan ở độ tuổi trung niên do Robin Williams thủ vai. Mặc dù kịch bản bị thay đổi nhiều lần cùng với những ý kiến ​​trái chiều từ giới chuyên môn, bộ phim lại là một thành công khi thu về được hơn 300 triệu đô la trên toàn thế giới (so với kinh phí 70 triệu đô la).

Năm 1993 có thể coi là năm thành công nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Spielberg cho đến ngày hôm nay khi ông cho ra đời liền hai bộ phim được đánh giá rất cao trong lịch sử điện ảnh. Bộ phim đầu tiên thuộc thể loại khoa học giả tưởng và phiêu lưu quen thuộc của Spielberg, dựa theo cuốn tiểu thuyết của Michael Crichton có tên Công viên kỷ Jura nói về những con khủng long ăn thịt người. Với những hiệu ứng hình ảnh mang tính cách mạng được làm bởi hãng Industrial Light and Magic của người bạn George Lucas, Công viên kỷ Jura đã trở thành bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ với doanh thu toàn cầu là 914,7 triệu đô la. Đây là lần thứ ba một trong những bộ phim của Spielberg trở thành phim có doanh thu cao nhất từ ​​trước đến nay.

Bộ phim thứ hai của Spielberg trong năm này là Bản danh sách của Schindler, dựa trên câu chuyện có thật của nhà công nghiệp Oskar Schindler, người đã mạo hiểm tính mạng của mình để cứu sống 1.100 người Do Thái khỏi nạn diệt chủng Holocaust.[36] Bản danh sách của Schindler đã mang lại cho Spielberg giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất đầu tiên và cũng giành luôn giải Oscar Phim hay nhất. Sau thành công của bộ phim, Spielberg đã sử dụng lợi nhuận để thành lập Shoah Foundation, một tổ chức phi lợi nhuận thu thập lời kể của những người sống sót sau thảm họa Holocaust. Một số nhà phê bình cho rằng bộ phim này là tác phẩm chân thực nhất về nạn diệt chủng người Do Thái và năm 1999, Viện phim Mỹ đã xếp bộ phim vào danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất của điện ảnh Mỹ.

Năm 1994, Steven Spielberg tạm dừng việc đạo diễn để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình và thành lập một xưởng phim mới, DreamWorks,[37] cùng với đối tác Jeffrey KatzenbergDavid Geffen. Năm 1996, ông chỉ đạo phần tiếp theo của Công viên kỷ Jura năm 1993 với tựa đề Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura, thu về hơn 618 triệu đô la trên toàn thế giới mặc dù có nhiều ý kiến ​​trái chiều, và là bộ phim có doanh thu lớn thứ hai năm 1997, chỉ sau Titanic của James Cameron (đã vượt qua Công viên kỷ Jura để trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại).

Spielberg nhận Giải Sư tử vàng bởi nhà làm phim người Ý Gillo PontecorvoLiên hoan phim quốc tế Venezia lần thứ 50, 1993

Bộ phim tiếp theo của ông, Amistad, dựa trên một câu chuyện có thật (giống như Bản danh sách của Schindler), nói về một cuộc nổi loạn của nô lệ châu Phi. Mặc dù được giới phê bình nhận xét tốt, tuy nhiên lại không thành công về mặt doanh thu. Amistad đã được phát hành bởi DreamWorks Pictures,[38] hãng phim đã sản xuất tất cả các bộ phim của ông từ Amistad trở đi, ngoại trừ Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê, Những cuộc phiêu lưu của TintinReady Player One: Đấu trường ảo.[39]

Năm 1998, Spielberg cho ra đời bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ 2 có tên Giải cứu binh nhì Ryan với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên 2 lần đạt giải Oscar Tom Hanks. Spielberg giành được giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho tác phẩm này. Những hình ảnh chân thực mô tả sự ác liệt của chiến tranh trong phim đã ảnh hưởng tới nhiều phim chiến tranh sau đó như Diều hâu gãy cánh hay Kẻ thù trước cổng. Bộ phim cũng là tác phẩm lớn đầu tiên của Spielberg thực hiện cho hãng phim DreamWorks của ông. Sau đó, Spielberg và Tom Hanks đã sản xuất một mini-series dựa trên cuốn sách Band of Brothers của Stephen Ambrose. Loạt phim 10 tập theo chân những cựu binh của đại đội Easy thuộc Sư đoàn Lính dù 101. Band of Brothers đã giành được một số giải Quả cầu vàngEmmy.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2001, Steven đã thực hiện dự án cuối cùng của Stanley Kubrick, người bạn đã mất vào năm 1999, AI – Trí tuệ nhân tạo. Phim lấy bối cảnh tương lai, kể về một android hình người có khả năng yêu thương, A.I. nổi bật với hiệu ứng hình ảnh đột phá và cốt truyện sâu sắc. Mặc dù bộ phim không được thành công cho lắm ở Mỹ, nhưng nó đã thể hiện tốt hơn ở nước ngoài với tổng doanh thu phòng vé trên toàn thế giới là 236 triệu đô la.

Spielberg và nam diễn viên Tom Cruise lần đầu tiên hợp tác trong Bản báo cáo thiểu số. Bộ phim đã nhận được những lời khen ngợi trên trang web Rotten Tomatoes khi có tỉ lệ đồng thuận 92%, với 206 trong số 225 đánh giá mà họ cho là tích cực.[40]

Bộ phim Hãy bắt tôi nếu có thể năm 2002 của Spielberg dựa trên câu chuyện có thật của siêu lừa đảo trẻ nhất nước Mỹ - Frank Abagnale (do Leonardo DiCaprio thủ vai). Nó đã mang về cho Christopher Walken một đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất. Phim được biết đến với phần nhạc nền của John Williams và phần mở đầu độc đáo của nó. Đây là một bom tấn cả về mặt phòng vé[41] lẫn chuyên môn.[42]

Spielberg hợp tác một lần nữa với Tom Hanks, Catherine Zeta-Jones và Stanley Tucci trong The Terminal năm 2004, một bộ phim hài tình cảm nói về một người đàn ông gốc Đông Âu bị phải sống trong phòng chờ sân bay 9 tháng. Tuy bị đánh giá trái chiều nhưng doanh thu lại tương dối thành công. Năm 2005, tạp chí Empire đã xếp Spielberg đứng thứ nhất trong danh sách những đạo diễn phim vĩ đại nhất mọi thời đại.

Năm 2005, Spielberg làm lại bộ phim Đại chiến thế giới dựa theo tiểu thuyết Chiến tranh giữa các thế giới của H.G. Wells, với sự tham gia của ngôi sao điện ảnh Tom CruiseDakota Fanning. Khác với E.TKiểu tiếp xúc thứ 3 nói về người ngoài hành tinh thân thiện, Đại chiến thế giới lại tập trung vào những kẻ xâm lược ngoài hành tinh. Đây là một thành công phòng vé khi thu về 234 triệu USD chỉ tính riêng thị trường Mỹ và doanh thu tổng cộng lên tới 591 triệu USD. Năm 2008, Steven được mời đạo diễn chương trình khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008 song đã từ chối vì bất đồng với chính phủ Trung Quốc trong vấn đề hòa bình ở Sudan.

Hậu trường vụ tai nạn máy bay trong Đại chiến thế giới

Bộ phim Munich của Spielberg, kể về các sự kiện sau Cuộc thảm sát ở Munich năm 1972 của các vận động viên Israel tại Thế vận hội Olympic, là bộ phim thứ hai của ông lấy đề tài là người Do Thái (đầu tiên là Bản danh sách của Schindler). Bộ phim dựa trên Vengeance, một cuốn sách của nhà báo người Canada George Jonas. Trước đây, nó đã được chuyển thể thành một bộ phim 1986, Sword of Gideon. Bộ phim đã nhận được những lời khen ngợi, nhưng lại bị đánh giá thấp tại phòng vé Hoa Kỳ và thế giới; nó cũng là một trong những bộ phim gây tranh cãi nhất của Spielberg cho đến nay.[43] Munich đã nhận được năm đề cử giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất, Biên tập phim, Nhạc phim hay nhất (của John Williams), Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg. Đó là đề cử Đạo diễn xuất sắc thứ sáu của Spielberg và đề cử Phim hay nhất thứ năm.

Spielberg đạo diễn Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê, đóng máy vào tháng 10 năm 2007 và được phát hành vào ngày 22 tháng 5 năm 2008.[44][45] Đây là bộ phim đầu tiên của ông không được DreamWorks phát hành kể từ năm 1997. Bộ phim nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[46] và thành công về mặt tài chính, thu về 786 triệu đô la trên toàn thế giới. Đây cũng là phần phim có doanh thu cao nhất trong nhượng quyền thương mại.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2009, Spielberg đã quay phần đầu tiên trong bộ ba phim hoạt hình dựa trên Những cuộc phiêu lưu của Tintin, được viết bởi nghệ sĩ người Bỉ Hergé,[47] cùng với Peter Jackson. Những cuộc phiêu lưu của Tintin: Bí mật tàu Kỳ Lân không được phát hành cho đến tháng 10 năm 2011, do sự phức tạp của công nghệ hoạt hình máy tính. Buổi ra mắt phim trên thế giới diễn ra vào ngày 22 tháng 10 năm 2011 tại Brussels, Bỉ.[48] Bộ phim được phát hành tại các rạp Bắc Mỹ vào ngày 21 tháng 12 năm 2011, dưới dạng Digital 3DIMAX.[49] Nó đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[50] và thu về hơn 373 triệu đô la trên toàn thế giới.[51] Những cuộc phiêu lưu của Tintin đã giành giải thưởng cho Phim hoạt hình hay nhất tại Giải Quả cầu vàng năm đó.[52] Đây là bộ phim không phải của Pixar đầu tiên giành được giải thưởng kể từ khi hạng mục này được giới thiệu lần đầu tiên.[53][54] Jackson đã được xác nhận sẽ chỉ đạo phần phim thứ hai.[55]

Spielberg đạo diễn bộ phim Chiến mã, được quay ở Anh vào mùa hè năm 2010.[56] Nó được phát hành chỉ bốn ngày sau Những cuộc phiêu lưu của Tintin, vào ngày 25 tháng 12 năm 2011. Bộ phim, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên được viết bởi Michael Morpurgo và xuất bản năm 1982, kể về tình bạn lâu dài giữa một cậu bé người Anh và chú ngựa Joey trước và trong Thế chiến I - cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành một vở kịch ăn khách ở Luân Đôn, cũng như trên sân khấu Broadway. Chiến mã là bộ phim đầu tiên trong bốn bộ phim Spielberg liên tiếp được phát hành bởi Disney. Chiến mã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[57] và được đề cử sáu giải Oscar, trong đó có Phim hay nhất.

Spielberg tiếp theo đạo diễn bộ phim chính kịch lịch sử Lincoln, với sự tham gia của Daniel Day-Lewis trong vai Tổng thống Hoa Kỳ Abraham LincolnSally Field trong vai Mary Todd Lincoln.[58] Dựa trên Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln của Doris Kearns Goodwin, bộ phim đã kể về bốn tháng cuối đời của Lincoln. Được kịch bản bởi Tony Kushner, bộ phim được quay tại Richmond, Virginia, vào cuối năm 2011,[59] và được phát hành tại Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2012.[60][61] Khi phát hành, Lincoln nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình, và được đề cử 12 giải Oscar (nhiều nhất trong số các phim năm đó), bao gồm Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg.[62] Nó đã giành giải thưởng dành cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và Day-Lewis đã giành giải Oscar cho Nam diễn viên xuất sắc nhất với vai diễn Lincoln.

Được công bố vào ngày 2 tháng 5 năm 2013, Spielberg sẽ chỉ đạo bộ phim về câu chuyện của xạ thủ bắn tỉa Mỹ Chris Kyle, có tựa đề Lính bắn tỉa Mỹ. Tuy nhiên, vào ngày 5 tháng 8 năm 2013, Spielberg đã quyết định không chỉ đạo bộ phim mà thay vào đó là đạo diễn Clint Eastwood.

Spielberg quảng bá bộ phim Ready Player One: Đấu trường ảo (2018) tại Nhật Bản.

Spielberg sau đó đạo diễn Người đàm phán, một bộ phim chính kịch thời Chiến tranh Lạnh dựa trên sự cố U-2 năm 1960, và tập trung vào các cuộc đàm phán của James B. Donovan với Liên Xô để thả phi công Gary Powers sau khi máy bay của ông bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Bộ phim có sự tham gia của Tom Hanks trong vai Donovan, cũng như Mark Rylance, Amy RyanAlan Alda, với kịch bản của anh em nhà Coen. Bộ phim được quay từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2014 tại địa điểm ở thành phố New York, Berlin và Wroclaw, Ba Lan, và được phát hành vào ngày 16 tháng 10 năm 2015.[63][64] Người đàm phán nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, và được đề cử sáu giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất; Rylance đã giành giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, trở thành diễn viên thứ hai giành chiến thắng trong các bộ phim của Spielberg.

Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ của Spielberg là bộ phim chuyển thể từ câu chuyện thiếu nhi nổi tiếng của Roald Dahl, với sự tham gia của Ruby Barnhill và Rylance trong vai Người khổng lồ thân thiện. DreamWorks đã mua bản quyền vào năm 2010, ban đầu John Madden dự định sẽ chỉ đạo.[65] Bộ phim là tác phẩm cuối cùng được viết bởi nhà biên kịch ET Melissa Mathison trước khi bà qua đời. Nó được Walt Disney Pictures hợp tác sản xuất và phát hành, đánh dấu bộ phim đầu tiên mang thương hiệu Disney do Spielberg làm đạo diễn. Bộ phim ra mắt tại Liên hoan phim Cannes[66] vào ngày 14 tháng 5 năm 2016.

Tom Hanks và Meryl Streep đã có dịp đóng chung với nhau trong The Post, một bộ phim của Spielberg.[67] Bộ phim kể lại sự kiện tờ The Washington Post xuất bản tập tài liệu Pentagon Papers, qua đó giúp phanh phui những bí mật bẩn thỉu của chính phủ Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam hồi đầu thập niên 1970.[68] Quá trình sản xuất bắt đầu tại New York vào ngày 30 tháng 5 năm 2017.[69] Bộ phim bắt đầu phát hành giới hạn vào ngày 22 tháng 12 năm 2017, sau đó đã phát hành rộng rãi sau ngày 12 tháng 1 năm 2018.

Spielberg thực hiện bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cùng tên Ready Player One: Đấu trường ảo của Ernest Cline. Phim có sự tham gia của Tye Sheridan,[70] Olivia Cooke,[71] Ben Mendelsohn, Simon PeggMark Rylance. Nó bắt đầu được sản xuất tại Luân Đôn vào tháng 7 năm 2016,[72] một năm trước The Post, được quay, chỉnh sửa và phát hành trong thời gian hậu kỳ về hiệu ứng cho Ready Player One. Ready Player One ban đầu dự kiến ​​sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2017 bởi Warner Bros.,[73] nhưng đã bị đẩy lùi đến ngày 29 tháng 3 năm 2018, để tránh cạnh tranh với Star Wars: Jedi cuối cùng.[74] Nó đã được chiếu tại liên hoan phim South by Southwest, vào ngày 11 tháng 3 năm 2018.

Spielberg đang chỉ đạo Câu chuyện phía Tây, được chuyển thể từ bộ phim cùng tên năm 1961.[75] Tony Kushner tuyên bố vào tháng 7 năm 2017 rằng ông đã thay đổi một số chi tiết cho Spielberg, ngoại trừ phần nhạc kịch, cũng như bối cảnh cuối những năm 1950.[76] Bộ phim dự kiến ​​sẽ được Disney phát hành vào ngày 18 tháng 12 năm 2020.[77]

Dự án[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg có kế hoạch quay phần thứ năm trong loạt phim Indiana Jones. Tài tử Harrison Ford vẫn tiếp tục đóng vai Indiana và sẽ được sản xuất bởi Kathleen KennedyFrank Marshall. Kịch bản của Indiana Jones 5 đang được viết bởi David Koepp, người cũng đã biên kịch cho rất nhiều bộ phim khác của Spielberg, bao gồm cả phần phim Indiana Jones cuối cùng.[78] Ban đầu nó được dự định sẽ phát hành bởi Disney vào ngày 19 tháng 7 năm 2019.[79] Sau đó, nó đã được thông báo rằng việc quay phim sẽ bắt đầu ở Anh vào tháng 4 năm 2019[80] và sẽ phát hành vào ngày 10 tháng 7 năm 2020.[81] Việc quay phim đã bị hoãn lại vào tháng 6 năm 2018, khi Jonathan Kasdan được tuyên bố là nhà biên kịch mới của bộ phim.[82] Ngay sau đó, ngày phát hành đã lùi đến ngày 9 tháng 7 năm 2021.[83] Vào tháng 5 năm 2019, có thông tin rằng Dan Fogelman đã được thuê để viết một kịch bản mới, và câu chuyện của Kasdan, tập trung vào con tàu vàng của Đức Quốc xã, sẽ không được sử dụng.

Spielberg đã lên kế hoạch quay bộ phim chuyển thể từ dự án Vụ bắt cóc Edgardo Mortara của David Kertzer vào đầu năm 2017 để phát hành vào cuối năm đó,[84] nhưng việc sản xuất đã bị hoãn lại. Cuốn sách kể về câu chuyện có thật của một cậu bé người Do Thái năm 1858 ở Ý, đã bị một người hầu trong gia đình bí mật rửa tội và sau đó bị bắt cóc khỏi gia đình bởi các Giáo hoàng, nơi cậu được nuôi dưỡng và đào tạo như một linh mục, gây phẫn nộ cho dư luận quốc tế. Mark Rylance, trong lần hợp tác thứ tư với Spielberg, đã được tuyên bố sẽ đóng vai chính Giáo hoàng Pius IX. Oscar Isaac được chọn đóng vai cha của Mortara, nhưng sau đó lại từ chối.[85] Spielberg đã gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diễn viên đóng vai cậu bé Do Thái, mặc dù đã có hơn 2000 đứa trẻ thử vai.[86]

Spielberg sẽ chỉ đạo một tác phẩm chuyển thể từ cuốn hồi ký của phóng viên ảnh người Mỹ Lynsey Addario, có tựa đề là It's What I Do: A Photographer's Life of Love and War. Nữ diễn viên Jennifer Lawrence đã được hãng Warner Bros. thuyết phục thành công để tham gia dự án này.[87]

Vào tháng 4 năm 2018, Spielberg xác nhận đạo diễn bộ phim chuyển thể từ bộ truyện tranh Blackhawk. Warner Bros Pictures sẽ phát hành bộ phim, với David Koepp viết kịch bản.[88] Trong một cuộc phỏng vấn trước đó vào năm 1981, Spielberg đã ví bộ phim Chiếc rương thánh tích với loạt truyện Blackhawk.[89]

Vào tháng 1 năm 2013, HBO đã xác nhận rằng họ đang phát triển một mini-series thứ 3 lấy đề tài Thế chiến II (sau Band of BrothersMặt trận Thái Bình Dương) dựa trên cuốn sách Masters of the Air của Donald L. Miller.[90] NME đã báo cáo vào tháng 3 năm 2017 rằng bộ phim đang tiến triển dưới tựa đề The Mighty Eighth.[91]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim của Spielberg thường đề cập đến một số chủ đề nhất định. Trong một cuộc phỏng vấn của AFI vào tháng 8 năm 2000, Spielberg đã nói về mối quan tâm của ông đối với sự sống ngoài trái đất và nó đã ảnh hưởng đến một số bộ phim của ông như thế nào. Spielberg nói mình giống như một người ngoài hành tinh trong thời thơ ấu,[92] và sự quan tâm của cha dành cho ông, một người hâm mộ khoa học viễn tưởng và luôn nghĩ rằng người ngoài hành tinh sẽ không đến trái đất để xâm lược, mà thay vào đó là sự tò mò và chia sẻ tri ​​thức.[93]

Một chủ đề có tác động mạnh mẽ đến Spielberg là những cảm giác và niềm tin như một đứa trẻ, được chứng thực bằng các tác phẩm như Kiểu tiếp xúc thứ 3, E.T. Sinh vật ngoài hành tinh, Hook, AI - Trí tuệ nhân tạoChuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ. Theo Warren Buckland,[94] những chủ đề này được miêu tả thông qua việc sử dụng các cảnh quay camera có độ phân giải khác nhau, đã trở thành một trong những thương hiệu của Spielberg. Trong các trường hợp khi các bộ phim của ông ấy tập trung về trẻ em (ET. Sinh vật ngoài hành tinh, Đế chế mặt trời, Công viên kỷ Jura, v.v.), thì chúng cũng xuất hiện trong Munich, Giải cứu binh nhì Ryan, The Terminal, Minority Report, và Amistad. Mỗi bộ phim của ông đều có những cảnh quay khuếch đại, và cảnh nước trong Hàm cá mập được quay từ góc nhìn thấp của một người nào đó đang bơi. Một chủ đề hướng đến trẻ em khác trong các bộ phim của Spielberg là mất đi sự hồn nhiên và sắp đến độ tuổi trưởng thành. Trong Đế chế mặt trời, Jim, một cậu bé người Anh hư hỏng do được nuông chiều, mất đi sự hồn nhiên của mình sau khi phải trải qua Thế chiến II ở Trung Quốc. Tương tự, trong Hãy bắt tôi nếu có thể, Frank ngây thơ và dại dột tin rằng anh có thể có lại được gia đình của mình bằng cách tích lũy đủ tiền để hỗ trợ họ.

Chủ đề dai dẳng nhất trong suốt các bộ phim của ông là căng thẳng trong mối quan hệ bố mẹ và con cái. Bố mẹ (thường là người bố) là những người nghiện rượu chè, luôn vắng mặt hoặc không biết gì. Peter Banning trong Hook ở từ đầu bộ phim với tư cách là một phụ huynh bất đắc dĩ, nhưng xuyên suốt bộ phim đã lấy lại được sự tôn trọng từ con cái mình. Sự vắng mặt của bố Elliott trong E.T là ví dụ nổi tiếng nhất của chủ đề này. Trong Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng, tiết lộ rằng Indy luôn có mối quan hệ rất căng thẳng với bố mình, một giáo sư văn học thời trung cổ, vì ông ta luôn quan tâm đến việc nghiên cứu, đặc biệt là về Chén Thánh, hơn là con trai mình, mặc dù cha anh dường như không nhận ra hoặc hiểu được tác động tiêu cực của những điều đó (ông ta thậm chí còn tin rằng ông là một người cha tốt vì đã dạy con trai mình biết cách "tự lập", điều mà Indy không nhận ra). Ngay cả Oskar Schindler trong Bản danh sách của Schindler, cũng không muốn có con với vợ. Trong Màu tím, nhân vật chính, Celie thậm chí đã bị người cha lợi dụng nhiều lần. Munich miêu tả Avner là một người đàn ông xa cách vợ và con gái mới sinh. Ngoài ra, còn có những ngoại lệ; như Brody trong Hàm cá mập là một người đàn ông tận tụy của gia đình, trong khi John Anderton trong Bản báo cáo thiểu số là một người đàn ông đau khổ vì sự mất tích của con trai mình. Chủ đề này được cho là khía cạnh tự truyện nhất trong các bộ phim của Spielberg, vì bản thân Spielberg bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn của cha mẹ ông khi còn nhỏ. Hơn nữa, với chủ đề này, các nhân vật chính trong các bộ phim của anh thường xuất thân từ những gia đình không được nguyên vẹn, bao gồm cả E.T. Người ngoài hành tinh (mẹ của nhân vật chính Elliot đã ly hôn) và Hãy bắt tôi nếu có thể (bố và mẹ của Frank Abagnale đã chia tay từ đầu phim).

Hầu hết các bộ phim của ông nói chung là lạc quan về bản chất. Mặc dù một số nhà phê bình cáo buộc các bộ phim của ông hơi tình cảm quá mức, Spielberg cảm thấy nó vẫn ổn miễn là nó được ngụy trang. Ông vẫn là một đạo diễn được đánh giá cao cũng như được ghi nhận là một trong những đạo diễn có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Những cái tên có ảnh hưởng khác bao gồm Frank CapraJohn Ford.[95]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg lần đầu tiên gặp nữ diễn viên Amy Irving vào năm 1976 theo gợi ý của đạo diễn Brian De Palma khi biết ông đang tìm kiếm một nữ diễn viên để đóng trong Kiểu tiếp xúc thứ 3. Sau đó, Spielberg và Irving bắt đầu hẹn hò và sống với nhau trong bốn năm, nhưng những căng thẳng trong sự nghiệp đã ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ. Irving muốn chắc chắn rằng bất cứ thành công nào cô đạt được với tư cách là một diễn viên sẽ là của riêng cô và đã không tham gia bất kỳ bộ phim nào của ông trong những năm đó.

Kết quả là họ đã chia tay vào năm 1979, nhưng vẫn là những người bạn thân thiết. Sau đó vào năm 1984, họ đã tái hôn vào tháng 11 năm 1985 và có một đứa con trai, Max Samuel. Tuy nhiên, hơn ba năm sau, nhiều căng thẳng trong sự nghiệp đã khiến hai người ly hôn một lần nữa. Họ đồng ý ở gần nhau để tạo điều kiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc con trai.

Spielberg sau đó đã kết hôn với nữ diễn viên Kate Capshaw, người mà ông gặp trong buổi thử vai của bộ phim Indiana Jones Và Ngôi Đền Tàn Khốc. Capshaw sau đó đã cải đạo sang Do Thái giáo.[96][97]

Hiện Steven Spielberg đã có bảy người con, bao gồm:

  • Jessica Capshaw (sinh ngày 9 tháng 8 năm 1976) - con gái của Kate Capshaw và Robert Capshaw.
  • Max Samuel Spielberg (sinh ngày 13 tháng 6 năm 1985) - con trai của Spielberg vvaf nữ diễn viên Amy Irving.
  • Theo Spielberg (sinh ngày 21 tháng 8 năm 1988) - con trai, được Capshaw nhận nuôi trước khi kết hôn với Spielberg.[98]
  • Sasha Rebecca Spielberg (sinh ngày 14 tháng 5 năm 1990, Los Angeles)
  • Sawyer Avery Spielberg (sinh ngày 10 tháng 3 năm 1992, Los Angeles)[99]
  • Mikaela George (sinh ngày 28 tháng 2 năm 1996) - được nhận nuôi bởi Kate Capshaw.
  • Destry Allyn Spielberg (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1996)

Sự công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Spielberg là một trong tám người mang Cờ Olympic vào Sân vận động Rice-Eccles tại Lễ khai mạc Thế vận hội Mùa đông 2002Thành phố Salt Lake. Năm 2006, Premiere liệt kê ông là nhân vật quyền lực và có ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh. Tạp chí Time xếp ông là một trong 100 người quan trọng nhất của thế kỷ. Vào cuối thế kỷ 20, Life xem ông là người có ảnh hưởng nhất trong thế hệ của ông.[100] Vào năm 2009, trường Đại học Boston đã trao tặng ông bằng Tiến sĩ danh dự.[101]

Theo danh sách những người có ảnh hưởng nhất năm 2014 của Forbes, Spielberg được đánh giá là người nổi tiếng có ảnh hưởng nhất ở Mỹ. Bản danh sách này được thực hiện bởi E-Poll Market Research ghi nhận 6.600 người thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau "được xem là có ảnh hưởng đến công chúng, đồng nghiệp của họ hoặc cả hai." Spielberg có điểm số 47, nghĩa là 47% người Mỹ tin rằng ông có ảnh hưởng.

Nhà sản xuất phim[sửa | sửa mã nguồn]

Steveb Spielberg vào năm 1999

Spielberg đã sản xuất một số lượng lớn phim, trong đó đáng chú ý nhất là Poltergeist, Trở lại tương lai, The Flintstones, Casper, Đặc vụ áo đenDeep Impact. Bên cạnh đó, trong những năm 1990, ông cũng đã sản xuất một loạt những bộ phim hoạt hình như Tiny Toon AdventuresAnimaniacs.

Ngoài việc thành lập công ty của riêng mình (Amblin Entertainment), Spielberg còn thành lập DreamWorks SKG cùng với Jeffrey KatzenbergDavid Geffen vào năm 1994. Hãng phim này chịu trách nhiệm sản xuất cho Vẻ đẹp Mỹ, Gladiator, Cast Away, Hồi ức của một geisha và nhiều bộ phim hoạt hình máy tính khác như Shrek,...

Spielberg không chỉ được công nhận là đạo diễn mà còn là nhà từ thiện vì những hoạt động của ông cho các tổ chức về Thế chiến IIRighteous Persons Foundation (do chính Spielberg thành lập vào năm 1994 từ lợi nhuận của các bộ phim ông đạo diễn, nhằm tưởng nhớ những nạn nhân trong Holocaust). Ông cũng là thành viên hội đồng quản trị của Trường Đại học Điện ảnh-Truyền hình bang California.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim Spielberg tham gia dưới vai trò đạo diễn.

Năm Tựa đề Nhà phát hành Chú thích
1968 Amblin' Filmways Phim ngắn
1971 Duel Universal Pictures / CIC
1974 The Sugarland Express Universal Pictures
1975 Hàm cá mập Universal Pictures Vai lồng tiếng khách mời: Nhân viên Amity Point
1977 Kiểu tiếp xúc thứ 3 Columbia Pictures
1979 1941 Universal Pictures / Columbia Pictures
1981 Chiếc rương thánh tích Paramount Pictures
1982 E.T. Sinh vật ngoài hành tinh Universal Pictures
1983 Twilight Zone: The Movie Warner Bros. Phân đoạn: "Kick the Can"
1984 Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc Paramount Pictures Vai diễn khách mời: Khách tại sân bay
1985 Màu tím Warner Bros
1987 Đế chế mặt trời Warner Bros.
1989 Always Universal Pictures/United Artists
1989 Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng Paramount Pictures
1991 Hook TriStar Pictures
1993 Công viên kỷ Jura Universal Pictures
Bản danh sách của Schindler Universal Pictures
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura Universal Pictures Vai diễn khách mời: Man Eating Popcorn
Amistad DreamWorks Pictures
1998 Giải cứu binh nhì Ryan DreamWorks Pictures / Paramount Pictures
2001 A.I. Artificial Intelligence Warner Bros. / DreamWorks Pictures
2002 Bản báo cáo thiểu số 20th Century Fox / DreamWorks Pictures
Hãy bắt tôi nếu có thể DreamWorks Pictures
2004 The Terminal DreamWorks Pictures
2005 Đại chiến thế giới Paramount Pictures / DreamWorks Pictures
Munich Universal Pictures / DreamWorks Pictures
2008 Indiana Jones và vương quốc sọ pha lê Paramount Pictures
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin Paramount Pictures / Columbia Pictures
Chiến mã Walt Disney Studios
2012 Lincoln Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2013 Sói già phố Wall Universal Pictures Đồng đạo diễn một cảnh quay, không được ghi chú vai trò[102]
2015 Người đàm phán Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ Walt Disney Studios
2017 The Post 20th Century Fox
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo Warner Bros.
2020 Câu chuyện phía Tây Walt Disney Studios

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi sao của Steven Spielberg trên Đại lộ danh vọng Hollywood
Dấu chân và dấu tay của Steven Spielberg trước Nhà hát Trung Hoa Grauman

Spielberg đã giành được ba giải Oscar trong suốt sự nghiệp của mình. Ông đã được đề cử bảy giải Oscar cho hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và giành được hai trong số đó (Bản danh sách của SchindlerGiải cứu binh nhì Ryan), và thắng được một giải Oscar cho Phim hay nhất (Bản danh sách của Schindler). Năm 1987, ông được trao giải thưởng tưởng niệm Irving G. Thalberg cho việc sản xuất sáng tạo.

Năm Phim Giải Oscar Giải BAFTA Giải Quả cầu vàng
Đề cử Thắng Đề cử Thắng Đề cử Thắng
1975 Hàm cá mập 4 3 7 1 4 1
1977 Kiểu tiếp xúc thứ 3 9 2 9 1 4
1979 1941 3 5
1981 Chiếc rương thánh tích 9 5 7 1 1
1982 E.T. Sinh vật ngoài hành tinh 9 4 12 1 5 2
1984 Indiana Jones và Ngôi đền tàn khốc 2 1 4 1
1985 Màu tím 11 1 5 1
1987 Đế chế mặt trời 6 6 3 2
1989 Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng 3 1 3 1
1991 Hook 5 1
1993 Công viên kỷ Jura 3 3 3 2
Bản danh sách của Schindler 12 7 13 7 6 3
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura 1
Amistad 4 4
1998 Giải cứu binh nhì Ryan 11 5 10 2 5 2
2001 A.L. Trí tuệ nhân tạo 2 1 3
2002 Bản báo cáo thiểu số 1 1
Hãy bắt tôi nếu có thể 2 4 1 1
2005 Đại chiến thế giới 3
Munich 5 2
2008 Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê 1
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin 2 2 1 1
Chiến mã 6 5 2
2012 Lincoln 12 2 10 1 7 1
2015 Người đàm phán 6 1 9 1 1
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ 1
2017 The Post 2 6
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo 1 1
Tổng cộng 131 34 110 22 66 11

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Steven Spielberg”. Forbes. Truy cập 9 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ The cinema of Steven Spielberg: Empire of light. Nigel Morris. Wallflower Press. 2007
  3. ^ Higgins, Bill (7 tháng 4 năm 2012). 'Jaws': Revisiting Hollywood's First Summer Blockbuster”. The Hollywood Reporter. Truy cập 10 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ “Steven Spielberg to Harvard grads: Be the movie heroes of real life”. The Economic Times. 
  5. ^ Lê Hồng Lâm (4 tháng 4 năm 2018). “Steven Spielberg - Người khổng lồ của các bom tấn và kiệt tác điện ảnh”. Zing.vn. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  6. ^ Directors with two or more Oscars
  7. ^ McClintock, Pamela (17 tháng 4 năm 2018). “Box-Office Milestone: Steven Spielberg Is First Member of $10B Directors' Club”. The Hollywood Reporter. Truy cập 18 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  9. ^ “Fred A. Bernstein”. Fredbernstein.com. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 3 năm 2013. Truy cập 25 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ “Steven Spielberg Biography (1947?–)”. filmreference.com. Truy cập 15 tháng 1 năm 2008. 
  11. ^ “Arnold Meyer Spielberg (b. 1917)”. birth-records.mooseroots.com. Truy cập 10 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ Gutfreund, Sara Debbie (28 tháng 1 năm 2017). “Steven Spielberg's Jewish Roots”. The Jewish Website - aish.com. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  13. ^ Illingworth, Shaun (12 tháng 5 năm 2006). “Interview:Spielberg, Arnold”. Rutgers University. Truy cập 25 tháng 10 năm 2015. 
  14. ^ Tugend, Tom (13 tháng 6 năm 2012). “A close encounter with Steven Spielberg's dad”. The Jewish Journal of Greater Los Angeles. Truy cập 25 tháng 10 năm 2015. 
  15. ^ Denby, David (16 tháng 1 năm 2017). “Steven Spielberg at Seventy”. The New Yorker. Truy cập 11 tháng 5 năm 2018. 
  16. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  17. ^ Weinraub, Bernard (12 tháng 12 năm 1993). “Steven Spielberg Faces the Holocaust”. The New York Times (The New York Times Company). 
  18. ^ Isenberg, Noah (9 tháng 1 năm 2017). “The Making of Steven Spielberg”. The New Republic. Truy cập 11 thàg 5 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  19. ^ Reed, J.D. (15 tháng 3 năm 1999). “Steven Spielberg”. People. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  20. ^ Jackson, Kathi (2007). Steven Spielberg: A Biography. Greenwood Publishing Group. tr. 5. ISBN 9780313337963. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2015. 
  21. ^ “Steven Spielberg Sighted in Arizona”. Truy cập 19 tháng 11 năm 2007. 
  22. ^ “Nickelodeon Magazine Interviews Steven Spielberg”. Nickelodeon Magazine. Truy cập 29 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ a ă Joseph McBride, Steven Spielberg, Nhà xuất bản Faber and Faber, 1997
  24. ^ Ryfle, Steve (1998). Japan's Favorite Mon-Star: The Unauthorized Biography of the Big G. ECW Press. tr. 15–17. ISBN 9781550223484. 
  25. ^ Ian Freer, The Complete Spielberg, Nhà xuất bản Virgin, 2001
  26. ^ Hiscock, John (30 tháng 6 năm 2002). “Spielberg: why I went back to college”. Telegraph.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  27. ^ “Night Gallery”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  28. ^ Chandler, Charlotte. Not the Girl Next Door: Joan Crawford, a Personal Biography, Hal Leonard Corp. (2008) p. 261
  29. ^ Baxter, John (1997). Steven Spielberg: The Unauthorised Biography. London: Harper Collins. tr. 145. ISBN 978-0-00-638444-1. 
  30. ^ "1941, Box Office Information." The Numbers, September 27, 2012.
  31. ^ “Blade Runner”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  32. ^ Heitmueller, Karl (3 tháng 4 năm 2007). “Rewind: Major-Studio flicks that belong in the Grind House”. MTV. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. Ultimate A-lister Steven Spielberg co-produced this big-budget adaptation of Rod Serling's classic '60s TV show.... 
  33. ^ Cyndi Lauper – The Goonies 'R' Good Enough trên YouTube
  34. ^ “Steven Spielberg Biography”. Biography.com. 18 tháng 12 năm 1947. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  35. ^ “Andrew Sarris' Top 10 lists 1958–2005”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  36. ^ The screenplay, adapted from Thomas Keneally's novel, was originally in the hands of fellow director Martin Scorsese, but Spielberg negotiated with Scorsese to trade scripts. (At the time, Spielberg held the script for a remake of Cape Fear.)
  37. ^ Army Archered (17 tháng 6 năm 1993). “Spielberg to take break after completing 'List'. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2007. 
  38. ^ (formed with former Disney animation exec Jeffrey Katzenberg and media mogul David Geffen, providing the other letters in the company name)
  39. ^ Masters, Kim (15 tháng 6 năm 2016). “Steven Spielberg on DreamWorks' Past, Amblin's Present and His Own Future”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  40. ^ Rotten Tomatoes. “Minority Report”. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  41. ^ “Box office collection of Catch Me If You Can”. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  42. ^ “Reviews of Catch Me If You Can”. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  43. ^ Yossi Melman and Steven Hartov (17 tháng 1 năm 2006). “Munich: Fact and Fantasy”. The Guardian (The Guardian Unlimited). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  44. ^ “New Indy Adventure Begins Shooting”. IndianaJones.com. 18 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007. 
  45. ^ “Spielberg, Ford and Lucas on Indy IV”. Empire. 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  46. ^ “Indiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull (2008)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  47. ^ "The Man Behind Boy, Dog and Their Adventures" Book review by Charles McGrath, The New York Times, December 22, 2009 (December 23, 2009, p. C1 NY ed.). Book reviewed: Hergé: The Man Who Created Tintin, by Pierre Assouline; translated by Charles Ruas, 276 pages. Oxford University Press. Retrieved December 24, 2009.
  48. ^ “Tintin Has World Premiere in His Hometown”. NPR. Associated Press. 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011. [liên kết hỏng]
  49. ^ “The Adventures of Tintin Official Movie Site”. Paramount Pictures. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  50. ^ “The Adventures of Tintin (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  51. ^ “The Adventures of Tintin (Box office)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  52. ^ “2012 GOLDEN GLOBES Nominees and Winners – Complete List!”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  53. ^ “Tintin Takes Golden Globe”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  54. ^ “The Adventures of Tintin (Trivia)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  55. ^ Wigler, Josh (26 tháng 10 năm 2011). “Jackson To Direct 'Tintin' Sequel”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  56. ^ "Steven Spielberg starts filming War Horse on Dartmoor" Lưu trữ April 25, 2011, tại Wayback Machine. by Tristan Nichols, The Herald August 3, 2010
  57. ^ “War Horse (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  58. ^ Breznican, Anthony (13 tháng 4 năm 2011). “Steven Spielberg's 'Lincoln' gets its Mary Todd: Sally Field”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  59. ^ Garbarek, Ben (9 tháng 5 năm 2011). “First casting calls for Steven Spielberg movie”. WWBT (Richmond). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  60. ^ “This Week in the Civil War”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  61. ^ Fischer, Russ (19 tháng 11 năm 2010). “Daniel Day-Lewis to Star in Steven Spielberg's 'Lincoln'. /Film. 
  62. ^ “Nominees for the 85th Academy Awards”. oscars.org. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  63. ^ McNary, Dave (16 tháng 6 năm 2014). “Tom Hanks-Steven Spielberg Cold War Thriller Set for Oct. 16, 2015”. Variety. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 
  64. ^ “Amy Ryan, Alan Alda Join Tom Hanks in Steven Spielberg's Cold War Thriller”. Variety. 21 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  65. ^ Andrew Pulver (28 tháng 4 năm 2014). “Steven Spielberg to tackle The BFG movie”. The Guardian. 
  66. ^ Jaafar, Nancy Tartaglione,Ali (14 tháng 4 năm 2016). “Cannes Film Festival 2016 Lineup: 'The BFG', 'Nice Guys', Penn, Refn, Almodóvar & More Confirmed; No Closing-Night Pic”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  67. ^ Fleming, Jr., Mike (10 tháng 3 năm 2017). “Spielberg, Hanks & Streep's Pentagon Papers Pic A Contender In Next Oscar Race”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2017. 
  68. ^ Tuấn Lương (30 tháng 1 năm 2018). “Bom tấn ‘Indiana Jones 5’ sớm khởi quay trong năm 2019”. new.zing.vn. 
  69. ^ “Production Underway on Spielberg's THE PAPERS, Starring Meryl Streep & Tom Hanks”. Broadwayworld.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  70. ^ Kevin Jagernauth (25 tháng 2 năm 2016). “Tye Sheridan Lands Lead In Steven Spielberg's 'Ready Play – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016. 
  71. ^ Oliver Lyttelton (11 tháng 9 năm 2015). 'Me, Earl & The Dying Girl' & 'Bates Motel' Star Olivia C – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  72. ^ “New BFFs Spielberg, Rylance team up for 'The BFG' and big things beyond”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  73. ^ Mike Fleming Jr (6 tháng 8 năm 2015). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Slotted For December 2017”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  74. ^ Lang, Brent (9 tháng 2 năm 2016). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Pushed Back to Avoid 'Star Wars: Episode VIII'. Variety (Variety Media, LLC). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016. 
  75. ^ Mike Fleming Jr (5 tháng 3 năm 2014). 'West Side Story' Remake For Steven Spielberg In Works At Fox – Deadline”. Deadline Hollywood. Penske Business Media, LLC. 
  76. ^ Teeman, Tim (19 tháng 7 năm 2017). “Tony Kushner: Why I'm Writing a Play About Donald Trump”. The Daily Beast. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  77. ^ http://www.playbill.com/article/new-west-side-story-movie-sets-december-2020-release
  78. ^ Kroll, Justin (18 tháng 3 năm 2016). 'Indiana Jones 5' Taps Writer David Koepp, a Steven Spielberg Regular”. Variety. Variety Media, LLC. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  79. ^ D'Alessandro, Anthony (15 tháng 3 năm 2016). “Steven Spielberg & Harrison Ford Team Up For 'Indiana Jones 5'; Disney Sets July 2019 Release”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  80. ^ “Spielberg Confirms 'Indy 5' Will Begin Production In April 2019”. 19 tháng 3 năm 2018. 
  81. ^ “Star Wars: Episode IX and Next Indiana Jones Get Release Dates”. Starwars.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  82. ^ 'Indiana Jones 5' Will Miss 2020 Release Date (EXCLUSIVE)”. 28 tháng 6 năm 2018. 
  83. ^ “Disney Pushes 'Indiana Jones 5' a Year to 2021, Dates 'Maleficent 2,' 'Jungle Cruise'. 
  84. ^ Jr, Mike Fleming (11 tháng 4 năm 2016). “Steven Spielberg Sets 'The Kidnapping Of Edgardo Mortara' Next; Tony Kushner Script, Mark Rylance Is Pope Pius IX”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  85. ^ Kroll, Justin (18 tháng 4 năm 2014). “Steven Spielberg Boards Religious Drama 'Edgardo Mortara' (Exclusive)”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  86. ^ Fleming Jr., Mike (19 tháng 1 năm 2018). “Steven Spielberg Eyes Indiana Jones & 'West Side Story' Atop Next Directing Vehicles”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018. 
  87. ^ Dương Nga (13 tháng 4 năm 2019). “Jennifer Lawrence vào vai phóng viên do Spielberg đạo diễn”. doisongvn. 
  88. ^ “Steven Spielberg to Direct Film Adaptation of DC's 'Blackhawk'. 
  89. ^ Sragow, Michael (25 tháng 6 năm 1981). “Inside 'Raiders of the Lost Ark'. Rolling Stone. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2018. The one [Spielberg] feels Raiders is closest to is Blackhawk – the DC comic (and 1952 Sam Katzman serial)... 
  90. ^ HBO Developing Third WWII Miniseries with Tom Hanks, Steven Spielberg (Exclusive) (The Hollywood Reporter)
  91. ^ Production progresses on reported Spielberg/Tom Hanks HBO miniseries 'The Mighty Eighth' (NME)
  92. ^ McBride, Joseph (1997). Steven Spielberg. Faber and Faber. ISBN 978-0-571-19177-2. 
  93. ^ E.T. DVD Production Notes Booklet. Universal. 2002. 
  94. ^ Directed by Steven Spielberg: Poetics of the Contemporary Hollywood Blockbuster
  95. ^ The Culture Show (TV). BBC. 4 tháng 11 năm 2006. 
  96. ^ Arenson, Karen W. (24 tháng 9 năm 1995). “From 'Schindler's List,' a Jewish Mission”. The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  97. ^ Pogrebin, Abigail (tháng 10 năm 2005). Stars of David: Prominent Jews Talk About Being Jewish. Bantam Dell Pub Group. ISBN 978-0-7679-1612-7. 
  98. ^ “Spielberg, Steven – Fun Facts, Answers, Factoids, Info, Information”. Funtrivia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  99. ^ Schuster, Dana (7 tháng 9 năm 2012). “A stage for Spielberg's son”. New York Post. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  100. ^ “The 50 most influential baby boomers: Top 10”. Life. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  101. ^ “Honoring Steven Spielberg: Talking about old-school filmmaking, the virtues of TV, and the scent of film”. BU Today. 13 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  102. ^ “Martin Scorsese, Leonardo DiCaprio Finally Open Up About Wolf of Wall Street. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]