Steven Spielberg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Steven Spielberg
Ready Player One Japan Premiere Red Carpet Steven Spielberg (41564865232).jpg
Steven Spielberg tại sự kiện ra mắt phim
Ready Player One: Đấu trường ảo ở Nhật Bản
Sinh18 tháng 12, 1946 (72 tuổi)
Cincinnati, Ohio, Mỹ
Học vấnĐại học California tại Long Beach
Nghề nghiệpNhà sản xuất phim, đạo diễn phim, biên kịch
Năm hoạt động1969–nay
Tài sản3,7 tỉ USD[1] (2018)
Vợ/chồng
Amy Irving
(cưới 1985; ld. 1989)

Kate Capshaw
(cưới 1991)
Con cái7 (bao gồm Jessica CapshawSasha Spielberg)
Cha mẹ
Người thânAnne Spielberg (em gái), Nancy Spielberg (chị gái), Sue Spielberg (chị gái)
Chữ ký
Steven Spielberg Signature.png

Steven Allan Spielberg (sinh ngày 18 tháng 12 năm 1946) là một nhà làm phim người Mỹ. Ông được coi là một trong những người tiên phong của kỷ nguyên điện ảnh New Hollywood và là một trong những đạo diễn và nhà sản xuất điện ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử.[2]

Sau khi có được sự chú ý từ Hollywood với một số các tác phẩm chiếu rạp nhỏ lẻ, Spielberg bắt đầu nổi lên sau khi dự án Hàm cá mập (1975) mà ông đóng vai trò đạo diễn được ra mắt, và giành được thành công lớn về mặt chuyên môn cũng như thương mại, đồng thời mở ra định nghĩa mới về phim bom tấn mùa hè.[3] Các tác phẩm sau đó của ông chủ yếu đi theo thể loại khoa học viễn tưởng như Close Encounters of the Third Kind (1977), loạt phim Indiana Jones, E.T. the Extra-Terrestrial (1982), và loạt phim Công viên kỷ Jura vốn được coi như nguyên mẫu của lối làm phim Hollywood theo trường phái thoát ly.[4] Spielberg sau đó chuyển sang đào sâu về chủ nghĩa nhân văn trong các tác phẩm điện ảnh tiếp theo của sự nghiệp, được thể hiện rõ nhất qua The Color Purple (1985), Empire of the Sun (1987), Bản danh sách của Schindler (1993), Amistad (1997) và Giải cứu binh nhì Ryan (1998). Ông tiếp tục theo sát chủ đề này trong các dự án đầu thế kỷ 21, nổi bật là các bộ phim được đánh giá cao về mặt chuyên môn như Munich (2005), Lincoln (2012), Người đàm phán (2015) và The Post (2017).

Phong cách đạo diễn và công nghệ làm phim của Spielberg được nhiều nhà chuyên môn đánh giá cao, việc sử dụng các cảnh quay phản chiếu, khuếch đại hiệu ứng thị giác, và sử dụng các cảnh quay cận cho các tình huống biểu lộ sự ngạc nhiên, thường được gọi bằng tên "Spielberg Face", vẫn tồn tại cho tới ngày nay.[5] Ông cũng được biết đến với việc cộng tác lâu dài với một số diễn viên, nhà sản xuất và kỹ sư điện ảnh tên tuổi, ví dụ như nhà soạn nhạc John Williams hay nam diễn viên Tom Hanks. Ngoài công tác đạo diễn điện ảnh, Spielberg còn đóng vai trò nhà sản xuất cho nhiều bộ phim thành công, trong đó có hai loạt phim Men in BlackBack to the Future. Ông cũng là nhà đồng sáng lập của hãng phim Amblin Entertainment xưởng phim hoạt hình DreamWorks, và tại đây ông cũng đảm nhiệm vai trò nhà sản xuất. Spielberg sau đó cũng tham gia sản xuất một vài trò chơi trong lĩnh vực trò chơi điện tử.

Spielberg là một trong những nhà làm phim thành công nhất về mặt chuyên môn trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, với hai lần chiến thắng giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất.[6] Một vài phim điện ảnh do ông đạo diễn nằm trong số những phim điện ảnh có doanh thu cao nhất lịch sử, và ông cũng là đạo diễn có doanh thu phim cao nhất lịch sử.[7] Được biết, tài sản của ông có giá trị lên đến hơn 3 tỉ USD.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Spielberg sinh ra tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio, trong một gia đình Do Thái,[8] bố ông là Arnold còn mẹ là Leahanni Spielberg[9], ông có ba em gái. Họ của ông có nguồn gốc là tên một thành phố của Áo, thành phố Spielberg nơi những người tổ tiên Hungary gốc Do Thái của ông đã sống ở thế kỷ 17.

Khi còn là một đứa trẻ, Spielberg phải đối mặt với việc khó hoà đồng vì nhận thức của những đứa trẻ mà ông ta chơi cùng. "Đó không phải là điều tôi muốn thừa nhận,". Spielberg cũng nói rằng ông phải chịu đựng những hành vi chống định kiến ​​và bị bắt nạt: "Ở trường trung học, tôi bị đánh và đá, và mũi tôi đã chảy máu. Thật kinh khủng."[10][11][12]. Trong suốt thời niên thiếu, và sau khi vào cấp ba, Spielberg tiếp tục làm những bộ phim nghiệp dư 8 mm đề tài "mạo hiểm" với bạn bè, bộ phim đầu tiên được cậu bé Spielberg quay tại một nhà hàng ở Scottsdale, tiểu bang Arizona. Năm 13 tuổi, Spielberg giành giải thưởng đầu tiên với một bộ phim 40 phút về đề tài "chiến tranh" mà cậu đặt tên là Escape to Nowhere.[13]. Năm 1963, tại trường cấp III Arcadia thành phố Phoenix bang Arizona, cậu học sinh 16 tuổi Spielberg đã viết và đạo diễn bộ phim độc lập đầu tiên của mình, một bộ phim phiêu lưu khoa học viễn tưởng dài 140 phút có tên Firelight, bộ phim đã tạo cảm hứng cho một tác phẩm lớn của Spielberg sau này là Close Encounters of the Third Kind. Firelight với ngân sách 400 USD đã được chiếu ở một rạp địa phương và thu về 100 USD. Một nhà báo ở thành phố Phoenix khi đó đã viết rằng cậu học sinh này sau đó có thể làm được những tác phẩm lớn[14].

Sau khi bố mẹ ly dị, Steven Spielberg chuyển đến tiểu bang California với bố trong khi ba em gái và bà mẹ vẫn ở lại Arizona. Spielberg tốt nghiệp trường cấp III SaratogaSaratoga bang California năm 1965. Trong thời gian này, Spielberg đã trở thành một hướng đạo sinh và đã nhận được giải thưởng Distinguished Eagle Scout Award của tổ chức Hướng đạo sinh Hoa Kỳ (BSA) nhờ việc phát triển những tiêu chuẩn trao tặng huy hiệu danh dự cho hoạt động điện ảnh của hướng đạo sinh.

Sau khi chuyển đến California, Spielberg đăng ký tới ba lần vào trường điện ảnh của Đại học California tại Los Angeles và trường điện ảnh truyền hình của Đại học Nam California nhưng đều không được nhận vì chỉ tốt nghiệp cấp III với điểm trung bình loại C. Sau khi Spielberg đã là một đạo diễn nổi tiếng, USC đã trao tặng bằng tốt nghiệp danh dự cho ông năm 1994 và đến năm 1996 thì Spielberg đã trở thành một ủy viên quản trị của trường. Cuối cùng cậu thanh niên Spielberg vào học tại Đại học California tại Long Beach để tránh phải đi lính trong Chiến tranh Việt Nam[13]. Cũng tại đây Spielberg bắt đầu tham gia vào ngành công nghiệp điện ảnh với công việc thực tập không lương ở bộ phận biên tập của hãng phim Universal. Năm 1968, ông làm bộ phim ngắn đầu tiên để chiếu rạp, đó là bộ phim 24 phút với tựa đề Amblin. Sidney Sheinberg, người sau đó trở thành phó chủ tịch phụ trách sản xuất của hãng truyền hình thuộc Universal đã xem bộ phim và lập tức Spielberg trở thành đạo diễn trẻ nhất trong lịch sử được ký hợp đồng dài hạn với Universal, một trong các hãng phim chính của Hollywood, cậu bỏ học và bắt đầu sự nghiệp đạo diễn chuyên nghiệp. Spielberg sau đó trở lại Đại học bang California, Long Beach và hoàn thành bằng cử nhân về Nghệ thuật Điện ảnh và Điện tử năm 2002.[15]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1968–75: Những năm đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc đầu tiên của Spielberg ở hãng truyền hình của Universal là thực hiện một phần cho kịch bản phim truyền hình Night Gallery trong tập phim Eyes, diễn viên chính của bộ phim này là Joan Crawford, người sau đó trở thành bạn thân của ông đến khi qua đời. Sau đó Spielberg được làm một tập phim truyền hình thực sự, đó là tập L.A. 2017 trong loạt phim Name of the Game. Tập phim khoa học viễn tưởng này đã gây ấn tượng với hãng phim Universal và họ ký hợp đồng ngắn hạn với Spielberg để làm ba bộ phim chiếu trên truyền hình, Duel, The ExorcistSavage. Bộ phim dài chiếu rạp đầu tiên của ông là The Sugarland Express kể về một đôi vợ chồng bị cảnh sát săn đuổi vì họ cố giành lại quyền nuôi dưỡng con của mình. Những cảnh quay cuộc săn đuổi của cảnh sát được giới phê bình đánh giá cao, tuy nhiên bộ phim không thành công về mặt thương mại và chỉ được phát hành hạn chế.

Bước ngoặt cho sự nghiệp của Spielberg đến khi hai nhà sản xuất Richard Zanuck và David Brown đề nghị ông làm đạo diễn cho bộ phim Hàm cá mập, một bộ phim kinh dị dựa theo tiểu thuyết của Peter Benchley. Bộ phim sau đó đã giành được 3 giải Oscar (cho biên tập, thu âm và tiếng động), và đã lập kỉ lục doanh thu tại thị trường Mỹ khi thu về tới hơn 100 triệu USD, thậm chí bộ phim còn tạo nên một cơn sốt trong công chúng được báo chí đặt tên là "Jawsmania".

1975–93: Ông vua của những phim bom tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm cá mập bộ phim thành công đầu tay của Steven Spielberg

Từ chối đạo diễn phần 2 của Hàm cá mập, Spielberg và diễn viên Richard Dreyfuss gặp nhau trong một bộ phim mới sản xuất năm 1977, một tác phẩm về những vật thể bay không xác định có tên Close Encounters of the Third Kind. Là một trong số ít phim Spielberg vừa viết kịch bản vừa đạo diễn, Close Encounters đã trở thành một sản phẩm ăn khách và đem lại cho ông đề cử đầu tiên ở giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim giành hai giải Oscar cho quay phim và hiệu quả âm thanh, nhưng quan trọng hơn nó đã khẳng định khả năng đạo diễn cho những bộ phim bom tấn của Spielberg.

Thành công của Steven Spielberg với các bộ phim thương mại lại làm giới phê bình phim coi thường những tác phẩm tiếp theo của ông. Bộ phim tiếp theo của Spielberg là 1941, một tác phẩm tốn kém về đề tài Chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng lại bị cả giới phê bình và người xem chê bai. Ngay sau đó, Spielberg đã hợp tác cùng tác giả của loạt phim Chiến tranh giữa các vì saoGeorge Lucas để làm bộ phim Raiders of the Lost Ark, tập đầu tiên của bộ ba phim nổi tiếng Indiana Jones do diễn viên Harrison Ford thủ vai tiến sĩ khảo cổ Indiana Jones. Bộ phim đã đạt doanh thu cao nhất năm 1981 và được đề cử vài giải Oscar trong đó có đề cử giải Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho Spielberg và đề cử giải Phim hay nhất (bộ phim thứ hai của ông được đề cử giải này), cho đến ngày nay bộ phim này cũng vẫn được coi như một tác phẩm bước ngoặt của thể loại phim hành động.

Năm 1982 Spielberg trở lại với đề tài khoa học viễn tưởng quen thuộc với bộ phim E.T. the Extra-Terrestrial, câu chuyện về tình bạn giữa một chú bé và một người ngoài hành tinh đang cố gắng quay trở về nhà trong vũ trụ. E.T. đã trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại (kỷ lục này chỉ bị phá vỡ bởi Công viên kỷ Jura, một tác phẩm khác của Spielberg). Ngoài ra bộ phim còn được đề cử rất nhiều giải Oscar trong đó có đề cử Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất (đề cử thứ ba của Spielberg). Đến năm 1984, Spielberg và George Lucas lại cùng hợp tác làm tập Indiana Jones tiếp theo với tên Indiana Jones and the Temple of Doom. Tuy vẫn là một thành công thương mại nhưng tập phim này không được đánh giá cao như phần đầu. Cũng trong thời gian này Spielberg còn sản xuất hai bộ phim ăn khách khách là Twilight ZoneThe Goonies.

Năm 1985, Spielberg cho ra mắt bộ phim The Color Purple với sự tham gia của hai nữ diễn viên da đen sau đó rất nổi tiếng là Whoopi GoldbergOprah Winfrey. Bộ phim tương đối thành công về doanh thu và được giới phê bình đánh giá cao khi nhận xét Spielberg đã thành công với dòng phim chính kịch. Nhà phê bình phim Roger Ebert còn coi đây là bộ phim hay nhất của năm, The Color Purple cũng được đề cử 11 giải Oscar. Năm 1987, ngay khi Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài, Spielberg đã quay bộ phim Mỹ đầu tiên ở Thượng Hải kể từ thập niên 1930, bộ phim Empire of the Sun. Tuy không thành công khi công chiếu ngoài rạp, bộ phim lại được giới phê bình khen ngợi và được đề cử một số giải Oscar.

Năm 1989, Spielberg bắt tay vào làm phần 3 của loạt phim "Indiana Jones" với tựa đề Indiana Jones and the Last Crusade (Indiana Jones và cuộc Thập tự chinh cuối cùng). Bộ phim được đánh giá cao và cũng đạt doanh thu cao, nó được coi là phần kết tốt cho loạt phim Indiana Jones nổi tiếng.

Năm 1993 có thể coi là năm thành công nhất trong sự nghiệp đạo diễn của Spielberg cho đến ngày hôm nay khi ông cho ra đời liền hai bộ phim được đánh giá rất cao trong lịch sử điện ảnh. Bộ phim đầu tiên thuộc thể loại khoa học giả tưởng và phiêu lưu quen thuộc của Spielberg, dựa theo cuốn tiểu thuyết của Michael Crichton có tên Công viên kỷ Jura nói về những con khủng long ăn thịt người. Với những hiệu ứng hình ảnh mang tính cách mạng được làm bởi hãng Industrial Light and Magic của người bạn George Lucas, bộ phim của Spielberg đã trở thành bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ, vượt qua bộ phim E.T..

Bộ phim thứ hai của Spielberg trong năm này là Bản danh sách của Schindler, dựa trên câu chuyện có thật của nhà công nghiệp Oskar Schindler, người đã mạo hiểm tính mạng của mình để cứu sống 1.100 người Do Thái khỏi nạn diệt chủng. Bản danh sách của Schindler đã mang lại cho Spielberg giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất đầu tiên và cũng giành luôn giải Oscar Phim hay nhất. Một số nhà phê bình cho rằng bộ phim này là tác phẩm chân thực nhất về nạn diệt chủng người Do Thái và năm 1999, Viện phim Mỹ đã xếp bộ phim vào danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất của điện ảnh Mỹ.

1993–Những năm 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Steven Spielberg phát biểu tại Lầu Năm Góc bên cạnh áp phích phim Giải cứu binh nhì Ryan.

Năm 1994, cùng với Jeffrey Katzenberg và David Geffen, Spielberg tham gia thành lập hãng phim độc lập DreamWorks SKG. Sau thành công của năm 1993, Spielberg tạm ngừng sự nghiệp đạo diễn 4 năm trước khi quay trở lại với phần tiếp theo của Công viên kỷ Jura với tự đề The Lost World, bộ phim này đã thu về gần 230 triệu USD ở thị trường Mỹ mặc dù không được đánh giá cao như phần đầu.

Năm 1998, Spielberg cho ra đời bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ 2 có tên Giải cứu binh nhì Ryan với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên 2 lần đạt giải Oscar Tom Hanks. Spielberg giành được giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho tác phẩm này. Những hình ảnh chân thực mô tả sự ác liệt của chiến tranh trong phim đã ảnh hưởng tới nhiều phim chiến tranh sau đó như Black Hawk Down hay Enemy at the Gates. Bộ phim cũng là tác phẩm lớn đầu tiên của Spielberg thực hiện cho hãng phim DreamWorks của ông.

Năm 2005, Spielberg làm lại bộ phim Đại chiến thế giới dựa theo tiểu thuyết Chiến tranh giữa các thế giới của H.G. Wells, bộ phim có sự xuất hiện của ngôi sao điện ảnh Tom CruiseDakota Fanning. Không được đánh giá cao, bộ phim vẫn thu về 234 triệu USD chỉ tính riêng thị trường Mỹ và doanh thu tổng cộng lên tới 591 triệu USD. Năm 2008, Steven được mời đạo diễn chương trình khai mạc Thế vận hội Bắc kinh 2008 song đã từ chối vì bất đồng với chính phủ Trung Quốc trong vấn đề hòa bình ở Sudan.

Bộ phim Munich của Spielberg, kể về các sự kiện sau Cuộc thảm sát ở Munich năm 1972 của các vận động viên Israel tại Thế vận hội Olympic, là bộ phim thứ hai của ông lấy đề tài là người Do Thái (đầu tiên là Bản danh sách của Schindler). Bộ phim dựa trên Vengeance, một cuốn sách của nhà báo người Canada George Jonas. Trước đây, nó đã được chuyển thể thành một bộ phim 1986, Sword of Gideon. Bộ phim đã nhận được những lời khen ngợi, nhưng lại bị đánh giá thấp tại phòng vé Hoa Kỳ và thế giới; nó cũng là một trong những bộ phim gây tranh cãi nhất của Spielberg cho đến nay.[16] Munich đã nhận được năm đề cử giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất, Biên tập phim, Nhạc phim hay nhất (của John Williams), Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg. Đó là đề cử Đạo diễn xuất sắc thứ sáu của Spielberg và đề cử Phim hay nhất thứ năm.

Spielberg đạo diễn Indiana Jones và Vương quốc sọ pha lê, đóng máy vào tháng 10 năm 2007 và được phát hành vào ngày 22 tháng 5 năm 2008.[17][18] Đây là bộ phim đầu tiên của ông không được DreamWorks phát hành kể từ năm 1997. Bộ phim nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[19] và thành công về mặt tài chính, thu về 786 triệu đô la trên toàn thế giới.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2009, Spielberg đã quay bộ phim đầu tiên trong bộ ba phim chuyển động được lên kế hoạch dựa trên Những cuộc phiêu lưu của Tintin, được viết bởi nghệ sĩ người Bỉ Hergé,[20] với Peter Jackson. Những cuộc phiêu lưu của Tintin: Bí mật tàu Kỳ Lân, không được phát hành cho đến tháng 10 năm 2011, do sự phức tạp của hoạt hình máy tính. Buổi ra mắt phim trên thế giới diễn ra vào ngày 22 tháng 10 năm 2011 tại Brussels, Bỉ.[21] Bộ phim được phát hành tại các rạp Bắc Mỹ vào ngày 21 tháng 12 năm 2011, dưới dạng Digital 3DIMAX..[22] Nó đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[23] và thu về hơn 373 triệu đô la trên toàn thế giới.[24] Những cuộc phiêu lưu của Tintin đã giành giải thưởng cho Phim hoạt hình hay nhất tại Giải Quả cầu vàng năm đó.[25] Đây là bộ phim không phải của Pixar đầu tiên giành được giải thưởng kể từ khi hạng mục này được giới thiệu lần đầu tiên.[26][27] Jackson đã được công bố để chỉ đạo phần phim thứ hai.[28]

Spielberg đạo diễn bộ phim Chiến mã, được quay ở Anh vào mùa hè năm 2010.[29] Nó được phát hành chỉ bốn ngày sau Những cuộc phiêu lưu của Tintin, vào ngày 25 tháng 12 năm 2011. Bộ phim, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên được viết bởi Michael Morpurgo và xuất bản năm 1982, kể về tình bạn lâu dài giữa một cậu bé người Anh và chú ngựa Joey trước và trong Thế chiến I - cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành một vở kịch ăn khách ở Luân Đôn, cũng như trên sân khấu Broadway. Chiến mã là bộ phim đầu tiên trong bốn bộ phim Spielberg liên tiếp được phát hành bởi Disney. Chiến mã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình,[30] và được đề cử sáu giải Oscar, trong đó có Phim hay nhất.

Spielberg tiếp theo đạo diễn bộ phim chính kịch lịch sử Lincoln, với sự tham gia của Daniel Day-Lewis trong vai Tổng thống Hoa Kỳ Abraham LincolnSally Field trong vai Mary Todd Lincoln.[31] Dựa trên Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln của Doris Kearns Goodwin, bộ phim đã kể về bốn tháng cuối đời của Lincoln. Được kịch bản bởi Tony Kushner, bộ phim được quay tại Richmond, Virginia, vào cuối năm 2011,[32] và được phát hành tại Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2012.[33][34] Khi phát hành, Lincoln nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình, và được đề cử 12 giải Oscar (nhiều nhất trong số các phim năm đó), bao gồm Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất cho Spielberg.[35] Nó đã giành giải thưởng dành cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và Day-Lewis đã giành giải Oscar cho Nam diễn viên xuất sắc nhất với vai diễn Lincoln.

Được công bố vào ngày 2 tháng 5 năm 2013, Spielberg sẽ chỉ đạo bộ phim về câu chuyện của xạ thủ bắn tỉa Mỹ Chris Kyle, có tựa đề Lính bắn tỉa Mỹ. Tuy nhiên, vào ngày 5 tháng 8 năm 2013, Spielberg đã quyết định không chỉ đạo bộ phim mà thay vào đó là đạo diễn Clint Eastwood.

Spielberg quảng bá bộ phim Ready Player One: Đấu trường ảo (2018) tại Nhật Bản.

Spielberg sau đó đạo diễn Người đàm phán, một phim chính kịch thời Chiến tranh Lạnh dựa trên sự cố U-2 năm 1960, và tập trung vào các cuộc đàm phán của James B. Donovan với Liên Xô để thả phi công Gary Powers sau khi máy bay của ông bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Bộ phim có sự tham gia của Tom Hanks trong vai Donovan, cũng như Mark Rylance, Amy RyanAlan Alda, với kịch bản của anh em nhà Coen. Bộ phim được quay từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2014 tại địa điểm ở thành phố New York, Berlin và Wroclaw, Ba Lan, và được phát hành vào ngày 16 tháng 10 năm 2015.[36][37] Người đàm phán nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, và được đề cử sáu giải Oscar, bao gồm Phim hay nhất; Rylance đã giành giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, trở thành diễn viên thứ hai giành chiến thắng trong các bộ phim của Spielberg.

Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ của Spielberg là bộ phim chuyển thể từ câu chuyện thiếu nhi nổi tiếng của Roald Dahl, với sự tham gia của Ruby Barnhill và Rylance trong vai Người khổng lồ thân thiện. DreamWorks đã mua bản quyền vào năm 2010, ban đầu John Madden dự định sẽ chỉ đạo.[38] Bộ phim là tác phẩm cuối cùng được viết bởi nhà biên kịch ET Melissa Mathison trước khi bà qua đời. Nó được Walt Disney Pictures hợp tác sản xuất và phát hành, đánh dấu bộ phim đầu tiên mang thương hiệu Disney do Spielberg làm đạo diễn. Bộ phim ra mắt tại Liên hoan phim Cannes[39] vào ngày 14 tháng 5 năm 2016.

Spielberg thực hiện bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cùng tên Ready Player One: Đấu trường ảo của Ernest Cline. Phim có sự tham gia của Tye Sheridan,[40] Olivia Cooke,[41] Ben Mendelsohn, Simon PeggMark Rylance. Nó bắt đầu được sản xuất tại Luân Đôn vào tháng 7 năm 2016,[42] một năm trước The Post, được quay, chỉnh sửa và phát hành trong thời gian hậu kỳ về hiệu ứng cho Ready Player One. Ready Player One ban đầu dự kiến ​​sẽ được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2017 bởi Warner Bros.,[43] nhưng đã bị đẩy lùi đến ngày 29 tháng 3 năm 2018, để tránh cạnh tranh với Star Wars: Jedi cuối cùnh.[44] Nó đã được chiếu tại liên hoan phim South by Southwest, vào ngày 11 tháng 3 năm 2018.

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim của Spielberg thường đề cập đến một số chủ đề nhất định. Hầu hết các bộ phim của ông đề cập đến các nhân vật bình thường tìm kiếm hoặc tiếp xúc với những sinh vật phi thường hoặc nhìn thấy mình trong hoàn cảnh phi thường. Trong một cuộc phỏng vấn của AFI vào tháng 8 năm 2000, Spielberg đã nhận xét về mối quan tâm của ông đối với sự sống ngoài trái đất và nó đã ảnh hưởng đến một số bộ phim của ông như thế nào. Spielberg tự mô tả mình giống như một người ngoài hành tinh trong thời thơ ấu,[45] và sự quan tâm của ông đến từ cha ông, một người hâm mộ khoa học viễn tưởng và suy nghĩ rằng người ngoài hành tinh sẽ không đến trái đất để chinh phục, mà thay vào đó là sự tò mò và chia sẻ kiến ​​thức.[46]

Một chủ đề có tác động mạnh mẽ đến Spielberg là cảm giác kỳ diệu và có niềm tin như một đứa trẻ, được chứng thực bằng các tác phẩm như Kiểu tiếp xúc thứ 3, E.T. Sinh vật ngoài hành tinh, Hook, AI - Trí tuệ nhân tạoChuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ. Theo Warren Buckland, những chủ đề này được miêu tả thông qua việc sử dụng các cảnh quay camera có độ phân giải cao thấp, đã trở thành một trong những thương hiệu của Spielberg. Trong các trường hợp khi các bộ phim của ông ấy có trẻ em (ET. Sinh vật ngoài hành tinh, Chế đế mặt trời, Công viên kỷ Jura, v.v.), nó cũng được sử dụng trong các bộ phim như Munich, Giải cứu binh nhì Ryan, The Terminal, Minority Report, và Amistad. Mỗi bộ phim của ông đều có cảnh quay được sử dụng, và những cảnh nước trong Hàm cá mập được quay từ góc nhìn thấp của một người nào đó đang bơi. Một chủ đề hướng đến trẻ em khác trong các bộ phim của Spielberg là mất đi sự hồn nhiên và sắp đến độ tuổi trưởng thành. Trong Chế đế mặt trời, Jim, một cậu bé người Anh hư hỏng do được nuông chiều, mất đi sự hồn nhiên của mình sau khi phải trải qua Thế chiến II ở Trung Quốc. Tương tự, trong Hãy bắt tôi nếu có thể, Frank ngây thơ và dại dột tin rằng anh có thể có lại được gia đình của mình bằng cách tích lũy đủ tiền để hỗ trợ họ.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim Spielberg tham gia dưới vai trò đạo diễn.

Năm Tựa đề Nhà phát hành Chú thích
1968 Amblin' Filmways Phim ngắn
1971 Duel Universal Pictures / CIC
1974 The Sugarland Express Universal Pictures
1975 Hàm cá mập Universal Pictures Vai lồng tiếng khách mời: Nhân viên Amity Point
1977 Kiểu tiếp xúc thứ 3 Columbia Pictures
1979 1941 Universal Pictures / Columbia Pictures
1981 Chiếc rương thánh tích Paramount Pictures
1982 E.T. Sinh vật ngoài hành tinh Universal Pictures
1983 Twilight Zone: The Movie Warner Bros. Phân đoạn: "Kick the Can"
1984 Indiana Jones và ngôi đền tàn khốc Paramount Pictures Vai diễn khách mời: Khách tại sân bay
1985 Màu tím Warner Bros
1987 Chế đế mặt trời Warner Bros.
1989 Always Universal Pictures/United Artists
1989 Indiana Jones và Cuộc thập tự chinh cuối cùng Paramount Pictures
1991 Hook TriStar Pictures
1993 Công viên kỷ Jura Universal Pictures
Bản danh sách của Schindler Universal Pictures
1997 Thế giới bị mất: Công viên kỷ Jura Universal Pictures Vai diễn khách mời: Man Eating Popcorn
Amistad DreamWorks Pictures
1998 Giải cứu binh nhì Ryan DreamWorks Pictures / Paramount Pictures
2001 A.I. Artificial Intelligence Warner Bros. / DreamWorks Pictures
2002 Minority Report 20th Century Fox / DreamWorks Pictures
Hãy bắt tôi nếu có thể DreamWorks Pictures
2004 The Terminal DreamWorks Pictures
2005 Đại chiến thế giới Paramount Pictures / DreamWorks Pictures
Munich Universal Pictures / DreamWorks Pictures
2008 Indiana Jones và vương quốc sọ người Paramount Pictures
2011 Những cuộc phiêu lưu của Tintin Paramount Pictures / Columbia Pictures
Chiến mã Walt Disney Studios
2012 Lincoln Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2013 Sói già phố Wall Universal Pictures Đồng đạo diễn một cảnh quay, không được ghi chú vai trò[47]
2015 Người đàm phán Walt Disney Studios / 20th Century Fox
2016 Chuyện chưa kể ở xứ sở khổng lồ Walt Disney Studios
2017 The Post 20th Century Fox
2018 Ready Player One: Đấu trường ảo Warner Bros.
2020 Câu chuyện phía Tây Walt Disney Studios

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Steven Spielberg". Forbes. Retrieved December 9, 2016.
  2. ^ The cinema of Steven Spielberg: Empire of light. Nigel Morris. Wallflower Press. 2007
  3. ^ Higgins, Bill (7 tháng 4 năm 2012). 'Jaws': Revisiting Hollywood's First Summer Blockbuster”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ “Steven Spielberg to Harvard grads: Be the movie heroes of real life”. The Economic Times. 
  5. ^ Lê Hồng Lâm (4 tháng 4 năm 2018). “Steven Spielberg - Người khổng lồ của các bom tấn và kiệt tác điện ảnh”. Zing.vn. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  6. ^ Directors with two or more Oscars
  7. ^ McClintock, Pamela (17 tháng 4 năm 2018). “Box-Office Milestone: Steven Spielberg Is First Member of $10B Directors' Club”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ Steven Spielberg: A Biography. Da Capo Press. 1999. ISBN 978-0-306-80900-2. 
  9. ^ “Fred A. Bernstein”. Fredbernstein.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ Weinraub, Bernard (12 tháng 12 năm 1993). “Steven Spielberg Faces the Holocaust”. The New York Times (The New York Times Company). 
  11. ^ Isenberg, Noah (9 tháng 1 năm 2017). “The Making of Steven Spielberg”. The New Republic. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  12. ^ Reed, J.D. (15 tháng 3 năm 1999). “Steven Spielberg”. People. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018. 
  13. ^ a ă Joseph McBride, Steven Spielberg, Nhà xuất bản Faber and Faber, 1997
  14. ^ Ian Freer, The Complete Spielberg, Nhà xuất bản Virgin, 2001
  15. ^ Hiscock, John (30 tháng 6 năm 2002). “Spielberg: why I went back to college”. Telegraph.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  16. ^ Yossi Melman and Steven Hartov (17 tháng 1 năm 2006). “Munich: Fact and Fantasy”. The Guardian (The Guardian Unlimited). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018. 
  17. ^ “New Indy Adventure Begins Shooting”. IndianaJones.com. 18 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007. 
  18. ^ “Spielberg, Ford and Lucas on Indy IV”. Empire. 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006. 
  19. ^ “Indiana Jones and the Kingdom of the Crystal Skull (2008)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  20. ^ "The Man Behind Boy, Dog and Their Adventures" Book review by Charles McGrath, The New York Times, December 22, 2009 (December 23, 2009, p. C1 NY ed.). Book reviewed: Hergé: The Man Who Created Tintin, by Pierre Assouline; translated by Charles Ruas, 276 pages. Oxford University Press. Retrieved December 24, 2009.
  21. ^ “Tintin Has World Premiere in His Hometown”. NPR. Associated Press. 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011. [liên kết hỏng]
  22. ^ “The Adventures of Tintin Official Movie Site”. Paramount Pictures. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  23. ^ “The Adventures of Tintin (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  24. ^ “The Adventures of Tintin (Box office)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  25. ^ “2012 GOLDEN GLOBES Nominees and Winners – Complete List!”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  26. ^ “Tintin Takes Golden Globe”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  27. ^ “The Adventures of Tintin (Trivia)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ Wigler, Josh (26 tháng 10 năm 2011). “Jackson To Direct 'Tintin' Sequel”. MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ "Steven Spielberg starts filming War Horse on Dartmoor" Lưu trữ April 25, 2011, tại Wayback Machine. by Tristan Nichols, The Herald August 3, 2010
  30. ^ “War Horse (Rotten Tomatoes)”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  31. ^ Breznican, Anthony (13 tháng 4 năm 2011). “Steven Spielberg's 'Lincoln' gets its Mary Todd: Sally Field”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  32. ^ Garbarek, Ben (9 tháng 5 năm 2011). “First casting calls for Steven Spielberg movie”. WWBT (Richmond). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ “This Week in the Civil War”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  34. ^ Fischer, Russ (19 tháng 11 năm 2010). “Daniel Day-Lewis to Star in Steven Spielberg's 'Lincoln'. /Film. 
  35. ^ “Nominees for the 85th Academy Awards”. oscars.org. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  36. ^ McNary, Dave (16 tháng 6 năm 2014). “Tom Hanks-Steven Spielberg Cold War Thriller Set for Oct. 16, 2015”. Variety. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 
  37. ^ “Amy Ryan, Alan Alda Join Tom Hanks in Steven Spielberg's Cold War Thriller”. Variety. 21 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  38. ^ Andrew Pulver (28 tháng 4 năm 2014). “Steven Spielberg to tackle The BFG movie”. The Guardian. 
  39. ^ Jaafar, Nancy Tartaglione,Ali (14 tháng 4 năm 2016). “Cannes Film Festival 2016 Lineup: 'The BFG', 'Nice Guys', Penn, Refn, Almodóvar & More Confirmed; No Closing-Night Pic”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017. 
  40. ^ Kevin Jagernauth (25 tháng 2 năm 2016). “Tye Sheridan Lands Lead In Steven Spielberg's 'Ready Play – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  41. ^ Oliver Lyttelton (11 tháng 9 năm 2015). 'Me, Earl & The Dying Girl' & 'Bates Motel' Star Olivia C – The Playlist”. The Playlist. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  42. ^ “New BFFs Spielberg, Rylance team up for 'The BFG' and big things beyond”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2016. 
  43. ^ Mike Fleming Jr (6 tháng 8 năm 2015). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Slotted For December 2017”. Deadline Hollywood (Penske Business Media, LLC). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  44. ^ Lang, Brent (9 tháng 2 năm 2016). “Steven Spielberg's 'Ready Player One' Pushed Back to Avoid 'Star Wars: Episode VIII'. Variety (Variety Media, LLC). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016. 
  45. ^ McBride, Joseph (1997). Steven Spielberg. Faber and Faber. ISBN 978-0-571-19177-2. 
  46. ^ E.T. DVD Production Notes Booklet. Universal. 2002. 
  47. ^ “Martin Scorsese, Leonardo DiCaprio Finally Open Up About Wolf of Wall Street. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]