John Williams

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John Williams
John Williams tux.jpg
Williams tại Avery Fisher Hall năm 2007
Sinh John Towner Williams
8 tháng 2, 1932 (84 tuổi)
Floral Park, New York, Hoa Kỳ
Công việc
Vợ (chồng) Barbara Ruick
(kết hôn  1956–1974) «start: (1956)–1974 (1974-end+1:)»"Hôn nhân: Barbara Ruick
đến John Williams
"
Location:Bản mẫu:Placename/adr
(linkback://vi.wikipedia.org/wiki/John_Williams)

Samantha Winslow
(kết hôn  1980–nay) «start: (1980)»"Hôn nhân: Samantha Winslow
đến John Williams
"
Location:Bản mẫu:Placename/adr
(linkback://vi.wikipedia.org/wiki/John_Williams)
Con cái 3, bao gồm Joseph Williams
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Dương cầm, kèn bassoon, cello, clarinet, trombone và trumpet
Năm hoạt động 1952–nay

John Towner Williams (sinh ngày 8 tháng 2 năm 1932) là nhà soạn nhạc, nhạc công dương cầm và chỉ huy dàn nhạc người Mỹ. Trong sự nghiệp kéo dài 6 thập niên, Williams đã soạn nhiều trong những bản nhạc phim nổi tiếng nhất trong lịch sử, bao gồm Hàm cá mập, loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao, Siêu nhân, loạt phim Indiana Jones, E.T. the Extra-Terrestrial, Công viên kỷ Jura và 3 bộ phim đầu tiên trong loạt phim Harry Potter. Ông liên kết với đạo diễn Steven Spielberg từ năm 1974, soạn nhạc cho hầu hết các bộ phim của ông.[1] Williams còn soạn khúc nhạc hiệu cho bốn kỳ Thế vận hội, NBC Sunday Night Football, bộ phim Những cuộc phiêu lưu của Tintin: Bí mật tàu Kỳ Lân (2011), loạt phim truyền hình Lost in SpaceLand of the Giants, âm nhạc trong mùa đầu tiên của Gilligan's Island. Ông cũng tham gia nhiều buổi hòa nhạc và làm người chỉ huy chính của Dàn nhạc Boston Pops từ 1980 đến 1993.[2]

Williams đoạt 5 giải Oscar, 4 giải Quả cầu vàng, 7 giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Anh quốc và 22 giải Grammy. Với 50 đề cử cho giải Oscar, ông là người đề cử nhiều thứ 2 trong lịch sử, đứng sau Walt Disney.[3][4] Năm 2005, Viện phim Mỹ xướng tên tác phẩm của William trong Chiến tranh giữa các vì sao (1977) là nhạc phim Mỹ vĩ đại nhất. Williams được vinh danh tại Đại lộ Danh vọng của Hollywood Bowl vào năm 2000 và đoạt giải Kennedy Center Honors năm 2004. Williams trở thành nhà soạn nhạc đầu tiên trong lịch sử nhận giải Thành tựu trọn đời của Viện phim Mỹ vào năm 2016.[5] Williams xuất hiện trong phần âm nhạc của 8 trong số 20 bộ phim thành công nhất lịch sử phòng vé Mỹ.[6]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

John Towner Williams sinh ngày 8 tháng 2 năm 1932 tại Floral Park, New York, là con trai trong gia đình nhà Esther (nhũ danh Towner) và Johnny Williams,[7] một nhạc công bộ gõ jazz, trình diễn với Raymond Scott Quintet. Williams chia sẻ về gia đình mình, "Cha tôi là một người đàn ông xứ Maine–chúng tôi có họ hàng rất gần. Mẹ tôi đến từ Boston. Cha mẹ tôi điều hành một cửa hàng ở Bangor, Maine và bà nội tôi là một người sản xuất tủ. [...] Những người có nòi giống như thế không dễ trở nên lười biếng đâu."[8]

Năm 1948, gia đình Williams chuyển đến Los Angeles, nơi John theo học trường Trung học North Hollywood, tốt nghiệp năm 1950. Ông sau đó đến Đại học California, Los Angeles (UCLA) và học riêng với nhà soạn nhạc người Ý Mario Castelnuovo-Tedesco.[9] Williams ban đầu có theo học ở Đại học thành phố Los Angeles trong một học kỳ, nằm trong ban nhạc Studio Jazz của trường.[10] Năm 1952, Williams được chọn vào Không quân Hoa Kỳ, nơi ông soạn nhạc và chỉ huy tại Dàn nhạc Không quân Hoa Kỳ.[11]

Năm 1955, Williams chuyển đến Thành phố New York và theo học Trường Juilliard và học dương cầm với Rosina Lhévinne.[9] Trong thời gian này, ông là một nhạc công jazz tại nhiều hộp đêm trong thành phố. Sau khi dời về Los Angeles, ông trở thành một nhạc công cùng với Henry Mancini. Ông hợp tác với Mancini trong nhạc phim của Peter Gunn, với sự góp mặt của cây guitar Bob Bain, tay bass Rolly Bundock và tay trống Jack Sperling, nhiều người trong số họ xuất hiện trong loạt phim Mr. Lucky. Nổi tiếng với cái tên "Johnny" trong những năm 1950 và 1960, Williams soạn nhạc cho nhiều chương trình truyền hình và là nhà soạn nhạc cho loạt album của ca sĩ Frankie Laine.[12][13]

Williams có 2 người anh em, Donald và Jerry, là những nhạc công bộ gõ tại Los Angeles. Williams kết hôn với Barbara Ruick, một diễn viên và ca sĩ người Mỹ, vào năm 1956. Họ có 3 người con: Jennifer (sinh 1956), Mark Towner Williams (sinh 1958) và Joseph (sinh 1960), là ca sĩ chính của ban nhạc Toto. Họ vẫn kết hôn với nhau cho đến khi bà qua đời năm 1974. Năm 1980, Williams kết hôn với Samantha Winslow, một nhiếp ảnh gia.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách này có một số phim có nhạc do John Williams soạn. Những phim đoạt giải Oscar do nhạc của Williams được in đậm:

Thập niên 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Williams đã soạn nhạc cho bốn kỳ Thế vận hội vào thời gian 26 năm nay:

Khúc nhạc chính TV[sửa | sửa mã nguồn]

Concerto[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Concerto for Flute of Orchestra" (1969), chỉ được chơi năm 1981 bởi Dàn nhạc giao hưởng Saint Louis do Leonard Slatkin chỉ huy.
  • "Concerto for Violin and Orchestra" (1976, sửa 1998), cũng chỉ được chơi năm 1981 bởi Dàn nhạc giao hưởng Saint Louis.
  • "Concerto for Tuba and Orchestra" (1985), được chơi lần đầu tiên bởi Boston Pops để kỷ niệm 100 năm.
  • "Concerto for Clarinet and Orchestra" (1991).
  • "Concerto for Bassoon and Orchestra" ("The Five Sacred Trees") (1993).
  • "Concerto for Cello and Orchestra" (1994).
  • "Concerto for Trumpet and Orchestra" (1996).
  • "Elegy for Cello and Piano" (1997), về sau được soạn cho hồ cầm và dàn nhạc (2002). Dựa trên khúc nhạc trong Seven Years in Tibet.
  • "TreeSong, Concerto for Violin and Orchestra" (2000).
  • "Heartwood: Lyric Sketches for Cello and Orchestra" (2002).
  • "Concerto for Horn and Orchestra" (2003). Được chơi lần đầu tiên bởi Dàn nhạc giao hưởng Chicago tháng 11 năm 2003.
  • "Duo Concertante for Violin and Viola" (2007). Được chơi lần đầu tiên tại TanglewoodLenox, Massachusetts vào tháng 8 năm 2007.

Nhạc hòa nhạc khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Prelude and Fugue" (1965), cho dàn nhạc. [1]
  • Bản nhạc giao hưởng #1 (1966), được chơi lần đầu tiên bởi Dàn nhạc giao hưởng Houston do André Previn chỉ huy năm 1968. Williams viết lại bản nhạc năm 1988; bản này được chơi bởi Dàn nhạc giao hưởng San Francisco trong thời gian Williams làm người chỉ huy tạm vào đầu thập niên 1990.
  • "Thomas and the King" (nhạc kịch, 1975), biểu diễn lần đầu tiên tại Luân Đôn và được thâu năm 1981 bởi các diễn viên đầu tiên. [2]
  • "Jubilee 350 Fanfare" (1980), được chơi lần đầu tiên bởi dàn nhạc Boston Pops do Williams chỉ huy. Bản nhạc kỷ niệm 350 năm của thành phố Boston, Massachusetts.
  • "Liberty Fanfare" (1986), được chơi lần đầu tiên ngày 4 tháng 7 năm 1986 bởi Dàn nhạc Boston Pops Esplanade. Được soạn cho 100 năm của Tượng Nữ thần Tự do (Liberty Weekend).
  • "A Hymn to New England" (1987).
  • "For New York" (biến tấu bản nhạc của Leonard Bernstein, 1988). Được soạn cho sinh nhật 70 tuổi của Leonard Bernstein.
  • "Celebrate Discovery" (1990), được soạn để kỷ niệm 500 năm sau Cristoforo Colombo tới châu Mỹ.
  • "Sound the Bells!" (1993).
  • "Song for World Peace" (1994).
  • "Variations on Happy Birthday" (1995).
  • "American Journey" (1999). Một số đoạn được chơi lần đầu tiên trong một phim của Steven Spielberg tại Lễ kỷ niệm Thiên niên kỷWashington, D.C. ngày 31 tháng 12 năm 1999.
  • "Three Pieces for solo Cello" (2001).
  • "Soundings" (2003), được soạn để kỷ niệm Hội trường Hòa nhạc Walt Disney mở cửa.
  • "Star Spangled Banner" (2007), được soạn riêng cho trận 1 của World Series 2007 và được chơi bởi Dàn nhạc Boston Pops.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ “John Williams won't score a Steven Spielberg film for the first time in 30 years”. The Verge. 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ "Boston Pops - John Williams", bso.org; retrieved November 29, 2015.
  3. ^ “Williams, John biography”. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2007. 
  4. ^ “John Williams Film Music Box Biography Discography News”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2006. 
  5. ^ “John Williams Tapped for 44th AFI Life Achievement Award”. Variety. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ Profile, boxofficemojo.com; accessed December 28, 2015.
  7. ^ “John Williams, el compositor de la aventura”. Revista Esfinge. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ Thomas, David (25 tháng 10 năm 1997). “The King of Popcorn”. The Sydney Morning Herald: 10s. 
  9. ^ a ă Sony Classical Williams Biography tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007) at www.sonybmgmasterworks.com; retrieved September 29, 2007.
  10. ^ Los Angeles City College website, lacitycollege.edu; accessed December 28, 2015.
  11. ^ Barrett, Heather (30 tháng 9 năm 2015). “Star Wars composer John Williams' first score a 1952 Newfoundland film”. CBC News. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  12. ^ Barton, Tom. A Musical Biography of John Williams. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  13. ^ Casey, Dan (1 tháng 11 năm 2015). 100 Things Star Wars Fans Should Know & Do Before They Die. Triumph Books. ISBN 1633193454. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  14. ^ Eggerton, John (30 tháng 8 năm 2006). “Are You Ready For Some Gridiron Violins?”. Broadcasting & Cable. Reed Business Information.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
Thư mục
  • Audissino, Emilio: John Williams's Film Music. 'Jaws,' 'Star Wars,' 'Raiders of the Lost Ark,' and the Return of the Classical Hollywood Music Style (Madison, WI: University of Wisconsin Press, 2014), 346 pp. ISBN 978-0-299-29734-3
  • Audissino, Emilio: "Golden Age 2.0: John Williams and the Revival of the Symphonic Film Score". In: Stoppe, Sebastian (2014). Film in Concert. Film Scores and their Relation to Classical Concert Music. Glücksstadt, Germany: VWH Verlag. tr. 109–124. ISBN 978-3-86488060-5. 
  • Paulus, Irena: "Williams versus Wagner—Or an Attempt at Linking Musical Epics". In: Stoppe, Sebastian (2014). Film in Concert. Film Scores and their Relation to Classical Concert Music. Glücksstadt, Germany: VWH Verlag. tr. 63–108. ISBN 978-3-86488060-5. 
  • Moormann, Peter (2010). Spielberg-Variationen: die Filmmusik von John Williams (bằng tiếng Đức). Baden-Baden: Nomos, Edition Reinhard Fischer. tr. 797. ISBN 978-3-8329-5355-3. 
  • Aschieri, Roberto (1999). Over the Moon: La Mứsica de John Williams Para El Cine (bằng tiếng Tây Ban Nha). Santigo, Chile: Función Privada, sponsored by Universidad Diego Portales. tr. 400. ISBN 978-4-89799-246-4. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]