Harry Potter và Hòn đá Phù thủy (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Harry Potter và Hòn đá Phù thủy
Áp phích chính thức
Thông tin phim
Đạo diễn Chris Columbus
Sản xuất David Heyman
Tác giả J.K. Rowling
Diễn viên Daniel Radcliffe
Rupert Grint
Emma Watson
Richard Harris
Robbie Coltrane
Alan Rickman
Maggie Smith
Ian Hart
Richard Griffiths
Âm nhạc John Williams
Quay phim John Seale
Dựng phim Richard Francis-Bruce
Hãng sản xuất
Phát hành Warner Bros
Công chiếu 16 tháng 11 năm 2001
Việt Nam 3 tháng 110 tháng 1 năm 2014 (kênh HTV3)
Độ dài 152 phút
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Doanh thu $976.475.550
Phim sau Harry Potter và Phòng chứa Bí mật

Harry Potter và Hòn đá Phù thuỷ (tiếng Anh: Harry Potter and the Philosopher's Stone hoặc Harry Potter and the Sorcerer's Stone) là bộ phim giả tưởng đầu tiên trong loạt series phim ăn khách Harry Potter; phim dựa theo tiểu thuyết Harry Potter và Hòn đá phù thuỷ của nhà văn Anh J. K. Rowling. Người viết kịch bản là Steve Kloves, và cũng là người đã thực hiện 4 bộ phim đầu. Phim được chiếu ra mắt ở Anh vào ngày 16 tháng 11 năm 2001.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Cụ Albus Dumbledore (giáo sư Trường Phù thủy và Pháp sư Hogwarts) đến đường Privet Driver và gặp giáo sư Minerva McGonagall (hóa thân thành một con mèo) và kể cho bà về cái chết của vợ chồng JamesLily Potter. Cùng lúc đó, Rubeus Hagrid đưa Harry Potter, một đứa bé mồ côi khi đó mới 1 tuổi đến bằng mô tô bay. Cụ đặt cậu bé lên thềm nhà số 4 cùng 1 bức thư gửi cho những người thân còn lại duy nhất của cậu, nhà Dursley. Cụ nói: "Harry Potter, chúc may mắn!"

Phần chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mười năm sau, Harry Potter đang phải chiến đấu với một cuộc sống khổ cực với nhà Dursley. Trong chuyến đi chơi của gia đình nhân dịp sinh nhật của Dudley, Harry được đến thăm vườn thú. Cậu đã vô tình thả một con rắn đồng thời nhốt luôn người anh họ của mình vào trong nhà kính. Harry hoàn toàn không giải thích được điều này, và nói đó như có phép thuật. Dượng Vernon tức giận nhốt cậu vào một căn phòng nhỏ. Vài ngày sau, cậu nhận được bức thư từ trường Hogwarts gửi tới bằng , tuy nhiên lại bị Dudley giật lại. Chủ nhật tuần đó, nhà Dursley có 1 phen chấn động khi hàng ngàn bức thư có nội dung hệt như nhau bay vào nhà bằng mọi hướng, phá tung cả những mảnh gỗ mà dượng Vernon đóng thêm để chặn thư. Để tránh được tối đa phiền phức, ông chuyển nhà đến một căn chòi ở giữa biển, nơi chẳng ai biết đấy là đâu.

Tuy nhiên, Hagrid cuối cùng vẫn tìm được gia đình Dursley vào đêm hôm đó, sinh nhật mười một tuổi của Harry. Dượng Vernon tức giận cầm súng dọa ông, Hagrid bẻ cong nòng khẩu súng của ông chú dượng và trao cho cậu lá thư mà lẽ ra cậu đã đọc được nó từ đầu tuần trước. Đó là lá thư mời Hary Potter nhập học tại trường Phù thuỷ và Pháp sư Hogwarts, và Harry biết được cậu thực ra là một phù thủy, điều mà nhà Dursley không hề mong muốn. Hagrid tự giới thiệu mình là người giữ khóa và lương thực của ngôi trường mà cậu sắp theo học. Bất chấp sự ngăn cản của gia đình, cậu vẫn theo ông đi. Và nơi đầu tiên cậu đến với thế giới phù thủy là Hẻm Xéo. Trước đó cậu được gặp rất nhiều người biết và mến mộ cậu, và thầy Quirinus Quirell.

Sau khi đã mua được nhiều thứ cần thiết cho việc học tập ở Hogwarts bao gồm đồng phục, một con cú cưng có tên Hedwig (món quà sinh nhật của Hagrid) và đặc biệt là một cây đũa phép kì lạ bấy lâu nay đã đợi sẵn cậu đến mua nó, Hagrid nói cho cậu về quá khứ của mình; Harry là con trai của hai pháp sư chết dưới tay của Chúa tể Voldemort, một phù thủy ác độc, đầy quyền lực, bởi một lời nguyền giết người, và Harry là người duy nhất sống sót sau lời nguyền đó, dẫn đến danh tiếng của cậu trong thế giới phù thủy như là "Đứa bé sống sót". Harry sau đó được đưa đến ga King's Cross để lên tàu đến trường. Cậu tìm được đến sân ga 9¾ qua sự giúp đỡ của gia đình Weasley.

Trên tàu, Harry gặp Ron WeasleyHermione Granger. Cậu cũng gặp Draco Malfoy, một đứa trẻ đến từ một gia đình giàu có, người sau này trở thành đối thủ lớn nhất của Harry. Ở trường, các học sinh tập trung tại Đại sảnh, nơi Harry và tất cả các học sinh năm nhất khác được sắp xếp bởi Chiếc nón phân loại vào bốn nhà: Gryffindor, Hufflepuff, RavenclawSlytherin. Harry được phân vào Gryffindor cùng với Ron và Hermione.

Tại Hogwarts, Harry bắt đầu học phép thuật và khám phá thêm về quá khứ và cha mẹ của mình. Harry cũng được chọn vào đội Quidditch của Gryffindor với vai trò là Tầm thủ, điều hiếm gặp đối với học sinh năm nhất. Vào một đêm, Harry và bạn bè của cậu khám phá ra một con chó ba đầu khổng lồ tên là Fluffy trong khu vực bị cấm của trường. Sau đó họ phát hiện ra Fluffy đang bảo vệ Hòn đá Phù thủy, một vật thể có thể cho chủ nhân của nó sự bất tử. Harry nghi ngờ rằng giáo viên Độc dược Severus Snape đang cố gắng có được viên đá để đưa Voldemort trở về hình người. Bọn trẻ biết được từ Hagrid rằng Fluffy sẽ ngủ nếu được nghe nhạc.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được 3 đề cử trong Academy Award: Best Art Direction, Best Costume Design, và Best Original Score chi John Williams.[1] Phim cũng nhận được 7 đề cử trong BAFTA Awards. Bao gồm Best British Film, Best Supporting Actor cho Robbie Coltrane, cũng như giải cho Best Costume Design, Production Design, Makeup and Hair, Sound và Visual Effects.[2] Phim nhận được gỉai Saturn Award cho phần costumes,[3] và được đề cử cho 8 giải khác.[4] Phim giành được giải khác tại won Casting Society of AmericaCostume Designers Guild.[5][6] Phim được đề cử trong AFI Film Award cho special effects,[7]Art Directors Guild Award cho thiết kế sản xuất [8] Phim nhận được giải tại Broadcast Film Critics Award cho Best Live Action Family Film và được đề cử cho Best Child Performance (cho Daniel Radcliffe) và Best Composer (John Williams).[9]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Results Page for Harry Potter and the Sorcerer's Stone – Academy Awards Database”. AMPAS. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ a ă “BAFTA Film Nominations 2001”. British Academy of Film and Television Arts. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Past Saturn Awards”. Academy of Science Fiction, Fantasy & Horror Films. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ a ă “The 2001 Saturn Awards”. MovieWeb. Ngày 13 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ a ă “Artios Award Winners”. Casting Society of America. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ a ă “WINNERS FOR THE 4th ANNUAL COSTUME DESIGNERS GUILD AWARDS”. Costume Designers Guild. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  7. ^ a ă “AFI AWARDS FOR MOTION PICTURES 2001”. American Film Institute. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  8. ^ a ă “6th Annual Excellence in Production Design Awards”. Art Directors Guild. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ a ă “2001 Broadcast Film Critics Choice Award Winners and Nominations”. Broadcast Film Critics Association. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2010. 
  10. ^ “Amanda Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  11. ^ “Awards of the Japanese Academy for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  12. ^ “Bogey Awards for 2001”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  13. ^ “BMI Film & TV Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  14. ^ “Eddie Awards for 2002”. Internet Movie Awards. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  15. ^ “Empire Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ “Evening Standard British Film Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  17. ^ “Golden Reel Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ “Grammy Awards for 2003”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ “2002 Hugo Awards”. The Hugo Awards. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  20. ^ “Kids' Choice Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  21. ^ “MTV Movie Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  22. ^ “PFCS Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  23. ^ 'Shrek,' 'Harry Potter,' 'Lord of the Rings' among producing guild's nominees”. Associated Press. Ngày 11 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  24. ^ “2002 6th Annual SATELLITE Awards”. International Press Academy. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  25. ^ “Sierra Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  26. ^ “Teen Choice Awards for 2002”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  27. ^ “23rd Annual Young Artist Awards 2002”. Young Artist Foundation. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]