Emma Watson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Emma Watson
Emma Watson 2013.jpg
Sinh Emma Charlotte Duerre Watson
15 tháng 4, 1990 (26 tuổi)
Paris, Pháp
Quốc gia Anh Quốc[1]
Học vấn Đại học Brown
Worcester College, Oxford
Công việc
  • Diễn viên
  • người mẫu
  • nhà hoạt động xã hội
Năm hoạt động 1999–nay
Người thân Alex Watson (em trai)

Emma Charlotte Duerre Watson[2] (sinh ngày 15 tháng 4 năm 1990)[3] là nữ diễn viên, người mẫu và nhà hoạt động xã hội người Anh được biết đến nhiều nhất với vai Hermione Granger trong loạt phim Harry Potter chuyển thể điện ảnh từ bộ tiểu thuyết của nhà văn J. K. Rowling.[4]

Trước khi được chọn vào vai Hermione ở tuổi lên 9, Emma chưa từng diễn xuất chuyên nghiệp mà chỉ tham gia một số vở kịch của trường.[5] Từ năm 2001 đến 2009, cô cùng hai bạn diễn Daniel RadcliffeRupert Grint đã đóng trong Harry Potter và Hòn đá Phù thủy, cả ba tiếp tục tham gia các phần còn lại của loạt phim chuyển thể từ tập truyện cuối cùng Harry Potter và Bảo bối Tử thần.[6] Vai Hermione đã đem lại cho Emma một số giải thưởng cùng số tiền hơn 10 triệu bảng Anh.[7]

Trong năm 2007, Emma còn tham gia vào hai dự án ngoài Harry Potter, cô đóng vai chính trong bộ phim truyền hình Ballet Shoes và lồng tiếng cho phim hoạt hình The Tale of Despereaux. Ballet Shoes được phát sóng ngày 26 tháng 12 năm 2007 với lượng khán giả ước tính 5,2 triệu người còn The Tale of Despereaux được công chiếu năm 2008.[8][9]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Emma được sinh ra tại Paris, Pháp. Cô là con gái đầu lòng của hai luật sư người Anh Jacqueline Luesby and Chris Watson.[10][11][12] Emma lớn lên ở Paris cho đến khi lên 5. Sau khi cha mẹ ly dị, cô chuyển về Anh để sống cùng mẹ ở Oxfordshire còn cuối tuần thì đến thăm bố ở London.[10][13]

Emma tiết lộ rằng cô nói được một ít tiếng Pháp dù không còn tốt như trước nữa.[14] Sau khi chuyển đến Oxford với mẹ và em trai, cô tiếp tục học tại trường tư Dragon School, Oxford cho đến năm 2003.[10] Từ năm lên 6 cô đã mơ ước thành diễn viên và tham gia[15] đào tạo tại một trường kịch nghệ bán thời gian là Stagecoach Theatre Arts chi nhánh ở Oxford. Tại đây cô được học hát, khiêu vũ, diễn xuất.[16]

Đến năm lên 10, Emma đã tham gia biểu diễn trong một vài tác phẩm của Stagecoach và các vở kịch tại trường học trong đó có Arthur: The Young YearsThe Happy Prince[17] nhưng chưa từng diễn xuất chuyên nghiệp trước khi tham gia loạt phim Harry Potter. Sau một thời gian học ở Dragon School, Emma chuyển sang trường Headington School, Oxford.[10] Trong thời gian quay phim, cô và các bạn diễn được dạy kèm tới 5 tiếng một ngày.[18] Tháng 6 năm 2006, Emma tham gia kỳ thi tốt nghiệp GCSE với 10 môn học và đạt được 8 điểm A* và 2 điểm A.[10][19]

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Emma tại Liên hoan phim Cannes năm 2013.

Sau khi rời trường học, Emma dành một năm nghỉ ngơi (gap year)[20] để quay phim Harry Potter và Bảo bối Tử thần bắt đầu vào tháng 2 năm 2009[21] nhưng cho biết vẫn dự định theo đuổi việc học.[22]. Sau đó xác nhận đã quyết định chọn học ở Đại học Brown tại Providence, Rhode Island.[23] Tháng 3 năm 2011, sau 18 tháng học đại học, cô tuyên bố sẽ hoãn chương trình học lại 1 hoặc 2 học kì.[24]. Emma theo học tại Worcester College, Oxford trong năm học 2011–12 với vai trò "sinh viên thỉnh giảng".[25]

Emmma chia sẻ trong chương trình của Ellen DeGeneres trước khi tốt nghiệp rằng cô phải mất tới 5 năm thay vì 4 năm do yêu cầu công việc, thành ra mất tới hai học kì đầy đủ.[26]

Ngày 25 tháng 5 năm 2014, cô tốt nghiệp Đại học Brown với bằng cử nhân ngành Văn học Anh.[27]

Năm 2013, cô được chứng nhận về dạy yoga và thiền. Như là một phần của chứng nhận này, cô đã theo học một khóa thiền kéo dài hàng tuần lễ tại một cơ sở ở Canada, tại đây học viên không được phép nói chuyện, để có thể tự khám phá bản thân tại gia.[28][29] She told Elle Australia that an uncertain future meant finding "a way to always feel safe and at home within myself. Because I can never rely on a physical place."[30]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Harry Potter[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, đoàn sản xuất phim Harry Potter và Hòn đá Phù thủy (Harry Potter and the Philosopher's Stone), chuyển thể điện ảnh từ tiểu thuyết ăn khách cùng tên của nhà văn Anh J. K. Rowling bắt đầu quá trình tuyển diễn viên cho bộ phim.[15] Ba vai diễn quan trọng nhất của bộ phim là Harry Potter cùng hai người bạn thân Hermione GrangerRon Weasley. Những người tuyển diễn viên đã phát hiện ra Emma thông qua cô giáo dạy kịch của cô ở Oxford,[15] sự tự tin của cô đã gây ấn tượng với các nhà sản xuất phim. Sau tám tuần tuyển chọn,[31] nhà sản xuất David Heyman tuyên bố đã lựa chọn Emma cùng Daniel RadcliffeRupert Grint cho ba vai Hermione, Harry và Ron. Sau khi xem những đoạn diễn thử đầu tiên của Emma, nhà văn Rowling đã bộc lộ sự ủng hộ với cô bé 9 tuổi.[15]

Harry Potter và Hòn đá Phù thủy (công chiếu năm 2001) là tác phẩm điện ảnh đầu tiên mà Emma Watson tham gia. Bộ phim đã phá kỉ lục về doanh thu ngày mở màn và tuần mở màn đồng thời trở thành phim ăn khách nhất năm 2001.[32][33] Diễn xuất của ba diễn viên chính đã được các nhà phê bình khen ngợi đặc biệt là Emma, tờ The Daily Telegraph đánh giá diễn xuất của cô là "tuyệt vời" ("admirable")[34] còn trang IGN cũng cho rằng cô đã chiếm lĩnh được màn ảnh ("stole the show").[35] Với vai Hermione Granger, Emma đã nhận được 5 đề cử ở các giải thưởng khác nhau trong đó cô đã được trao Young Artist Award ở hạng mục Diễn viên nữ trẻ xuất sắc nhất ở vai chính.[36]

Một năm sau bộ phim đầu tay, Emma Watson tiếp tục vào vai Hermione trong phần tiếp theo của loạt Harry Potter với tựa đề Harry Potter và Phòng chứa Bí mật (Harry Potter and the Chamber of Secrets) chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên. Tuy bộ phim không được đánh giá cao như phần đầu nhưng diễn xuất của dàn diễn viên chính vẫn được báo chí khen ngợi. Tờ Los Angeles Times cho rằng Emma và các bạn của cô đã trưởng thành theo thời gian,[37] tờ The Times thậm chí còn chỉ trích đạo diễn Chris Columbus vì đã không khai thác được hết nhân vật của Emma.[38] Với vai diễn trong Harry Potter và Phòng chứa Bí mật, Emma đã được tạp chí Đức Bravo trao giải Otto Award.[39]

Emma Watson kí tặng người hâm mộ bên ngoài Grauman's Chinese Theatre vào năm 2007

Năm 2004, Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban (Harry Potter and the Prisoner of Azkaban), phần thứ ba của loạt phim Harry Potter được công chiếu. Ở lần thứ ba tham gia diễn xuất, Emma tiếp tục được đánh giá cao trong vai cô bé Hermione quyết đoán, vai diễn của Emma được đánh giá là có sức lôi cuốn và là một vai diễn tuyệt vời cho các diễn viên.[40] Nếu như vai Harry Potter của Radcliffe gặp phải sự chỉ trích từ giới phê bình thì Emma tiếp tục được các báo khen ngợi, tờ The New York Times nhận xét rằng sự nhạt nhẽo của Radcliffe đã may mắn được bù đắp bởi diễn xuất sôi nổi của Emma đặc biệt là cảnh phim cô bé đấm vào mũi Draco Malfoy thay vì sử dụng pháp thuật.[41] Tính đến năm 2009 Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban vẫn là phần có doanh thu thấp nhất trong loạt Harry Potter, tuy vậy vai diễn của Emma Watson trong bộ phim này vẫn đem lại cho cô hai giải diễn xuất Otto Awards và Child Performance of the Year (Diễn xuất thiếu nhi của năm) của tờ Total Film.[42][43][44]

Tập tiếp theo của loạt phim với tựa đề Harry Potter và Chiếc cốc lửa (Harry Potter and the Goblet of Fire, 2005) là một thành công lớn về thương mại khi bộ phim phá kỉ lục về doanh thu cuối tuần đầu tiên công chiếu của loạt Harry Potter và kỉ lục về doanh thu cuối tuần đầu tiên công chiếu ở Anh. Sự trưởng thành của Emma và các bạn diễn đã được giới phê bình khen ngợi, tờ New York Times đánh giá vai diễn của cô đứng đắn một cách cảm động ("touchingly earnest").[45] Theo Emma thì sự hài hước của tập phim này đến từ những xung đột ở tuổi mới lớn của ba nhân vật chính, cô nói: "Tôi yêu thích tất cả những cuộc tranh luận... Tôi cho rằng bộ phim sẽ thật hơn rất nhiều nếu các nhân vật tranh cãi và gặp rắc rối."[46][47] Được đề cử ở ba giải thưởng cho vai Hermione, Emma đã giành giải Otto Award Đồng.[48][49][50] Cuối năm 2005, cô trở thành người trẻ tuổi nhất xuất hiện trên bìa của tạp chí Teen Vogue.[51] Năm 2006, Emma vào vai Hermione trong tập phim ngắn đặc biệt của loạt Harry Potter có tựa đề The Queen's Handbag để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Nữ hoàng Elizabeth II.[52]

Emma Watson tại buổi ra mắt phim Harry Potter và Hoàng tử lai.

Tập phim thứ năm của Harry Potter có tựa đề Harry Potter và Hội Phượng Hoàng (Harry Potter and the Order of the Phoenix) được công chiếu năm 2007. Tiếp tục là một thành công lớn về mặt thương mại, bộ phim đã phá kỉ lục doanh thu cuối tuần đầu tiên trên thế giới với 332,7 triệu đô la Mỹ.[53] Emma được trao giải National Movie Award lần thứ nhất ở hạng mục Vai nữ chính xuất sắc nhất.[54] Bộ ba Watson-Radcliff-Grint trở nên nổi tiếng tới mức họ được mời in dấu tay, dấy chân và dấu đũa thần lên vỉa hè của Grauman's Chinese TheaterHollywood vào ngày 9 tháng 7 năm 2007.[55] Tuy các tập phim Harry Potter liên tiếp thành công về doanh thu, tương lai của loạt phim lại bị đặt dấu hỏi khi cả ba diễn viên chính đều do dự trong việc tiếp tục vai diễn của họ trong hai tập cuối của Harry Potter.[56] Cuối cùng vào ngày 2 tháng 3 năm 2007 Radcliffe đã đồng ý kí nốt hợp đồng 2 tập phim cuối,[56] mặc dù vậy Emma thậm chí còn tỏ ra do dự hơn.[57] Cô giải thích rằng đó là một quyết định quan trọng vì để tham gia hai tập phim cuối cô sẽ phải gắn bó thêm 4 năm với quá trình làm phim nhưng rồi Emma thừa nhận rằng cô không thể rời bỏ vai Hermione[58] và đồng ý kí tiếp hợp đồng vào ngày 23 tháng 3 năm 2007.[59] Để đổi lại, Emma Watson được trả gấp đôi cho những tập phim cuối lên 2 triệu bảng Anh mỗi phim,[60] cô kết luận rằng cuối cùng thì việc tham gia phim vẫn có nhiều lợi hơn là hại.[61]

Quá trình quay Harry Potter và Hoàng tử lai (Harry Potter and the Half-Blood Prince), tập thứ sáu của loạt phim, được bắt đầu từ cuối năm 2007 trong đó các cảnh phim có sự tham gia của Emma được quay từ ngày 18 tháng 12 tới ngày 17 tháng 5 năm 2008.[62][63] Bộ phim được dự kiến công chiếu chính thức ngày 15 tháng 7 năm 2009.[64]

Trước khi tập thứ sáu Harry Potter được công chiếu thì tập thứ bảy, Harry Potter và Bảo bối Tử thần (Harry Potter and the Deathly Hallows) đã được khởi động vào ngày 18 tháng 2 năm 2009.[65] Vì lý do tài chính và kịch bản, tập cuối cùng của loạt phim được chia thành hai phần quay liền nhau,[21][66] chúng được dự kiến công chiếu vào tháng 11 năm 2010 và tháng 7 năm 2011.[67]

Dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vai diễn đầu tiên của Emma Watson không thuộc loạt Harry Potter là trong bộ phim truyền hình Ballet Shoes (2007).[68] Theo Emma thì mặc dù đã dự định quay trở lại trường học ngay sau khi hoàn thành Harry Potter và Hội Phượng hoàng nhưng cô không thể cưỡng lại vai diễn trong Ballet Shoes vì Emma thực sự yêu thích nó.[69] Đây là một chuyển thể truyền hình của đài BBC từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Noel Streatfeild trong đó vai của Emma Watson là nữ diễn viên Pauline Fossil, chị cả của ba chị em nhân vật chính.[70] Theo đạo diễn bộ phim là Sandra Goldbacher thì Emma Watson là lựa chọn hoàn hảo cho vai diễn, ở cô toát lên sự sâu sắc và tinh tế khiến mọi người phải ngắm nhìn.[69] Ballet Shoes được đài BBC phát tại Anh vào đúng dịp Boxing Day năm 2007 với lượng khán giả theo dõi ước tính khoảng 5,2 triệu (chiếm 22% tổng lượng khán giả truyền hình).[71][72] Sau khi phát sóng tác phẩm này không nhận được đánh giá cao từ giới phê bình, tờ The Times cho rằng Ballet Shoes chỉ là một bộ phim không có điểm nhấn.[73][74] Tuy vậy diễn xuất của dàn diễn viên trong đó có Emma vẫn nhận được những đánh giá tích cực từ báo giới.[75]

Ngoài vai diễn trong Ballet Shoes, Emma còn tham gia lồng tiếng cho nhân vật Công chúa Pea trong bộ phim hoạt hình The Tale of Despereaux, một tác phẩm có sự tham gia của Matthew BroderickTracey Ullman được công chiếu tháng 12 năm 2008.[8]

Các hoạt động điện ảnh và truyền thông khác được Emma Watson hạn chế vì cô muốn ưu tiên cho hoàn thành chương trình học phổ thông.[22] Vào tháng 4 năm 2008 xuất hiện thông tin cho rằng Emma có liên quan tới vai diễn 'Betsy' Bonaparte trong dự án phim Napoleon and Betsy,[76][77] tuy nhiên cho đến năm 2009 thì dự án này vẫn chưa được triển khai.[78] Một thông tin khác dự đoán Emma sẽ trở thành gương mặt thay thế cho nữ diễn viên Keira Knightley trong vai trò đại diện cho hãng thời trang Chanel, tin này sau đó đã bị cả nữ diễn viên và hãng thời trang Pháp bác bỏ mặc dù tờ The Daily Mail cho rằng hợp đồng này đã được hoàn tất.[79][80] Tháng 4 năm 2009 trên báo chí lại rộ lên một thông tin tương tự về việc Emma trở thành đại diện cho hãng thời trang Burberry,[81] lần này thì hợp đồng chính thức được công nhận vào ngày 9 tháng 6 năm 2009[82] theo đó Emma sẽ tham gia trình diễn mốt cho bộ sưu tập Thu/Đông 2009 của Burberry với khoản thù lao ước tính 6 con số.[83] Bản thân Emma cũng dần bộc lộ sự quan tâm tới thời trang, cô cho rằng lĩnh vực này rất gần gũi với lĩnh vực nghệ thuật mà cô được học ở trường.[84]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Emma gặp gỡ và hẹn hò với Will Adamowicz, người bạn cùng học tại trường Oxford năm 2011 trong thời gian học năm đầu tại đây.[85] Cả hai từng sánh vai tới lễ trao giải 2013 MTV Movie Awards và Emma đã nhận được giải Trailblazer Award.[86] Cặp đôi chia tay vào đầu năm 2014.[87] Cuối năm 2014, Emma bắt đầu hẹn hò với cầu thủ bóng chày Oxford là Matthew Janney.[88] Mối quan hệ đã chấm dứt trong tháng 11 cùng năm do lịch làm việc quá bận rộn của Emmma.[89]

Trong thời gian quay phim điện ảnh Noah, Emma đã trả lời khi được hỏi về đức tin của mình và đã trả lời rằng mình là người theo thuyết phổ độ tinh thần.[90]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
2001 Harry Potter và Hòn đá Phù thủy Hermione Granger
2002 Harry Potter và Phòng chứa Bí mật
2004 Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban
2005 Harry Potter và Chiếc cốc lửa
2007 Harry Potter và Hội Phượng Hoàng
Ballet Shoes Pauline Fossil Phim truyền hình
2008 The Tale of Despereaux Công chúa Pea Lồng tiếng
2009 Harry Potter và Hoàng tử lai Hermione Granger
2010 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 1
2011 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 2
2011 My Week with Marilyn Lucy
2012 Perks of Being a Wallflower, TheThe Perks of Being a Wallflower Sam
2013 This Is the End Herself
2013 Bling Ring, TheThe Bling Ring Nicki Moore
2014 Noah Ila
2015 The Vicar of Dibley Reverend Iris Tập: "The Bishop of Dibley"[91]
2015 Regression Angela Gray
2015 Colonia Lena
2016 The Circle Mae Holland Đang quay[92]
2017 Beauty and the Beast Belle Đang sản xuất[93]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tổ chức Giải thưởng Phim Kết quả
2002 Young Artist Award Vai nữ chính xuất sắc nhất trong phim điện ảnh Harry Potter và Hòn đá Phù thủy Giành giải[36]
Academy of Science Fiction, Fantasy & Horror Films Giải Saturn Đề cử[94]
Empire Empire Award Đề cử[95]
American Moviegoer Awards Vai nữ phụ xuất sắc nhất Đề cử[96]
Young Artist Awards Dàn diễn viên xuất sắc nhất Đề cử[36]
2003 Otto Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất (Bạc) Harry Potter và Phòng chứa Bí mật Giành giải[39]
2004 Otto Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất (Bạc) Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban Giành giải[42]
Total Film Vai thiếu nhi của năm Giành giải[44]
Broadcast Film Critics Association Nữ diễn viên trẻ xuất sắc nhất Đề cử[97]
2005 Otto Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất (Vàng) Giành giải[43]
Broadcast Film Critics Association Nữ diễn viên trẻ xuất sắc nhất Harry Potter và Chiếc cốc lửa Đề cử[49]
2006 Otto Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất (Đồng) Giành giải[48]
MTV Movie Awards Best On-Screen Team Đề cử[50]
2007 National Movie Awards Vai nữ xuất sắc nhất Harry Potter và Hội Phượng Hoàng Giành giải[54]
Nickelodeon Kids' Choice Awards của Anh Nữ diễn viên xuất sắc nhất Giành giải[98]
2008 UK Sony Ericsson Empire Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất Đề cử[99]
Constellation Award Vai nữ xuất sắc nhất Giành giải[100]
Otto Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất (Vàng) Giành giải[101]
SyFy Genre Awards Diễn viên nữ xuất sắc nhất Giành giải[102]
Glamour Awards Nữ diễn viên truyền hình Anh xuất sắc nhất Ballet Shoes Đề cử[103]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Check If You're a British Citizen”. United Kingdoms Government. UK Government Digital Service. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014. 
  2. ^ “Emma Watson”. Late Show with David Letterman. Tập 3145. Ngày 8 tháng 7 năm 2009. CBS. 
  3. ^ Walker, Tim (ngày 29 tháng 9 năm 2012). “Emma Watson: Is there Life After Hermione?”. The Independent. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008. 
  4. ^ Kehr, Dave. “Emma Watson”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ “Emma Watson”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008. 
  6. ^ “Daniel Radcliffe, Rupert Grint and Emma Watson to Reprise Roles in the Final Two Installments of Warner Bros. Pictures' Harry Potter Film Franchise” (Thông cáo báo chí). Warner Bros. Ngày 23 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2007. 
  7. ^ Stenzhorn, Stefan (ngày 27 tháng 7 năm 2007). “Potter star Watson "rich enough to retire". RTÉ.ie Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2007. 
  8. ^ a ă Watson, Emma. “Trang web chính thức của Emma Watson”. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007. 
  9. ^ Gould, Lara (ngày 5 tháng 8 năm 2006). “Hermione Set for BBC Role”. The Sunday Mirror. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007. 
  10. ^ a ă â b c “Life & Emma”. Official website. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  11. ^ “Warner Bros. Official site”. Adobe Flash. harrypotter.warnerbros.co.uk. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2006(click appropriate actor's image, click "Actor Bio") 
  12. ^ Barlow, Helen. “A life after Harry Potter”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2006. 
  13. ^ Self, Will (ngày 17 tháng 8 năm 2012). “Emma Watson, The Graduate”. The New York Times. 
  14. ^ “Q&A with Emma Watson – The Hour Publishing Company: Entertainment News”. Thehour.com. Ngày 18 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2014. 
  15. ^ a ă â b Watson, Emma. “Emma”. Emma Watson's Official Website. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “emmaemma” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  16. ^ Reece, Damian (ngày 4 tháng 11 năm 2001). “Harry Potter drama school to float”. The Daily Telegraph (UK). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ Watson, Emma. “Emma & Screen”. Official Website. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  18. ^ Muir, Kate (ngày 15 tháng 5 năm 2004). “Cast Interviews”. The Times (UK). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008. 
  19. ^ “Pupils 'sitting too many GCSEs'. BBC News. Ngày 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  20. ^ Tibbetts, Graham (ngày 14 tháng 8 năm 2008). “A-levels: Harry Potter actress Emma Watson gets straight As”. The Daily Telegraph (UK). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008. 
  21. ^ a ă Olly Richards (ngày 14 tháng 3 năm 2008). “Potter Producer Talks Deathly Hallows”. Empire. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008. 
  22. ^ a ă Long, Camilla (ngày 7 tháng 12 năm 2008). “What next in life for Emma Watson”. The Times (UK). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008. 
  23. ^ Ford, James (ngày 14 tháng 7 năm 2009). “Catching up with Emma Watson”. Paste (magazine). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009. 
  24. ^ “Message from Emma”. Emma Watson Official. Ngày 7 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  25. ^ “Harry Potter Star Emma Watson begins her year at Oxford University!”. Oxford Royale Academy. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  26. ^ “Interview”. Ellen (video posted to official YouTube channel). Ngày 24 tháng 3 năm 2014. Sự kiện xảy ra vào lúc 02:12–02:58. Syndicated. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  27. ^ “Emma Watson Graduates from Brown University”. The Telegraph (UK). Ngày 25 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  28. ^ Adams, Char (ngày 7 tháng 8 năm 2015). “Emma Watson Reveals She Took a Weeklong Vow of Silence After 'Horrendous' Split from Matt Janney”. People. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015. 
  29. ^ Watson, Emma [EmWatson] (ngày 9 tháng 10 năm 2015). “The week long meditation...” (Tweet). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2015. 
  30. ^ “Why Emma Watson Became a Certified Yoga Instructor”. ABC News. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  31. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên jonathanross
  32. ^ "Harry Potter" magically shatters records”. Hollywood.com. Ngày 18 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2007. 
  33. ^ . Box Office Mojo Worldwide Grosses http://web.archive.org/web/20130113154847/http://www.boxofficemojo.com/yearly/chart/?view2=worldwide Worldwide Grosses. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  34. ^ “Magic is the only word for it”. The Daily Telegraph. Ngày 4 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  35. ^ Linder, Brian (ngày 17 tháng 11 năm 2001). “Review of Harry Potter and the Sorcerer's Stone”. IGN. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  36. ^ a ă â “2002 nominations and winners”. Young Artist's Awards. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  37. ^ Kenneth Turan (ngày 15 tháng 11 năm 2002). “Harry Potter and the Chamber of Secrets”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007. 
  38. ^ Ellen, Barbara (ngày 14 tháng 11 năm 2002). “Film of the week”. The Times. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  39. ^ a ă “Bravo Otto – Sieger 2003” (bằng tiếng Đức). Bravo. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  40. ^ Trout, Jonathon (ngày 1 tháng 6 năm 2004). “Daniel Radcliffe, Rupert Grint, Emma Watson”. BBC. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007. 
  41. ^ A. O. Scott (ngày 3 tháng 6 năm 2004). “Harry Potter and the Prisoner of Azkaban: Film review”. The New York Times. 
  42. ^ a ă “Dan Wins Another Otto Award”. DanRadcliffe.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  43. ^ a ă “Bravo Otto Awards 2005” (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Đức). Presseportal.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  44. ^ a ă “Emma Watson wins award”. HPANA. 4 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  45. ^ Dargis, Manohla (ngày 17 tháng 11 năm 2005). “The Young Wizard puts away childish things”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  46. ^ Nguyên văn: "I loved all the arguing... I think it's much more realistic that they would argue and that there would be problems."
  47. ^ “Daniel Radcliffe, Emma Watson and Rupert Grint”. IGN. Ngày 15 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007. 
  48. ^ a ă “Dan & Emma win Bravo Otto awards”. HPANA. Ngày 8 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  49. ^ a ă “Goblet of Fire awards”. Broadcast Film Critics Association. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  50. ^ a ă Carroll, Larry (ngày 24 tháng 4 năm 2006). “Alba, Carell, 'Crashers,' 'Virgin' Big Nominees For MTV Movie Awards”. MTV. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  51. ^ Horn, Steven (ngày 26 tháng 6 năm 2007). “Interview with Emma Watson”. IGN. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  52. ^ “New Harry Potter scene for queen”. BBC News. Ngày 12 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007. 
  53. ^ “All Time worldwide opening records”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  54. ^ a ă Pryor, Fiona (ngày 28 tháng 9 năm 2007). “Potter wins film awards hat-trick”. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007. 
  55. ^ “Stardom fades, but cement lives on”. The Toronto Star. Ngày 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008. 
  56. ^ a ă “Harry Potter Will Be Played By Daniel Radcliffe In Final Two Flicks”. MTV.com. Ngày 2 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  57. ^ “Will Harry Potter lose one of its stars?”. Newsweek. Ngày 2 tháng 10 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007. 
  58. ^ “Hermione is back”. news.com.au. Ngày 25 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  59. ^ Edidin, Peter (ngày 24 tháng 3 năm 2007). “Gang's all here”. New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  60. ^ Boshoff, Alison (ngày 12 tháng 7 năm 2007). “Worth £8m and preparing to be the face of Chanel, Emma Watson is a girl with a magic touch”. The Daily Mail. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  61. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên parade
  62. ^ Watson, Emma (ngày 28 tháng 11 năm 2007). “Ballet Shoes interviews”. Trang web chính thức của Emma Watson news. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  63. ^ Watson, Emma (ngày 22 tháng 5 năm 2008). Trang web chính thức của Emma Watson news Shoes interviews http://web.archive.org/web/20100412152204/http://www.emmawatsonofficial.com:80/ Shoes interviews.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  64. ^ 'HJarry Potter' sweeps into theaters 2 days early”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  65. ^ Watson, Emma (ngày 17 tháng 2 năm 2009). Trang web chính thức của Emma Watson begins http://web.archive.org/web/20100412152204/http://www.emmawatsonofficial.com:80/ begins.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  66. ^ Jack Malvern (ngày 14 tháng 3 năm 2008). “Longer spell at box office for Harry Potter”. The Times. 
  67. ^ “Final 'Harry Potter' book will be split into two movies”. The Los Angeles Times. Ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008. 
  68. ^ Warman, Matt (ngày 21 tháng 12 năm 2007). “Dancing towards their dreams”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008. 
  69. ^ a ă “A Christmas treat for all the family” (Thông cáo báo chí). BBC. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  70. ^ Pielou, Adriaane (ngày 26 tháng 12 năm 2007). Ballet Shoes saw me through”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  71. ^ “BBC One Transmission Details, weeks 52/1” (Thông cáo báo chí). BBC. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  72. ^ Tryhorn, Chris (ngày 27 tháng 12 năm 2006). “Viewers sold on Old Curiosity Shop”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  73. ^ Wollaston, Sam (ngày 27 tháng 12 năm 2007). “Last Night's TV”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  74. ^ Teeman, Tim (ngày 27 tháng 12 năm 2007). “Last Night's TV”. The Times. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  75. ^ Walton, James (ngày 27 tháng 12 năm 2007). “Ballet Shoes”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008. 
  76. ^ “Emma Watson in Napoleon and Betsy. Empire Movies. Ngày 18 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  77. ^ “Harry Potter's Emma Watson to play Napoleon's lover”. The Daily Mirror. Ngày 19 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  78. ^ Watson, Emma. “Trang web chính thức của Emma Watson”. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2008. 
  79. ^ Neate, Rupert (ngày 19 tháng 6 năm 2008). “Chanel: 'No contract' for Harry Potter's Emma Watson”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  80. ^ Kay, Nathan (ngày 15 tháng 6 năm 2008). “Chanel casts a £3million spell on Mademoiselle Hermione”. The Daily Mail. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  81. ^ Nicholl, Kate (ngày 12 tháng 4 năm 2009). “That’s magic – Potter star Emma Watson makes her competition vanish”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  82. ^ . Trang web chính thức của Emma Watson. Ngày 9 tháng 6 năm 2009 new girl! http://web.archive.org/web/20100412152204/http://www.emmawatsonofficial.com:80/ new girl!. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2009.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  83. ^ Craik, Laura (ngày 9 tháng 6 năm 2009). “Harry Potter star Emma Watson charms Burberry”. The Evening Standard. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2009. 
  84. ^ “Emma Watson's Other Options”. Teen Vogue. Ngày 18 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  85. ^ Mendoza, Nadia (ngày 15 tháng 4 năm 2012). “Emma Watson and New Boyfriend Will Adamowicz Pictured Kissing...”. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  86. ^ Sheridan, Emily (ngày 24 tháng 6 năm 2013). “Emma Watson Is Reunited with Boyfriend Will Adamowicz...”. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  87. ^ Longeretta, Emily (ngày 6 tháng 1 năm 2014). “Will Adamowicz and Emma Watson Break Up”. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  88. ^ Wilson, Jess (ngày 8 tháng 9 năm 2014). “Emma Watson Gets Her Hands Dirty Lifting Boxes As She Prepares to Move In with Boyfriend Matt Janney”. Mirror Online (photo credit: vantagenews.co.uk). Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014. 
  89. ^ Bamigboye, Baz (ngày 11 tháng 12 năm 2014). “Emma Watson and Rugby Star Boyfriend Break Up”. Daily Mail. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  90. ^ “Emma Watson is a spiritual Universalist who believes in a higher power | Huffington Post”. huffingtonpost.com. Ngày 24 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. I already, before I did Noah, had a sense that I was someone that was more spiritual, than specifically religious. I had a sense that I believed in a higher power, but that I was more of a Universalist, I see that there are these unifying tenets between so many religions. 
  91. ^ The Vicar of Dibley – Comic Relief Special: The Bishop of Dibley”. British Comedy Guide. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  92. ^ Whiteman, Bobbie (ngày 7 tháng 9 năm 2015). “She's in The Circle! Emma Watson dons black leather as she jets in to LAX to co-star with Tom Hanks in his new sci-fi drama”. Daily mail. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  93. ^ Hayden, Erik (ngày 26 tháng 1 năm 2015). “Emma Watson Cast in Disney's Live-Action 'Beauty and the Beast'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015. 
  94. ^ “2002 Saturn Awards”. IMDB. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  95. ^ “2002 Empire Awards”. IMDB. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  96. ^ “American Moviegoer Award nominations”. Time Warner. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  97. ^ “Prisoner of Azkaban awards”. Broadcast Film Critics Association. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  98. ^ Akers, Shelley (ngày 20 tháng 10 năm 2007). “Emma Watson Is Named Nickelodeon's Best Actress”. People. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2007. 
  99. ^ “Six Nominations for "Order of the Phoenix" at Empire Awards”. The Leaky Cauldron. Ngày 3 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008. 
  100. ^ “Will Smith, Emma Watson & "Transformers" Win Canadian Film/TV Awards”. marketwire. 2008. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. 
  101. ^ “Dan and Emma won Otto Awards”. Bravo Germany. 2008. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2008. 
  102. ^ 'Battlestar Galactica' Leads Way With 11 SyFy Genre Awards Nods”. SyFy Portal. 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2008. 
  103. ^ “Emma Watson Nominated for Glamour Awards”. The Leaky Cauldron. Ngày 11 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]