Sam Mendes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sam Mendes
CBE
Sam Mendes, Charlie and the Chocolate Factory, 2013.jpg
Mendes ở London tại đêm mở màn nhạc kịch Charlie and the Chocolate Factory the Musical năm 2013.
Sinh Samuel Alexander Mendes
1 tháng 8, 1965 (52 tuổi)
Reading, Berkshire, Anh
Học vị MA, tiếng Anh
Học vấn Peterhouse, Đại học Cambridge
Trường Cao đẳng Magdalen
Nghề nghiệp Đạo diễn điện ảnh và sân khấu
Năm hoạt động 1993–nay
Phối ngẫu Kate Winslet (kết hôn 2003–2010) «start: (2003)–2010 (2010-end+1:)»"Hôn nhân: Kate Winslet đến Sam Mendes" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Sam_Mendes)
Con cái 1

Samuel Alexander "Sam" Mendes, CBE (sinh ngày 1 tháng 8 năm 1965)[1] là một đạo diễn điện ảnh và sân khấu người Anh. Anh được biết đến nhiều nhất với vai trò đạo diễn của bộ phim điện ảnh hài-chính kịch Vẻ đẹp Mỹ (1999), bộ phim đã giúp cho anh giành được Giải OscarGiải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất, phim hình sự Đường đến diệt vong (2002), và hai bộ phim Tử địa Skyfall (2012) và Ma (2015) nằm trong loạt phim James Bond. Anh cũng được biết đến với việc tái hiện lại các nhạc kịch sân khấu như Cabaret (1994), Oliver! (1994), Company (1996), và Gypsy (2003).

Năm 2000, Mendes được phong tặng Huân chương của Đế quốc Anh (Order of the British Empire), hạng Commander (hạng 3 trong 5 hạng của huân chương) bởi Nữ hoàng Elizabeth II cho "những cống hiến cho kịch nghệ" và cùng năm đó anh được trao tặng Giải Shakespeare bởi tổ chức Alfred Toepfer Foundation tại Hamburg, Đức. Năm 2005, Mendes được trao tặng Giải của Hiệp hội đạo diễn đảo Anh.[2][3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mendes được sinh ra tại Reading, Berkshire, là con trai duy nhất của Valerie Helene (née Barnett), một nhà văn viết sách thiếu nhi, và Jameson Peter Mendes, một giáo sư đại học.[1][4] Cha của anh, người đến từ Trinidad, là một người gốc Bồ Đào NhaÝ,[5] còn mẹ anh thì lại là một người Do Thái Anh.[6] Ông nội của anh là nhà văn người Trinidad Alfred Hubert Mendes.[4][5]

Cha mẹ của Mendes li thân từ khi anh còn nhỏ. Anh lớn lên tại Oxfordshire và học tại Trường Cao đẳng MagdalenPeterhouse, Cambridge.[4][7][8] Khi học tại Đại học Cambridge, anh là một thành viên của câu lạc bộ The Marlowe Society và tham gia đạo diễn khá nhiều vở kịch, bao gồm cả việc sản xuất cho Cyrano de Bergerac, vở kịch với sự tham gia diễn xuất của Tom Hollander.[9] Anh ngoài ra cũng là một học sinh chơi cricket tài giỏi, theo cuốn Wisden Cricketers' Almanack, và đã từng chơi cho Trường Cao đẳng Magdalen trong năm 1983 và 1984.[10] Mendes cũng chơi cricket cho Đại học Cambridge.[11]

Ở tuổi 24, Mendes tham gia đạo diễn sản xuất cho vở The Cherry Orchard của Chekhov tại Nhà hát West End với sự tham gia của Judi Dench.[12] Nhanh chóng sau đó anh gia nhập công ty Royal Shakespeare Company, nơi anh tạo ra nhiều sản phẩm, với hầu hết trong số đó đều có sự tham gia của Simon Russell Beale, trong đó có Troilus and Cressida, Richard IIIGiông tố.

Anh cũng làm việc tại Chichester Festival Theatre năm 1988 với vai trò trợ lý đạo diễn cho nhiều sản phẩm, bao gồm Major Barbara. Sau đó anh làm đạo diễn tại Royal National Theatre, thực hiện The Sea của Edward Bond, The Rise and Fall of Little Voice của Jim Cartwright, The Birthday Party của Harold Pinter, và Othello với Simon Russell Beale trong vai Iago.

Cuộc sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Mendes kết hôn với nữ diễn viên người Anh Kate Winslet vào tháng 5 năm 2003 trong một kỳ nghỉ tại Anguilla.[13] Trước đó anh đã từng hẹn hò với Rachel WeiszCalista Flockhart.[14]

Mendes gặp Winslet vào năm 2001 khi Mendes đang thuyết phục Winslet tham gia vào một vở kịch tại Nhà hát Donmar Warehouse mà trong đó anh đóng vai trò làm đạo diễn mỹ thuật.[15] Con trai của họ được sinh ra vào ngày 22 tháng 12 năm 2003.[13] Mendes ngoài ra cũng có một người con gái khác là Mia từ cuộc hôn nhân đầu tiên của Winslet với nhà làm phim Jim Threapleton.[15] Người đại diện của cặp đôi thông báo vào ngày 15 tháng 3 năm 2010 rằng "họ đã chia tay vào đầu năm nay."[13] Sau khi li hôn, Mendes bắt đầu mối quan hệ mới với nữ diễn viên Rebecca Hall.[16]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò Đề cử Oscar Chiến thắng Oscar Đề cử BAFTA Chiến thắng BAFTA Đề cử Quả cầu vàng Chiến thắng Quả cầu vàng
Đạo diễn Sản xuất Đạo diễn
điều hành
1999 Vẻ đẹp Mỹ 8 5 14 6 6 3
2002 Đường đến diệt vong 6 1 3 2 1
2005 Lính thủy đánh bộ
2006 Starter for 10
2007 Stuart: A Life Backwards
Things We Lost in the Fire
Người đua diều 1 2
2008 Khát vọng tình yêu 3 4 4 1
2009 Đường chúng ta đi
2012 Tiếng gọi người nữ hộ sinh
Richard II
Henry IV, Part I
Henry IV, Part II
Henry V
Tử địa Skyfall 5 2 8 2 1 1
2015 Ma
Tổng 15 7 10 1 22 8 29 10 12 5

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Phim hoặc kịch Kết quả
1989 Giải thưởng Sân khấu của Hiệp hội phê bình cho Nhân vật mới hứa hẹn nhất The Cherry Orchard Đoạt giải
1995 Giải thưởng Sân khấu của Hiệp hội phê bình cho Đạo diễn xuất sắc nhất The Glass Menagerie Đoạt giải
Giải Laurence Olivier cho Đạo diễn xuất sắc nhất Đoạt giải
1996 Giải Laurence Olivier cho Đạo diễn xuất sắc nhất Company Đoạt giải
1998 Giải Tony cho Hướng đi xuất sắc nhất cho một vở nhạc kịch Cabaret Đề cử
1999 Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất Vẻ đẹp Mỹ Đoạt giải
Giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải của Hiệp hội đạo diễn Mỹ cho Đạo diễn đột phá – Phim điện ảnh Đoạt giải
2002 Giải thưởng Sân khấu của Hiệp hội phê bình cho Đạo diễn xuất sắc nhất Uncle VanyaTwelfth Night Đoạt giải
2003 Giải Laurence Olivier cho Đạo diễn xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải thưởng đặc biệt của Đoàn thể Sân khấu London Đoạt giải
2008 Giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất Đường đến diệt vong Đề cử
2012 Giải Sao Mộc cho Phim quốc tế hay nhất Tử địa Skyfall Đoạt giải
2013 Giải Empire cho Đạo diễn xuất sắc nhất Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Sam Mendes Biography”. FilmReference.com. 2008. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
  2. ^ "Sam Mendes gets directing honour". BBC. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012
  3. ^ “Caine heads birthday honours list”. BBC Online. Ngày 17 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  4. ^ a ă â “Can Kate tame Sam?”. dailymail.co.uk. Ngày 20 tháng 11 năm 2001. 
  5. ^ a ă The Autobiography of Alfred H. Mendes 1897-1991, p. 112-114
  6. ^ Wood, Gaby (ngày 14 tháng 12 năm 2008). “How Sam became The Man”. The Guardian (London). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2010. 
  7. ^ Sutcliffe, Thomas (ngày 20 tháng 1 năm 2000). “Sam Mendes: don't you just hate the guy?”. The Independent (UK). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  8. ^ Eminent Petreans
  9. ^ "About The Marlowe". Cambridge University Marlowe Society. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012
  10. ^ “Never a famous cricketer”. ESPNCricinfo. 25 tháng 11 năm 4018. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  11. ^ “Profile: Kate Winslet and Sam Mendes”. BBC News. Ngày 15 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  12. ^ "Profile: Sam Mendes, director of Skyfall - the 23rd James Bond film". BBC. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2013
  13. ^ a ă â Brooks, Xan (ngày 15 tháng 3 năm 2010). “Kate Winslet and Sam Mendes separate after seven years of marriage”. The Guardian (London). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2010. 
  14. ^ “The Tatler List”. Tatler. 
  15. ^ a ă Diane Solway (tháng 1 năm 2009). “Scenes from a Marriage”. W. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ “Rebecca Hall on her film career so far: ‘I’ve played too many repressed neurotics’”. The Independent. Ngày 19 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  17. ^ Simon Russell Beale and Sam Mendes Reunited for King Lear at National's Olivier Theatre; Further Casting and Dates Also Announced

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Marc Forster
2008
Đạo diễn điện ảnh chính thức
của James Bond

2012 -
Kế nhiệm:
'