Bong Joon-ho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Bong.
Bong Joon-ho
봉준호
Okja Japan Premiere- Bong Joon-ho (37867629864).jpg
Bong Joon-ho tại buổi chiếu ra mắt phim Okja vào năm 2017 tại Nhật Bản
Sinh14 tháng 9, 1969 (52 tuổi)
Daegu, Hàn Quốc Hàn Quốc
Quốc tịchHàn Quốc Hàn Quốc
Dân tộcNgười Hàn Quốc
Trường lớpĐại học Yonsei - chuyên ngành Xã hội học
Học viện nghệ thuật điện ảnh Hàn Quốc
Nghề nghiệpĐạo diễn điện ảnh
Nhà biên kịch
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữBong Junho
McCune–ReischauerPong Chunho
Hán-ViệtPhụng Tuấn Hạo

Bong Joon-ho (Hangul봉준호, phát âm tiếng Triều Tiên: [poːŋ tɕuːnho → poːŋdʑunho], sinh ngày 14 tháng 9 năm 1969) là một đạo diễn và nhà biên kịch phim người Hàn Quốc. Ông là một trong số ít các đạo diễn người châu Á từng chiến thắng giải Oscar[1] cũng như là một trong những đạo diễn điện ảnh xuất sắc nhất trên thế giới hiện nay.[1][2][3][4][5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp từ khi còn rất trẻ và sớm gặt hát được nhiều thành công, những bộ phim đáng chú ý nhất của Bong Joon-ho bao gồm: Quái Vật Sông Hàn - The Host (2006), phim hành động khoa học viễn tưởng Snowpiercer (2013) và phim hài kịch đen Ký sinh trùng (2019), cả ba đều là những phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở quê nhà Hàn Quốc[6]. Bên cạnh đó, bản thân vị đạo diễn cũng đã có hơn hai thập niên khẳng định mình với nhiều tác phẩm điện ảnh xuất sắc khác, ngoài những cái tên nói trên, còn có thể kể đến như: Barking Dogs Never Bite (2000), Hồi ức của kẻ sát nhân (2003) hay Mother (2009)[7]. Ông có hai bộ phim tham gia cạnh tranh giải thưởng tại Liên hoan phim Cannes, lần lượt là: Okja- ra mắt tại Cannes 2017, và Parasite (2019) - tác phẩm đã giành giải Cành cọ vàng tại Cannes 2019.[4][8] Bong Joon-ho cũng là đạo diễn đầu tiên của Hàn Quốc giành được giải thưởng này.[9]

Vào tháng 2 năm 2020, ông đoạt giải Oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất với tác phẩm Parasite và đồng thời trở thành đạo diễn người Hàn Quốc đầu tiên cũng như đạo diễn người châu Á thứ hai (sau Lý An của Đài Loan) có vinh dự được nhận giải thưởng danh giá này.[1]

Trước đó, năm 2017, trang web Metacritic đã xếp hạng Bong đứng thứ 13 trong "Danh sách 25 đạo diễn điện ảnh hay nhất của thế kỷ 21".[5]

Tháng 9 năm 2020, đạo diễn Bong vinh dự được tạp chí Time của Mỹ vinh danh trong Danh sách 100 người có sức ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm 2020.[2][3]

Tháng 1 năm 2021, ông chính thức được mời làm giám khảo cho Liên hoan phim Venice lần thứ 78, Bong Joon-ho cũng là đạo diễn người Hàn Quốc đầu tiên có được vinh dự này.[10]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim của ông thường tập trung khai thác sâu vào những đề tài, chủ đề phá cách, bí ẩn, có nội dung gây tò mò cho người xem, xen lẫn vào đó là yếu tố hài kịch đen, châm biếm xã hội một cách tinh tế, sâu sắc đồng thời làm thay đổi tâm trạng của không chỉ nhân vật trong phim mà còn cả các khán giả một cách đầy bất ngờ, đột ngột và khó đoán.[11]

Danh sách các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
Giám đốc Biên kịch Sản xuất
1997 Motel Cactus Không Không
1999 Phantom: The Submarine Không Không
2000 Barking Dogs Never Bite Không
2003 Hồi ức của kẻ sát nhân Không
2005 Antarctic Journal Không Không
2006 The Host Không
2009 Mother Không
2013 Chuyến tàu băng giá Không
2014 Sea Fog Không
2017 Okja
2019 Ký sinh trùng

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Sản xuất Notes
2020 Snowpiercer sản xuất điều hành
TBA Parasite sản xuất điều hành;
Tập phim ngắn

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Phân đoạn Vai trò
Giám đốc Biên kịch
1994 Baeksaekin (White Man)
Incoherence
The Memories in My Frame
2003 Twentidentity Sink & Rise
2004 Digital Short Films by Three Directors Influenza
2008 Tokyo! Shaking Tokyo
2011 3.11 A Sense of Home Iki

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
1994 Incoherence Người giao hàng
2002 No Blood No Tears Thám tử (cameo)
2008 Crush and Blush Giáo viên (cameo)
2012 Doomsday Book Lee Jun-ho (cameo)

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim
2006 Two or Three Things I Know about Kim Ki-young
2011 Kurosawa's Way
2012 Ari Ari the Korean Cinema

Nguồn phim: Korean Movie Database[12].

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải oscar cho Đạo diễn xuất sắc nhất lần thứ 92

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c Andrew Pulver (10 tháng 2 năm 2020). “Bong Joon-ho wins the best director Oscar for Parasite”. www.theguardian.com.
  2. ^ a b Swinton, Tilda (22 tháng 9 năm 2020). “The 100 Most Influential People of 2020: Bong Joon-ho”. time.com.
  3. ^ a b Đạt Phan (theo Time) (23 tháng 9 năm 2020). “Đạo diễn 'Parasite' vào top 100 người ảnh hưởng nhất thế giới”. vnexpress.net.
  4. ^ a b Debruge, Peter; Debruge, Peter (ngày 25 tháng 5 năm 2019). “Bong Joon-ho's 'Parasite' Wins the Palme d'Or at Cannes”.
  5. ^ a b Dietz, Jason (ngày 19 tháng 7 năm 2017). “25 Best Film Directors of the 21st Century (So Far): Bong Joon-ho”. Metacritic. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018.
  6. ^ “Box Office: All Time”. Korean Film Council. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018.
  7. ^ “Bảy phim làm nên tên tuổi Bong Joon Ho”. vnexpress.net. 14 tháng 2 năm 2020.
  8. ^ Lawson, Richard (ngày 21 tháng 5 năm 2019). “Parasite and Portrait of a Lady on Fire Burn Up Cannes”. Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2019.
  9. ^ Pulver, Andrew (ngày 25 tháng 5 năm 2019). “Bong Joon-ho's Parasite wins Palme d'Or at Cannes film festival”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
  10. ^ Đạt Phan (theo LA Times) (16 tháng 1 năm 2021). “Bong Joon Ho là trưởng ban giám khảo LHP Venice”. vnexpress.net.
  11. ^ Paquet, Darcy (ngày 28 tháng 2 năm 2008). “The Bong Joon Ho Page”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  12. ^ “봉준호 필모그래피” [Bong Joon-ho Filmography] (bằng tiếng Hàn). Korean Movie Database. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]