Red Velvet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Red Velvet (nhóm nhạc))
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Red Velvet
레드벨벳
レッドベルベット
Red Velvet at Dream Concert on May 12, 2018.png
Red Velvet tại Dream Concert vào ngày 12 tháng 5 năm 2018.
Từ trái sang phải: Joy, Yeri, Irene, SeulgiWendy.
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danhRed Velvet
Nguyên quánHàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2014 (2014)–nay
Công ty quản lýS.M. Entertainment
Hãng đĩaGenie Music
Hợp tác với
Websiteredvelvet.smtown.com
Thành viên hiện tại

Red Velvet (tiếng Hàn: 레드벨벳, phiên âm: Redeu Belbet; tiếng Nhật: レッドベルベット, phiên âm: Reddo Berubetto) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được S.M. Entertainment thành lập và quản lý. Nhóm ra mắt công chúng vào ngày 1 tháng 8 năm 2014 với đội hình bốn thành viên bao gồm Irene, Seulgi, Wendy, Joy và được bổ sung thành viên thứ năm Yeri vào ngày 10 tháng 3 năm 2015.

Kể từ khi ra mắt, Red Velvet đã có nhiều kinh nghiệm và được công nhận. Mini album đầu tiên của nhóm Ice Cream Cake đứng đầu trên Gaon Album Chart vào đầu năm 2015. Tương tự, album đầu tiên của nhóm The Red (2015), và các mini album tiếp sau đó là The Velvet,Russian Roulette phát hành vào năm 2016 và Rookie (2017) đều đạt được #1 trên Gaon Album Chart. Ngoài ra, The Red, RookieThe Red Summer (2017) cũng đứng đầu trên Billboard World Albums, và với việc phát hành album phòng thu thứ hai của nhóm Perfect Velvet (2017), nhóm trở thành nhóm nhạc K-pop với with the most number-one albums trên bảng xếp hạng và gắn liền cho most number-one albums trong số tất cả các hoạt động ở K-pop.most number-one albums.[1][1][2] Nhóm cũng nhận được một số giải thưởng cho âm nhạc, vũ đạo hoặc độ phổ biến, bao gồm Golden Disc Awards cho New Artist Award và Mnet Asian Music Award cho Best Female Group năm 2017.

Các thành viên của Red Velvet cũng xuất hiện trên truyền hình: Irene là host của Music Bank,[3] Yeri là host của Show! Music Core,[4] Joy trong mùa thứ tư của chương trình We Got Married và là vai chính trong bộ phim The Liar and His Lover,[5][6] Seulgi trong bộ phim truyền hình thực tế Idol Drama Operation Team, và Wendy là short-time host cho K-Rush. của KBS World.

Ý nghĩa tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên nhóm được đặt bởi cựu CEO Lee Soo Man và còn được công ty chủ quản S.M. Entertainment lý giải như: "Red" có nghĩa là màu đỏ, đây là một màu sắc nổi bật và vô cùng quyến rũ; "Velvet" có nghĩa là vải nhung, đây là loại chất liệu mang đến một cảm giác mềm mại và vô cùng nữ tính. Cả "Red" và "Velvet" đi cùng với nhau đã nói lên phong cách âm nhạc cũng như hình ảnh của nhóm[7]. Ngày 29 tháng 7 năm 2014, một ban nhạc độc lập tại Hàn Quốc ra mắt năm 2013 cũng mang tên "Red Velvet" lên tiếng mong muốn bảo vệ tên gọi của mình. Sau một buổi gặp mặt giữa đại diện công ty S.M. Entertainment và ban nhạc Red Velvet, cả hai bên đi đến thỏa thuận chia sẻ tên gọi chung này[8].

Red Velvet chính thức giới thiệu màu bóng chính thức vào tháng 6 năm 2017, tên gọi của nó là Pastel Coral[9].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Seulgi là thành viên đầu tiên trở thành thực tập sinh của S.M. Entertainment thông qua một cuộc tuyển chọn vào năm 2007. IreneYeri được tuyển chọn lần lượt vào năm 2009 và 2011. Năm 2012, WendyJoy trở thành thực tập sinh thông qua hệ thống tuyển chọn S.M. Global Auditions được tổ chức lần lượt tại Canada và Seoul.[10] Irene, Seulgi và Wendy ban đầu được công ty giới thiệu tới công chúng với tư cách là thành viên nhóm thực tập sinh S.M. Rookies vào năm 2013 và 2014, họ được rumor rằng sẽ ra mắt trong một nhóm nhạc vào tháng 7, sau đó được xác nhận bởi S.M. Entertainment.[11][12][13] Với việc bổ sung thành viên Joy, nhóm bốn thành viên sẽ được ra mắt như Red Velvet, nhóm nhạc nữ đầu tiên sau 5 năm của S.M. Entertainment kể từ khi f(x) ra mắt.[14]

2014: Ra mắt với "Happiness" và "Be Natural"[sửa | sửa mã nguồn]

Red Velvet vào tháng 12 năm 2014

Ngày 1 tháng 8, nhóm biểu diễn lần đầu tiên trên truyền hình trong chương trình âm nhạc Music Bank.[15] Đĩa đơn đầu tay của nhóm, "Happiness", được phát hành trực tuyến vào ngày 4 tháng 8.[16] Được Will Simms, Chad Hugo, Chris Holsten, Anne Judith Wik sáng tác và Yoo Young-jin phổ lời, "Happiness" là một bài hát Europop với giai điệu và tiết tấu mạnh mẽ.[17] Video âm nhạc của bài hát đạt trên 2 triệu lượt xem trên YouTube trong vòng 24 giờ từ khi được đăng tải, nhưng sau đó bị gỡ bỏ do sử dụng một số hình ảnh gây tranh cãi liên quan đến vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, và được thay thế bằng một phiên bản đã chỉnh sửa. "Happiness" đã trở thành video âm nhạc K-pop được xem nhiều thứ hai trên YouTube trong tháng 8 năm 2014.[18]

Ngày 13 tháng 10 năm 2014, Red Velvet phát hành đĩa đơn nhạc số thứ hai, "Be Natural", cũng như video âm nhạc của bài hát.[19] Với sự góp mặt của Taeyong, hiện là thành viên nhóm nhạc nam NCT, "Be Natural" là một phiên bản thu âm lại của bài hát đã được S.E.S., nhóm nhạc nữ đầu tiên của S.M. Entertainment, phát hành vào năm 2000.[20] MV cho bài hát được quay bởi Kwon Soon-wook và Shim Jae-won, biên đạo bởi Kyle Hanagami, và vũ đạo original được thấy trong teaser pre-debut của Irene và Seulgi, họ trình diễn như một phần của SM Rookies.[21][22] Nhóm bắt đầu quảng bá vào ngày 9 tháng 10, lần đầu tiên xuất hiện trên chương trình âm nhạc M Countdown.[23] Bài hát đạt vị trí thứ 33 trên Gaon Digital Chart và vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[24][24]

2015: Thành viên mới Yeri, Ice Cream CakeThe Red[sửa | sửa mã nguồn]

Red Velvet tại KCON 2015.

Ngày 11 tháng 3 năm 2015, cựu thành viên S.M. Rookies Yeri được chính thức bổ sung vào đội hình của Red Velvet.[25] Ngày 15 tháng 3, nhóm phát hành mini-album đầu tay Ice Cream Cake với hai đĩa đơn "Automatic" và "Ice Cream Cake".[26][27] Ngày 27 tháng 3, Red Velvet giành được chiến thắng đầu tiên kể từ khi ra mắt với "Ice Cream Cake" trên chương trình Music Bank. Ice Cream Cake là album của một nhóm nhạc nữ bán chạy nhất nửa đầu năm 2015 tại Hàn Quốc.[28] Tháng 8 năm 2015, Red Velvet biểu diễn lần đầu tiên tại Mỹ trong lễ hội âm nhạc thường niên KCON được tổ chức ở Los Angeles, California.[29]

Ngày 9 tháng 9, Red Velvet phát hành album phòng thu đầu tay The Red bao gồm mười bài hát trong đó có đĩa đơn "Dumb Dumb".[30] Album nhận được phản ứng tích cực từ giới phê bình,[31] đồng thời đạt vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng World Albums của Billboard và bảng xếp hạng album Gaon của Hàn Quốc.[32] Album cũng lọt vào top 10 album K-pop xuất sắc nhất năm 2015 do Billboard bình chọn.[33] Đĩa đơn "Dumb Dumb" đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard và lọt vào top 20 bài hát K-pop xuất sắc nhất năm 2015 do Dazed bình chọn.[34] Video âm nhạc của "Dumb Dumb" cũng lọt vào top 10 video âm nhạc xuất sắc nhất năm 2015 do Rolling Stone bình chọn.[35] Ngày 18 tháng 12, Red Velvet phát hành bài hát "Wish Tree" thuộc dự án âm nhạc Winter Garden của S.M. Entertainment.[36]

2016: The VelvetRussian Roulette[sửa | sửa mã nguồn]

Red Velvet biểu diễn vào ngày 18 tháng 5 năm 2016.

Mini-album thứ hai của Red Velvet, The Velvet, được lên kế hoạch phát hành vào ngày 16 tháng 3 năm 2016. Tuy nhiên, 10 phút trước thời điểm như đã công bố, S.M. Entertainment thông báo hoãn việc phát hành lại "nhằm đảm bảo chất lượng tốt hơn".[37] Do đó, album và đĩa đơn "One of These Nights" (tên tiếng Hàn: 7월 7일) được phát hành vào ngày 17 tháng 3.[38] Với phong cách âm nhạc R&B, The Velvet thể hiện khía cạnh "velvet" nhẹ nhàng, nữ tính trong hình tượng của nhóm, tương phản với khía cạnh "red" sôi động, táo bạo ở The Red.[39] "One of These Nights" đã giành chiến thắng năm lần trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc. Vào tháng 5, nhiều tờ báo tại Hàn Quốc đưa tin rằng nhóm đang chuẩn bị phát hành album mùa hè. Mặc dù đã bị hoãn nhiều lần nhưng cuối cùng nhóm đã phát hành mini album thứ ba của họ Russian Roulette vào ngày 7 tháng 9.[40][41] Album bao gồm bảy bài hát, với single chính tựa đề "Russian Roulette".[42] Vào ngày 13 tháng 9 năm 2016, Red Velvet đã giành chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho Russian Roulette trên The Show.[43] Bài hát chủ đề đạt vị trí thứ hai trên Gaon Digital Chart và bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard, vị trí cao nhất của nhóm trên cả hai bảng xếp hạng vào thời điểm đó.[44][44]

2017: Rookie, Tên fandom, The Red Summer, solo concert đầu tiên và Perfect Velvet[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 2 năm 2017, Red Velvet phát hành mini-album thứ tư Rookie.[45] Mini album bao gồm 6 bài hát, bao gồm bài hát chủ đề "Rookie", và cũng có bài hát solo của Wendy với tựa đề "Last Love" (마지막 사랑). Album đạt vị trí thứ nhất trên cả hai bảng xếp hạng Gaon Album ChartBillboard World Albums.[46] Nhóm giành chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho "Rookie" trên The Show vào ngày 7 tháng 2, tiếp đó là chiến thắng trên Show Champion, M Countdown, Music Bank,Inkigayo.[47][48][49] Vào ngày 31 tháng 3, nhóm phát hành single đầu tiên cho SM Station 2, tựa đề "Would U".[50] Giúp cho việc quảng bá, từ ngày 27 tháng 7 đến 10 tháng 9, Red Velvet bắt đầu chương trình truyền hình thực tế đầu tiên của nhóm, Level Up Project cho thấy các cảnh quay trong chuyến đi của các cô gái đến Thái Lan. Chương trình kéo dài trong 23 tập mà không có sự tham gia của thành viên Joy người đã bận rộn cho việc quay hình của bộ phim The Liar and His Love, bộ phim mà cô đảm nhận vai chính.[51]

Ngày 26 tháng 4 năm 2017, Red Velvet công bố tên fandom chính thức là ReVeluv. Tên fandom của nhóm không chỉ là kết hợp giữa hai từ "Red Velvet" và "love" mà còn đọc giống "Level up" khi phát âm tiếng Hàn. Đồng thời cũng là cách viết tắt của Red Velvet luv - tượng trưng cho tình yêu giữa fan và Red Velvet.

Red Velvet tại đại hội thể thao ISAC vào tháng 1 năm 2017

Ngày 9 tháng 7 năm 2017, Red Velvet phát hành mini-album thứ năm The Red Summer gồm 5 bài hát với ca khúc chủ đề "Red Flavor"(빨간 맛).[52], đánh dấu phát hành mùa hè đầu tiên của nhóm.[53] Mini-album tiếp tục đứng đầu cả hai bảng xếp hạng Gaon Album Chart của Hàn Quốc và World Albums Chart của Billboard. "Red Flavor" cũng đạt vị trí thứ nhất trên cả hai bảng xếp hạng Gaon Digital Chart và Gaon Download Chart.[54] Đây là lần phát hành #1 thứ ba của họ và lập kỷ lục cho most #1 albums trên bảng xếp hạng bởi một nhóm nhạc nữ K-pop.[1] Ngoài ra, "Red Flavor" lần đầu xuất hiện trên Gaon Digital Chart và Gaon Download Chart với 4 bài hát khác cũng nằm trong Top 50 of the Digital Chart.[55]

Tháng 8 năm 2017, nhóm phát hành một bài hát nữa cho dự án Station với tên gọi "Rebirth".

Từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 8, Red Velvet tổ chức concert độc lập đầu tiên của nhóm với tên gọi "Red Room" tại Seoul, Hàn Quốc. Ba đêm diễn đã thu hút tổng cộng 11.000 khán giả.[56]

Vào ngày 4 tháng 10, SM Entertainment thông báo qua trang web tiếng Nhật rằng nhóm sẽ có showcase đầu tiên tại Nhật Bản.[57] "Red Velvet Premium Showcase F'U'N Room Reveluv-Baby Party" diễn ra tại Yebisu The Garden Hall ở Tokyo vào ngày 6 tháng 11.[58] Ở đó, họ đã trình diễn phiên bản tiếng Nhật của "Dumb Dumb" và "Red Flavor" lần đầu tiên.[59] Sau khi kết thúc buổi showcase, họ đã thông báo chính thức rằng concert "Red Room" sẽ được tổ chức tại Nhật Bản trong năm 2018. Dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 28 và 29 tháng 3 tại Trung tâm thể thao Musashino Forest với 10,000 chỗ ngồi và là nơi sẽ tổ chức 2020 Tokyo Olympics.[60]

Red Velvet đã thể hiện lại phong cách "velvet" của nhóm trong album phòng thu thứ hai, Perfect Velvet được phát hành vào ngày 17 tháng 11 với ca khúc chủ đề "Peak-a-Boo".[61] Không giống như lần phát hành đầu tiên của họ "velvet", album và single cả hai đều thành công về mặt thương mại.[62] Album đạt vị trí thứ nhất trên World Album Chart của Billboard. "Peek-a-Boo" đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[63] Tại Hàn Quốc, album và single của "Peek-a-Boo" đều đạt vị trí thứ 2 trên Gaon Album Chart và Gaon Digital Chart.[64][65] Thông việc phát hành cho Rookie, The Red SummerPerfect Velvet trong cùng một năm, cùng với độ phổ biến của single "Red Flavor"(theo Jung Ji-won của Osen best represents the year of 2017), và thành công của album đã vượt ra khỏi biên giới Hàn Quốc, Red Velvet đã trở thành "top girl group" tại Hàn Quốc, nó cũng cố hơn khi Perfect Velvet đạt được hơn 100,000 bản và "Peek-A-Boo" chiến thắng trên chương trình âm nhạc Inkigayo vào ngày cuối cùng quảng bá cho bài hát, chứng minh việc trụ lại lâu trên các bảng xếp hạng.[66][67]

Red Velvet tại Dream Concert vào ngày 12 tháng 5 năm 2018

2018: The Perfect Red Velvet, #Cookie Jar and Summer Magic[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm đã phát hành phiên bản repackaged cho album phòng thu thứ hai, The Perfect Red Velvet vào ngày 29 tháng 1 năm 2018. Album bao gồm các ca khúc trong Perfect Velvet và bổ sung 3 ca khúc mới trong đó có ca khúc chủ đề "Bad Boy".[68]

Album đứng đầu trên Gaon Album Chart, sau khi phát hành "Bad Boy" ra mắt tại vị trí thứ nhất trên Download Chart của Gaon và vị trí thứ hai Gaon Digital Chart.[69] The Perfect Red Velvet cũng xếp vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng World Albums của Billboard trong khi "Bad Boy" ra mắt tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng World Digital Songs. Red Velvet quảng bá trên nhiều chương trình truyền hình âm nhạc Hàn Quốc, chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho "Bad Boy" là trên Show Champion vào ngày 7 tháng 2.[70]

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2018, S.M Entertainment thông báo rằng Red Velvet sẽ trình diễn cùng các nghệ sĩ khác của Hàn Quốc cho buổi concert Hàn Quốc tại Bình Nhưỡng, Triều Tiên. Điều này khiến nhóm trở thành nghệ sĩ đầu tiên từ SM Entertainment trong 15 năm kể từ khi Shinhwa biểu diễn tại Triều Tiên.[71]

Ngày 6 tháng 8 Red Velvet cho ra mắt mini album thứ 6 mang tên Summer Magic với ca khúc chủ đề là " Power Up". Sau khi ra mắt "Power Up" trở thành ca khúc đầu tiên của Red Velvet đạt Perfect All-kill trên các bảng xếp hạng nhạc số.

Single RBB (Really Bad Boy) được "lên sàn" ngày 30 tháng 11 năm 2018.


2019: Japanese 2nd mini album Sappy[sửa | sửa mã nguồn]

Red Velvet trở lại với Japanese 2nd mini album Sappy vào ngày 29 tháng 5.

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

{{đang viết}}

Red Velvet được biết đến với hai phong cách đối lập của nhóm mà trước đây chưa được thấy trong số tất cả các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc. Hai concept được gọi là mặt "red" và mặt "velvet" đều ảnh hưởng đến cả hình ảnh và âm nhạc mà nhóm phát hành. Một nửa "red" là sáng chói và bubblier trong khi mặt "velvet" mang hình ảnh mềm mại, trưởng thành và thanh lịch hơn.[72][73][74][75]

Âm nhạc của nhóm cũng phụ thuộc vào hai theme tương ứng với hai concept. Bởi vì mặt "red" tượng trưng cho những gì tươi trẻ, sôi động nhất theo khuynh hướng của dòng nhạc pop trong khi mặt "velvet" lại mang vẻ bí ẩn, cuốn hút từ thể loại R&Bballad.[76] Cả hai mặt đều không giới hạn về thể loại, tuy nhiên KookMin Ilbo lưu ý rằng âm nhạc của nhóm không đơn giản như là "dance" vs "ballad" và còn mix với các yếu tố khác.[77] Single debut của nhóm "Happiness" được coi là bài hát đầu tiên của nhóm theo phong cách "red", là một bài hát urban europop với cường điệu âm thanh và âm thanh nhịp trống của châu Phi. Single thứ hai của nhóm "Be Natural" cho thấy hình ảnh hoàn toàn khác biệt của nhóm và được mô tả là classic R&B, cũng như biểu hiện của mặt "velvet".[78][79]

Mini album đầu tiên của nhóm Ice Cream Cake lần đầu giới thiệu khái niệm khép và nhóm quảng bá với hai single, R&B/neo-soul cho bài "Automatic" và dance-pop cho bài "Ice Cream Cake". MV của mỗi bài đều cho thấy sự tương phản giữa hai phong cách, nếu như MV của "Ice Cream Cake" đầy màu sắc, khung cảnh vui tươi với vũ đạo fast-paced thì MV của "Automatic" có chủ đề tối hơn với vũ đạo gợi cảm hơn. Jeff Benjamin của Billboard nói rằng album " đã làm tốt trong việc xây dựng tính đồng nhất của hai mặt phong cách âm nhạc".[80][81] Album phòng thu đầu tiên The Red, âm nhạc của họ chỉ tập trung mặt "red" theo sau là mini album The Velvet tập trung vào các bài hát "velvet" như tiêu đề đã cho biết. Album mùa hè đầu tiên của nhóm với tựa đề The Red Summer với single chính là "Red Flavor", một lần nữa họ tập trung vào phong cách "red", sau hai lần phát hành (Russian Roulette, Rookie) mà không tách ra. Bài hát từ album phòng thu thứ hai Perfect Velvet âm nhạc vẫn được xem là một phần của mặt "velvet", nhưng với những gợi ý về 'Red', mà công ty quản lí của nhóm tin tưởng rằng đó là công thức hoàn hảo cho phong cách này, do tiêu đề có tên là Perfect Velvet.[82] Tuy nhiên The Velvet vẫn thành công về thương mại, và là một trong những single và album thành công nhất của nhóm. Các nhà phê bình cho rằng việc phát hành mini album là một bước quang trọng để giới thiệu mặt "velvet" đến với công chúng, nhưng cuối cùng Perfect Velvet đã nhận được sự công nhận của mọi người.[62] Không chỉ các bài hát R&B và ballad như mong đợi từ phong cách "velvet", cũng kết hợp với dance-pop, electronic pop, disco và các yếu tố hip-hop. Sau khi phát hành, nhóm đã được những lời ca ngợi cho tính linh hoạt của nhóm và được hoan nghênh như một trong những album đa dạng của một nghệ sĩ K-pop.[83]

Tầm ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2018, tạp chí Time nêu tên Red Velvet như một trong những nhóm nhạc K-pop xuất sắc nhất, làm nổi bật phong cách đa dạng của nhóm.[84]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Hanja Hán-Việt
Irene 아이린 アイリーン Bae Joo-hyun 배주현 裴柱現 Bùi Châu Hiền 29 tháng 3, 1991 (28 tuổi) Hàn Quốc Daegu, Hàn Quốc  Hàn Quốc
Seulgi 슬기 スルギ Kang Seul-gi 강슬기 姜澀琪 Khương Sáp Kỳ 10 tháng 2, 1994 (25 tuổi) Hàn Quốc Ansan, Gyeonggi, Hàn Quốc
Wendy 웬디 ウェンディ Son Seung-wan / Wendy Son 손승완 孫乘緩 Tôn Thừa Hoan 21 tháng 2, 1994 (25 tuổi) Hàn Quốc Seongbuk-dong, Seoul, Hàn Quốc  Hàn Quốc / Cờ Canada Canada
Joy 조이 ジョイ Park Soo-young 박수영 朴秀英 Phác Tú Anh 3 tháng 9, 1996 (22 tuổi) Hàn Quốc Dobong, Seoul, Hàn Quốc  Hàn Quốc
Yeri 예리 イェリ Kim Ye-rim 김예림 金藝琳 Kim Nghệ Lâm 5 tháng 3, 1999 (20 tuổi) Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phim và chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
2015 SMTOWN the Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town

Chương trình truyền hình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kênh Tập Ghi chú
2017 Level Up Project! Seaason 1 Oksusu

KBS Joy True ID (Thailand)

23 Joy không thể xuất hiện trên chương trình bởi vì trùng với lịch trình cho bộ phim The Liar and His Lover.
2018 Level Up Project! Seaason 2 Oksusu

True ID (KOREA- Namhae, Yeosu, and Tongyeong)

60 Cả nhóm

Người mẫu tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thành viên Số phát hành Ghi chú
2016 CéCi Korea Tháng 2 Irene Cùng Sehun
Tháng 11 Tất cả
2018 Nylon Korea Tháng 8 Joy
Grazia Korea Tháng 9 Irene
2019 BEAUTY+ Seulgi
Ray Japan Tháng 5 Tất cả
Grazia Korea Yeri
Nylon Korea Wendy Tháng 6

Chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Solo concert[sửa | sửa mã nguồn]

  • Red Room (2017)
  • REDMARE (2018)
Tham gia các concert khác
  • SM Town Live World Tour IV (2014-2015)
  • SM Town Live Tour V (2016)
  • SM Town Live World Tour VI (2017)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ra mắt Red Velvet đã được trao giải thưởng nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại các lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 24, Golden Disk Awards lần thứ 29 và Korean Entertainment Arts Awards lần thứ 21. Nhóm giành được chiến thắng trên chương trình âm nhạc đầu tiên với bài hát "Ice Cream Cake" vào ngày 27 tháng 3 năm 2015 trên Music Bank. Đến nay nhóm đã giành chiến thắng tổng cộng 44 lần trên các chương trình âm nhạc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Benjamin, Jeff (19 tháng 7 năm 2017). “Red Velvet Scores Third No. 1 on World Albums, Lead Among K-Pop Females”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Benjamin, Jeff (15 tháng 9 năm 2015). “Red Velvet Earn First No. 1 on World Albums Chart With 'The Red'. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ Son, Hyo-jeong. “뮤직뱅크' 박서준·보라,1년 6개월만 MC 떠난다…24일 막방”. TV Report. TV Report. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  4. ^ Hwang, Eun-hee. “레드벨벳 측 "예리, ‘음악중심’ 합류 맞아…오는 9일 첫 진행". MBN Star. MBN Daily Broadcasting. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  5. ^ Lee, Hye-rin. “[단독] '우결' 육성재 부인은 레드벨벳 조이.."오늘 첫 녹화". OSEN. OSEN. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ Lee, Seung-rok. '음중' 순위제 폐지·MC 교체…마지막 1위는 아이유 (종합)”. MyDaily. MyDaily. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  7. ^ “SM, 2 Years After EXO, A Newcomer”. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  8. ^ “Indie band Red Velvet voice out against SM Entertainment's choice of name for new girl group”. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  9. ^ Tone màu nầm giữa Hồng (màu)Da cam 
  10. ^ Kim Dong-Joo. “SM Entertainment to debut a new girl group, 'Red Velvet'. StarN News. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ Sohn Ji-young (28 tháng 7 năm 2014). “SM Entertainment debuts new girl group Red Velvet”. The Korea Herald. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  12. ^ Lee Ji-suk (22 tháng 7 năm 2014). “SM 6년만에 4인조 걸그룹 출격, "8월 데뷔 목표". Sports Seoul (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ Kim, Hyung-woo (22 tháng 7 năm 2014). “SM to Debut New Four Member Girl Group in August”. Newsen. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ “SM brings a touch of velvet to K-pop”. Korea JoongAng Daily. 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ Ock Hyun-ju (30 tháng 7 năm 2014). “SM’s Red Velvet to stage debut Aug. 1”. The Korea Herald. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ “Red Velvet debuts high on music charts”. The Korea Herald. 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  17. ^ “Red Velvet - Happiness”. Simply K-Pop. Tập 125. 22 tháng 8 năm 2014. Arirang TV. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014. 
  18. ^ Benjamin, Jeff (8 tháng 9 năm 2014). “Most Viewed K-Pop Videos in America & Around the World: August 2014”. Billboard K-Town. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2014. 
  19. ^ Park Gyu-oh (10 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet releases ‘Be Natural’ video”. K-Pop Herald. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  20. ^ Ock Hyun-ju (8 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet to make comeback with remake track”. The Korea Herald. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  21. ^ Kim Dong-Joo (9 tháng 10 năm 2014). “Music video of Red Velvet's 'Be Natural' unveiled”. Star N News. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016. 
  22. ^ Ha Su-jeong (10 tháng 10 năm 2014). “레드벨벳 'Be Natural' 의자 퍼포먼스, 비욘세 안무가 작품”. Newsen (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014. 
  23. ^ Jeon Su Mi; Yeawon Jung (8 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet to Launch Promotions for 'Be Natural' on 'MCD'. CJ E&M enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  24. ^ a ă “Weekly Gaon Digital Chart - August 3–9, 2014”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ Ahn, Woorim (11 tháng 3 năm 2015). “Red Velvet Makes Its Comeback With A New Member”. BNT News. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  26. ^ Cho Jin-shil (11 tháng 3 năm 2015). 레드벨벳, 5인조로 컴백 '새 멤버 예리 합류'. 10asia (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  27. ^ Son Mi-kyung (15 tháng 3 năm 2015). “레드벨벳, 더블 타이틀 '오토매틱' MV 공개..몽환 반전매력”. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2016. 
  28. ^ Gil Hye-seong (21 tháng 6 năm 2015). 상반기 음반판매, 엑소 1~3위 석권..레드벨벳, 女유일 톱20. Korea Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015. 
  29. ^ Benjamin, Jeff. “Red Velvet Talk First U.S. Performance, Their New Member & Summer Songs at KCON 2015: Exclusive”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  30. ^ Lee So-dam (4 tháng 9 năm 2015). “레드벨벳 9월9일 컴백 확정…SM 하반기 첫주자 [스포츠투데이]”. Sports Today (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  31. ^ Benjamin, Jeff. “Red Velvet Drop Brassy 'Dumb Dumb' Single, Quirky 'Red' Album”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  32. ^ Benjamin, Jeff (15 tháng 9 năm 2015). “Red Velvet Earn First No. 1 on World Albums Chart With 'The Red'. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015. 
  33. ^ Benjamin, Jeff; Oak, Jessica. “The 10 Best K-Pop Albums of 2015”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  34. ^ Glasby, Taylor (1 tháng 12 năm 2015). “The top 20 K-Pop tracks of 2015”. Dazed Digital. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015. 
  35. ^ Ducker, Erick (22 tháng 12 năm 2015). “10 Best Music Videos of 2015”. Dazed Digital. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  36. ^ Jeon Su-mi (7 tháng 12 năm 2015). “f(x) to Participate in SM′s 'Winter Garden' Project, More Artists to be Revealed”. enewsWorld. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  37. ^ Kim, Ji-young (16 tháng 3 năm 2016). “Red Velvet postpones album release”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  38. ^ Seon, Mi-kyung (2 tháng 3 năm 2016). “SM "레드벨벳, 최근 신곡 MV 촬영..3월 컴백 목표". Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016. 
  39. ^ Benjamin, Jeff (16 tháng 3 năm 2016). “Red Velvet Returns With Dreamy R&B Ballad 'One of These Nights'. Fuse. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  40. ^ Hwang, Hye-jin (26 tháng 5 năm 2016). “SM 측 "레드벨벳 컴백 준비중, 일정 확정되면 발표". Newsen (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  41. ^ Park, Young-woong (19 tháng 8 năm 2016). “[단독] SM, 엑소 다음은 레드벨벳! 9월 새 앨범 컴백”. Naver (bằng tiếng Korean). Sports Chosun. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  42. ^ Ahn, Woorim (1 tháng 9 năm 2016). “Red Velvet to Make Comeback on September 7”. bnt news. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2016. 
  43. ^ “레드벨벳, '더 쇼'서 컴백 첫 1위 "팬들께 감사" (bằng tiếng Hàn). news1.kr. 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  44. ^ a ă South Korea's Weekly Gaon Digital Chart September 11-17, 2016 (in Korean) Originally from Gaon Music Chart (September 2016). Retrieved on December 6, 2017.
  45. ^ “Red Velvet unveils music video for 'Rookie'. english.yonhapnews.co.kr. 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  46. ^ “World Albums: The week of February 18, 2017”. Billboard. 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  47. ^ “레드벨벳, ‘루키’로 1위 행진…美 빌보드부터 ‘더쇼’ 1위까지” (bằng tiếng Hàn). asiatoday.co.kr. 8 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  48. ^ “레드벨벳, 뮤직뱅크 2주 연속 1위…신곡 '루키' 중독성에 빠졌다” (bằng tiếng Hàn). focus.kr. 17 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  49. ^ “레드벨벳, ‘루키’로 ‘인기가요’ 2주 연속 1위”. Ten Asia. 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017. 
  50. ^ “레드벨벳, 봄맞이 달콤설렘송… ‘SM 스테이션2’ 막 올랐다”. Ten Asia. 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017. 
  51. ^ Jung, Ahn-ji (17 tháng 7 năm 2017). “[공식] 레드벨벳, 첫 단독 리얼리티 시작…8월 2일 첫 방송”. naver (Sports Chosun). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  52. ^ “Red Velvet's Irene introduces the tracklist for their summer special album 'The Red Summer'!”. 
  53. ^ Kim, Hwi-seok (23 tháng 6 năm 2017). “레드벨벳, 7월 컴백 예정..SM "뮤비 촬영 마쳤다"(공식)”. naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. 
  54. ^ Park, Geon-wook (20 tháng 7 năm 2017). “레드벨벳 '빨간 맛', 가온차트 3관왕 '인기 이어간다'. Naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  55. ^ Park, Geon-wook (20 tháng 7 năm 2017). “레드벨벳 '빨간 맛', 가온차트 3관왕 '인기 이어간다'. Naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  56. ^ Dong-woo, Chang (20 tháng 8 năm 2017). “Red Velvet moved by huge fans at 1st stand-alone concert”. Yonhap News Agency. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2017.  Ngày 17 tháng 11, Red Velvet phát hành album phòng thu thứ hai Perfect Velvet gồm 9 ca khúc và bài hát chủ đề Peek-A-Boo.
  57. ^ “Red Velvet Premium Showcase "ReVeluv-Baby Party" (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  58. ^ Peterson, Jacques. “Going global! Red Velvet are making waves in Japan”. SBS PopAsia. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  59. ^ “Red Velvet、日本初単独コンサート「Concert "Red Room" in JAPAN」開催決定”. musicman-net (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  60. ^ “Red Velvet、キャパ1万人会場で日本初単独コンサート決定”. natalie (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  61. ^ “Red Velvet Teases 'Perfect Velvet' Album, Upcoming Single 'Peek-A-Boo'. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017. 
  62. ^ a ă Lee So-dam (29 tháng 11 năm 2017). “[Oh! 뮤직] 레드벨벳은 진화 중”. osen (bằng tiếng korean). Osen. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  63. ^ Benjamin, Jeff (27 tháng 11 năm 2017). “Red Velvet Tie for Most No. 1s on World Albums Chart Among All K-Pop Acts”. billboard. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  64. ^ “Gaon Album Chart – Week 46, 2017”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2017. 
  65. ^ “2017 Gaon Digital Chart - Week 47”. Gaon Music Chart. 20 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017. 
  66. ^ Jung Ji-won (13 tháng 12 năm 2017). “[Oh!쎈 초점] 레드벨벳의 화려한 1년”. osen (bằng tiếng korean). Osen. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017. 
  67. ^ Shim Sol-ah (13 tháng 12 năm 2017). “트와이스·레드벨벳, 올해도 열일한 JYP-SM 걸그룹 자존심 [연말결산⑮]”. chicnews (bằng tiếng korean). Chic News. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017. 
  68. ^ “‘Perfect Red Velvet’ returns with ‘Bad Boy’”. Kpop Herald. 29 tháng 1 năm 2018. 
  69. ^ Kim, Seong-won (8 tháng 2 năm 2018). “레드벨벳 정규 2집 리패키지, 가온 차트 2관왕 '대세 파워'. Chosun (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  70. ^ Jang, Soo-min (7 tháng 2 năm 2018). '쇼챔피언' 레드벨벳 'BAD BOY' 챔피언 송 등극 '컴백 후 첫 1위'. News1 (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  71. ^ “레드벨벳, 평양서 '빨간맛' '배드 보이' 부른다” (bằng tiếng Hàn). Naver. 26 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2018. 
  72. ^ Lee, Eun-ho (9 tháng 12 năm 2017). “[BZ시선] 트와이스와 레드벨벳이 가는 길”. etoday (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017. 
  73. ^ Kwon, Soo-bin (25 tháng 3 năm 2015). “레드벨벳 "막내 예리 합류, 확실히 더 밝아졌다"(인터뷰①)”. news1 (bằng tiếng Hàn) (News1). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  74. ^ Chin, Chester (24 tháng 3 năm 2016). “Review: The Velvet by Red Velvet”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  75. ^ Benjamin, Jeff (16 tháng 3 năm 2016). “RED VELVET RETURNS WITH DREAMY R&B BALLAD 'ONE OF THESE NIGHTS': WATCH”. fuse.tv. Fuse. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  76. ^ Stern, Bradley (16 tháng 3 năm 2016). “RED VELVET SHOW THEIR SOFTER SIDE WITH 'ONE OF THESE NIGHTS'. PopCrush. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  77. ^ Seon Mi-kyung (20 tháng 11 năm 2017). “[미묘의 아이돌 열전] ④ 레드벨벳, 귀여움 그 이상의 재능을 지닌 아티스트”. kmib (bằng tiếng korean). Kookmin Ilbo. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  78. ^ Lee, Ji-hyun (26 tháng 1 năm 2018). “[엑's 초점] 레드와 벨벳의 완벽한 조화, 'bad boy'” [[X's Focus] The Perfect Harmony of Red and Velvet, 'Bad Boy']. Sports Chosun (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  79. ^ Park, Soo-jung (16 tháng 10 năm 2014). “레드벨벳이 이런 장르도 소화할 수 있을까? (인터뷰)”. tenasia (bằng tiếng korean). 10asia. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  80. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 8 năm 2015). “Red Velvet Talk First U.S. Performance, Their New Member & Summer Songs at KCON 2015: Exclusive”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  81. ^ Benjamin, Jeff (27 tháng 3 năm 2015). “Red Velvet Send Delicious 'Ice Cream' EP to World, Heatseeker Albums Charts”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  82. ^ Jeon Won (8 tháng 11 năm 2017). “[엑's 이슈] "업그레이드된 벨벳"…레드벨벳, 색다른 느낌의 '피카부'. X Sports News (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  83. ^ Kim Sang-hwa (20 tháng 11 năm 2017). “레드벨벳 정규 2집, 변화무쌍한 '음악적 실험'의 결정체”. ohmynews (bằng tiếng korean). Oh My Star. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  84. ^ Bruner, Raisa (9 tháng 2 năm 2018). “These Are the Best K-Pop Groups You Should Know About”. Time. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]