Jang Na-ra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Jang Na-ra
장나라
Jang Na-ra in July 2017.jpg
Jang Na-ra năm 2017
SinhJang Na-ra
장나라

18 tháng 3, 1981 (38 tuổi)
Seoul,  Hàn Quốc
Học vấnĐại học Chung Ang[1]
(B.A. ngành Diễn xuất)
Nghề nghiệpDiễn viên, Ca sĩ
Năm hoạt động2001–nay
Đại lýS.M. Entertainment
Pure Entertainment
Warner Music Korea
WS Entertainment
Narajjang.com Corporation (nay)
Chiều cao1,63 m (5 ft 4 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Trang webJang Nara
Jang Na-ra
Hangul장나라
Hanja張娜拉 [2][3]
Romaja quốc ngữJang Nara
McCune–ReischauerChang Nara
Hán-ViệtTrương Na Lạp

Jang Nara (sinh ngày 18 tháng 3 năm 1981) là một diễn viênca sĩ Hàn Quốc. Cô cũng hát bằng tiếng Trung và được biết với tên phiên âm tiếng Trung của cô (giản thể: 张娜拉; phồn thể: 張娜拉; bính âm: Zhāng Nà Lā; Hán Việt: Trương Na Lạp).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc nhỏ, Jang Nara dành phần lớn thời gian vào việc học tại quê nhà Seoul. Cha là ông Ju Ho-seong, diễn viên kịch nói thuộc đoàn kịch quốc gia, còn mẹ xuất thân từ học viện Nghệ thuật lớp đào tạo diễn xuất thứ 11. Anh trai Jang Sung Won cũng là diễn viên hoạt động trong các chương trình giải trí của đài MBC. Cha cô cũng là người trực tiếp quản lý và người tổ chức trong mọi hoạt động nghệ thuật của con gái.

Trong một lần tham gia đóng vở kịch Những người khốn khổ cùng với cha của mình tại trường tiểu học đã khiến cô nuôi ước mơ trở thành diễn viên. Jang Nara bắt đầu tham gia làm người mẫu quảng cáo thương mại từ khi còn học trung học. Cô từng theo học trường Trung học nữ Yale (예일 여자 고등학교) và là bạn cùng lớp cựu hoa hậu Hàn Quốc 2005 Kim Joo-hee.[4]

Jang Nara theo học Khoa Kịch nghệ và Nghệ thuật, Đại học Chung Ang với chuyên ngành Diễn xuất từ tháng 3 năm 2000 và tốt nghiệp ngày 19 tháng 2 năm 2010, được trao tặng giải thưởng đặc biệt vì những đóng góp của cô đối với Đại học Chung Ang. Phát biểu tại lễ tốt nghiệp, cô chia sẻ: "Tôi cảm thấy rất hồi hộp bởi phải mất 10 năm tôi mới nhận được bằng đại học. Nếu tự chấm điểm, tôi sẽ cho mình điểm F".[5]

Sau khi vào học tại Đại học Chungang, Jang Nara mới thử sức với điện ảnh bằng cách tham gia bộ phim sitcom New Nonstop. Năm 2002, cô có vai chính đầu tiên trong sự nghiệp với phim Cô gái thông minh.Tác phẩm thành công vang dội với con số rating lên tới 42,6%, Jang Nara cùng bạn diễn Jang Hyuk được coi là cặp đôi đẹp nhất màn ảnh Hàn thời điểm đó. Trong giai đoạn 2002 – 2005, cô hoạt động trên nhiều lĩnh vực, từ diễn xuất, ca hát đến đóng quảng cáo. Jang Nara trở thành biểu tượng của showbiz Hàn thời bấy giờ.Danh tiếng của cô còn vươn sang các quốc gia khác trong khu vực châu Á. Jang Nara lọt vào mắt xanh của các nhà sản xuất phim Trung Quốc. Nữ diễn viên không bỏ lỡ cơ hội "tấn công" thị trường tỷ dân.

Năm 2005, Jang Nara chuyển hướng sang phát triển ở Trung Quốc- đây được coi là dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của cô. Tại đây, cô tiếp tục thành công với hàng loạt những bộ phim ăn khách như "Công chúa bướng bỉnh", "Xin chào Thượng Hải", "Thái y nghịch ngợm", "Kiệu hoa"... Jang Nara được săn đón nhiệt tình và sớm chiếm cảm tình của nhiều khán giả. Trong giai đoạn 2004 -2008, Jang Nara được xem là ngôi sao gốc Hàn thành công nhất tại Trung Quốc với lượng fan cực kỳ hùng hậu. Vị thế của cô ở Đại Lục ngày càng lớn. Năm 2008, cô còn là nghệ sĩ duy nhất không phải người gốc Hoa góp giọng trong ca khúc chủ đề của Olympic Bắc Kinh cùng với dàn sao tên tuổi khác. Tại Việt Nam, Jang Nara được biết đến nhiều nhất qua bộ phim đầu tiên của cô tại Trung Quốc: "Công chúa bướng bỉnh" (vì điều này nên khá nhiều người nhầm tưởng cô là diễn viên Trung Hoa) và trước đó cô cũng được khán giả biết tới với ca khúc hit đình đám "Sweet Dream" của mình.

Năm 2011, khi đã 30 tuổi, Jang Nara trở về quê hương đóng phim . Lúc này, hầu hết người hâm mộ đã dần lãng quên cô và bởi màn ảnh Hàn khi đó ngập tràn các bóng hồng xinh đẹp. "Baby Faced Beauty" là tác phẩm truyền hình đầu tiên của Jang Nara kể từ sau khi hồi hương. Tuy nhiên, phim không đạt hiệu ứng như mong đợi. Song, ít nhất Baby Faced Beauty cũng đã nhắc nhở khán giả nhớ về cái tên Jang Nara sau nhiều năm vắng bóng.

Từ 2013- 2017, nữ diễn viên ở lại hẳn quê nhà đóng phim và đều đặn góp mặt vào một đến hai bộ phim mỗi năm. Những bộ phim "School 2013", "Định mệnh anh yêu em (Fated to love you- 2014 )" ,"I remember you", " One more Happy Ending", "Go Back Couple",...dù chưa thực sự gây tiếng vang lớn nhưng cũng đã dần lấy lại được hình ảnh của cô trong lòng khán giả . Đến cuối 2018, Jang Nara mới tạo dấu ấn khó phai với The Last Empress. Phim được đánh giá sở hữu nội dung hấp dẫn, kịch tính, dàn diễn viên diễn xuất chắc tay. Bên cạnh đó, vai diễn Oh Sunny cũng cho thấy hướng đi mới trong diễn xuất của Jang Nara. Cô bắt đầu chuyển sang kiểu vai nặng tâm lý, có chiều sâu, phức tạp và gai góc thay vì những vai diễn ngây thơ, hiền lành từ đầu đến cuối phim như trước kia. Điều này chứng minh phong độ diễn xuất không hề sụt giảm qua bao nhiêu năm cùng khả năng biến hóa linh hoạt của Jang Nara. Sau "The Last Empress", ngôi sao sinh năm 1981 tiếp tục khẳng định mình với tác phẩm lấy đề tài đấu đá chốn công sở, ngoại tình - VIP. Lần này, cô tiếp tục gắn bó với dạng nhân vật có tính cách mạnh mẽ, dứt khoát, tâm tư phức tạp.Lên sóng vào dịp cuối năm 2019, phim nhiều lần lập kỷ lục rating. Jang Nara cũng nhiều lần lọt top sao được quan tâm nhất tuần, tháng nhờ sức hút của VIP.

Ngoài khả năng diễn xuất tuyệt vời và ổn định sau nhiều năm hoạt động, Jang Nara còn nổi tiếng với vẻ đẹp trẻ mãi không già của mình. Với khuôn mặt ngây thơ, trong sáng, làn da căng mịn đầy sức sống, đôi mắt trong veo dù đã gần bước sang tuổi 40 khiến nhiều người không khỏi kinh ngạc, so với 17 năm trước Jang Nara dường như chẳng hề thay đổi. Nhan sắc của cô vẫn khiến những cô gái trẻ cũng phải ghen tị. Truyền thông xứ Hàn thường gọi Jang Nara là " Mỹ nhân không tuổi " để nói về vẻ đẹp đặc biệt này của cô.


Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim
2014 Old Goodbye
2012 Flying With You 一起飞
2009 Sky and Ocean 하늘과 바다
2007 Girl's Revolution 麻雀要革命
2003 Oh! Happy Day 오! 해피데이

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim
2019 VIP
2018 The Last Empress
2017 Go Back Couple
2016
  • One More Happy Ending (MBC, 2016)
2015 Hello Monster/I Remember You
2014 MBC: Mr-Back
2014 Định mệnh anh yêu em (phiên bản Hàn)
2013 KBS: School 2013
2011 KBS: Baby Faced Beauty
2011 Diao Man Qiao Yu Yi (刁蛮俏御医)
2010 Iron Masked Singer (铁面歌女)
2007 Chun Bai Zhi Lian 纯白之恋 (Good Morning Shanghai)
2005 KBS Wedding (웨딩
2005 CCTV: Diao Man Gong Zhu 刁蠻公主 (My Bratty Princess)
2004 MBC: Love is All Around 사랑을 할꺼야
2003 Hello! Balbari 헬로 발바리
2002 MBC: My Love Patzzi 내 사랑 팥쥐
2002 SBS: Successful Story of a Bright Girl 명랑소녀 성공기
2001 MBC: Nonstop 2 (sitcom)

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 2002, ca khúc Sweet Dream ra đời nằm trong album cùng tên là album Vol.2, album thành công nhất trong sự nghiệp của Jang Nara và trở thành một trong những album bán chạy nhất ở Hàn Quốc giúp cô giành được nhiều giải thưởng trong đó có 2 giải thưởng Daesang, giải KBS Music Awards, MBC Singer Award, giải đĩa vàng của đài MBC, giải 10 ngôi sao xuất sắc nhất của đài SBS, giải MTV âm nhạc Hàn Quốc. Mọi lễ trao giải âm nhạc lớn nhất trong năm đều vang danh cô

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2001 MBC Best MC Award
  • 2003 Singer of the Year (Korea) CCTV-MTV Music Honors
  • 2002 KBS Music Awards
  • 2002 SBS 10 Best Star
  • 2002 KMTV Music Award
  • 2002 MBC Golden Disk Award
  • 2002 MBC Singer Award
  • 15th International Chunsa Film Festival: Hallyu Grand Award
  • 2010 Asia Star Award
  • 2011 KBS Drama Award Best Actress of Mini Series.
  • 2014 MBC Drama Award Popularity Award for (Mister Baek and Fated to love you)
  • 2014 MBC Drama Award Best Excellence Award
  • 2014 MBC Drama Award Best Couple Award with Jang Hyuk
  • 2017 KBS Drama Award for Best Couple Award with Son Ho Jun
  • 2018 SBS Drama Award for Top Excellence in Acting.
  • 2019 SBS Drama Award Producer's Award.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nara. Nate Profile.
  2. ^ Tên 張娜拉 được cô sử dụng ở Trung Quốc.
  3. ^ Những lời giải thích về tên Jang Na Ra của cha cô, từ website chính thức của cô
  4. ^ [1].Dcnews.17 tháng 3 năm 2008.
  5. ^ [2].Artsnews. 19 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]