S.M. Entertainment

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ SM Town)
Bước tới: menu, tìm kiếm
SM Entertainment
SM 엔터테인먼트
S.M. Entertainment logo.svg
The Future of Culture Technology
Loại hình Công khai (KOSDAQ: 041510)
Ngành nghề Âm nhạc & Giải trí
Thể loại Trot
Pop
Dance
R&B
K-pop
Thành lập 14 tháng 2 năm 1995
Nhà sáng lập Lee Soo Man
Trụ sở chính Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Nhân viên
chủ chốt

Lee Soo Man
Chủ tịch hội đồng quản trị
Kim Young-min
Tổng giám đốc
Lee Jong In
Giám đốc tài chính
Han Sae Min
Giám đốc
Nam So Young
Sản phẩm Âm nhạc & Giải trí
Dịch vụ Âm nhạc & Giải trí
Doanh thu US$-61,788,496 (2009)[1]
US$86,400,963 (2010)[1]
US$99,437,600 (2011)[2]
US$212,401,103 (2012) [3]
Lợi nhuận kinh doanh tăng US$51 triệu (2012) [4]
Lãi thực tăng US$63 triệu (2012)
Chủ sở hữu Lee Soo Man
(21.27%, 2014)
National Pension Service
(11.05%, 2014)
Nhân viên 1.667 (tính đến tháng 3, 2013)
Công ty con SM TinTin Hall (2000)
SM Entertainment Japan (2001)
SM Academy (2003)
SM Pictures (2007)
SM Amusement
SM F&B Development
SM Entertainment USA (2008)
SM Town Travel (2012)
SM Culture and Contents (2012, từ 2013 bao gồm Woollim Entertainment)
SM Beijing [5]
Website Trang web chính thức
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

SM Entertainment (Hangul: SM엔터테인먼트) hay còn gọi là Công ty Giải trí S.M, là một trong những tập đoàn giải trí hàng đầu tại Hàn Quốc (cùng với hai tập đoàn công ty giải trí hàng đầu khác là JYP Entertainment & YG Entertainment), chuyên hoạt động trong lĩnh vực đào tạo năng khiếu, sản xuất và phát hành các sản phẩm âm nhạc K-pop, được sáng lập bởi Lee Soo Man.

Ban đầu, "SM" là viết tắt của Soo Man, nhưng giờ đây SM còn được hiểu là "Star Museum" (Bảo tàng ngôi sao). Đây cũng là cái nôi của những ban nhạc huyền thoại trong giới K-pop như H.O.T., S.E.S. hay Shinhwa và hiện tại là BoA, TVXQ (hiện chỉ còn hai thành viên U-KnowMax), The Grace, Zhang Li Yin, Super Junior, Girls' Generation, SHINee, f(x), EXO, Red VelvetNCT.

SM Entertainment cùng với Avex Trax làm người đại diện cho một số nghệ sĩ Nhật Bản như Ayumi Hamasaki, Namie AmuroKoda Kumi. Hãng tổ chức lễ kỉ niệm 10 năm thành lập vào ngày 15 tháng 2 năm 2006. Tổng giám đốc hiện tại của hãng là Kim Young-min.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1989–2002: Thành lập và thế hệ nghệ sĩ thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Bang California, Mỹ, Lee Soo-man trở về Hàn Quốc và sáng lập công ty SM Studio tại Apgujeong-dong, Gangnam, Seoul vào năm 1989. Công ty đổi tên thành S.M. Entertainment và bổ nhiệm Jung Hae-ik giữ chức vụ CEO vào tháng 2 năm 1995[6][7] S.M. phát triển một hệ thống đào tạo nội bộ và cho ra mắt một loạt các nghệ sĩ thành công bao gồm nhóm nhạc nam H.O.T. (1996), nhóm nhạc nữ S.E.S. (1997), nhóm nhạc nam Shinhwa (1998) và bộ đôi Fly to the Sky (1999). Kim Kyung-wook trở thành CEO của công ty vào năm 1998.

Đầu những năm 2000, H.O.T. và S.E.S. lần lượt tan rã, còn Shinhwa cũng chấm dứt hợp đồng với S.M. và chuyển sang công ty quản lý khác. Các nhóm nhạc mới như Isak N JiyeonBlack Beat không đạt được thành công như các nghệ sĩ đi trước. Năm 2001, công ty thành lập chi nhánh S.M. Entertainment Japan tại Nhật Bản và bắt đầu liên kết với hãng đĩa Nhật Bản Avex Trax. Cuối năm 2002, S.M. nhận được giải thưởng Grand Prix trong lĩnh vực xuất khẩu âm nhạc của Bộ Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc.

2003–11: Thế hệ nghệ sĩ thứ hai và phát triển ra thị trường quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, S.M. liên kết với Starlight Corporation và C-Cube Entertainment Corporation, đồng thời cho ra mắt nhóm nhạc nam năm thành viên TVXQ. Sau đó công ty tiếp tục thành lập ban nhạc TRAX (2004), nhóm nhạc nữ The Grace (2005) và nhóm nhạc nam Super Junior (2005).

Năm 2005, Kim Young-min được bổ nhiệm trở thành CEO thứ ba của S.M..[8] Từ đó công ty cho ra mắt nhiều nghệ sĩ với mục tiêu quảng bá ở các thị trường nước ngoài, bao gồm: nữ ca sĩ Zhang Liyin (2006), nữ ca sĩ J-Min (2007), nhóm nhạc nữ Girls' Generation (2007), nhóm nhạc nam SHINee (2008) và nhóm nhạc nữ f(x) (2009). Tháng 4 năm 2008, một nhóm nhỏ của Super Junior với tên gọi Super Junior-M được thành lập và bắt đầu hoạt động ở Trung Quốc. Tháng 5 năm 2008, S.M. thành lập SM Art Company nhằm sản xuất các vở kịch và nhạc kịch.[9]

Tháng 2 năm 2010, sau hai thập kỉ giữ cương vị tổng giám đốc, Lee Soo-man rút khỏi vị trí này nhằm "tập trung cho hoạt động kinh doanh tại nước ngoài và phát triển nghệ sĩ".[10] Tháng 3 năm 2010, S.M. hợp tác với YG Entertainment, JYP Entertainment, Star Empire, Medialine, CAN Entertainment và Music Factory để thành lập nhà phân phối âm nhạc KMP Holdings.[11] Tháng 5 năm 2010, S.M. đạt mức lợi nhuật quý cao nhất trong lịch sử: 10,4 tỷ won (tăng 471% so với cùng kỳ năm 2009).[12]

Tháng 4 năm 2011, S.M. cùng YG Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT, và Star J Entertainment thành lập United Asia Management. Tháng 8 năm 2011, S.M. hợp tác với công ty truyền thông Thái Lan TrueVisions để thành lập SM True.[13]

2012–nay: Thế hệ nghệ sĩ thứ ba và mở rộng lĩnh vực kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Họp báo cho SM Town Live World Tour III tại Bangkok

Năm 2012, S.M. cho ra mắt nhóm nhạc nam EXO với hai nhóm nhỏ hoạt động lần lượt tại Hàn Quốc và Trung Quốc.[14] Tháng 2 năm 2012, S.M. mua lại công ty du lịch Happy Hawaii và thành lập SM Town Travel hoạt động ở lĩnh vực du lịch.[15][16] Tháng 3 năm 2012, 47 nghệ sĩ S.M., bao gồm Kangta, BoA, Zhang Liyin, Go Ara, Isak, Lee Yeon-hee và các thành viên của TVXQ, Super Junior, Girls' Generation, SHINeef(x) trở thành cổ đông của công ty.[17] Tháng 8 năm 2012, S.M. tổ chức triển lãm S.M.Art Exhibition tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm COEX.[18] SM Culture & Contents (SM C&C), bộ phận hoạt động ở lĩnh vực truyền hình của S.M., ký hợp đồng độc quyền với Kang Ho-dongShin Dong-yup.[19][20] Tháng 9 năm 2012, SM C&C hợp nhất với AM Entertainment, công ty quản lý của các diễn viên như Jang Dong-gun, Kim Ha-neulHan Ji-min,[21] đồng thời Lee Su-geunKim Byung-man cũng được thông báo là đã ký hợp đồng với S.M..[22]

Năm 2013, SM C&C mua lại Hoon Media, công ty sản xuất các chương trình truyền hình, và Woollim Entertainment, công ty quản lý của nhóm nhạc nam Infinite.[23] Tháng 8 năm 2014, S.M. cho ra mắt Red Velvet, nhóm nhạc nữ đầu tiên của công ty sau f(x).

Tháng 8 năm 2015, S.M. hợp tác với IB Worldwide để thành lập Galaxia SM, công ty quản lý của các động viên như tay golf Park In-bee, vận động viên thể dục nhịp điệu Son Yeon-jae và cầu thủ bóng chày Choo Shin-soo. Ngày 6 tháng 11, 10 năm kể từ ngày ra mắt công chúng của Super Junior, S.M. công bố việc thành lập hãng đĩa con Label SJ dành riêng cho các thành viên và nhóm nhỏ của nhóm.[24] Công ty cũng đưa vào hoạt động chuỗi cửa hàng SUM Market và nhà hàng SMT tại Seoul.[25]

Tháng 1 năm 2016, Lee Soo-man tổ chức một cuộc hội thảo tại SM Coex Artium để giới thiệu về kế hoạch cho ra mắt nhóm nhạc nam mới NCT với số lượng thành viên "không giới hạn".[26][27] Các nhóm nhỏ đầu tiên của NCT–NCT U, NCT 127 và NCT Dream–lần lượt ra mắt công chúng trong suốt năm 2016.[28] Tháng 5 năm 2016, S.M. thành lập hãng đĩa con ScreaM Records tập trung vào thể loại nhạc dance điện tử.[29][30] Công ty cũng triển khai dự án âm nhạc Station với nội dung phát hành một bài hát vào thứ Sáu hàng tuần trong 52 tuần, và cho ra mắt một số ứng dụng dành cho các thiết bị di động.[31]

Danh sách nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các nghệ sĩ hoạt động dưới sự quản lý của S.M. Entertainment được biết đến với tên gọi chung là SM Town.[32]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Người mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Thực tập sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: SM Rookies

Một nhóm các thực tập sinh của S.M. Entertainment đã và đang xuất hiện trong nhiều hoạt động quảng bá với tên gọi chung là "S.M. Rookies".[34] Một số thực tập sinh trong nhóm này đã "tốt nghiệp" và ra mắt công chúng với tư cách thành viên các nhóm nhạc Red VelvetNCT. Các thực tập sinh chưa tốt nghiệp bao gồm:

  • Hansol (sinh năm 1994)
  • Johnny (sinh năm 1995)
  • Kun (sinh năm 1996)
  • Yiyang (sinh năm 1997)
  • Koeun (sinh năm 1999)
  • Hina (sinh năm 2000)
  • Herin (sinh năm 2002)
  • Ningning (sinh năm 2002)
  • Lami (sinh năm 2003)

Cựu nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu thực tập sinh nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Đối tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 6 2014:

Phân phối nhãn hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sau khi H.O.T. tan rã vào năm 2001, các thành viên Jang Woo-hyuk, Tony AnLee Jae-won rời khỏi S.M. Entertainment và thành lập nhóm nhạc ba thành viên jtL. Moon Hee-jun và Kangta ở lại công ty và trở thành các ca sĩ solo. Moon Hee-jun rời khỏi công ty vào năm 2005.
  2. ^ Khi hợp đồng giữa Shinhwa và S.M. Entertainment chấm dứt vào năm 2003, công ty chỉ đề nghị tiếp tục ký hợp đồng với Eric Mun, Shin Hye-sung, Andy Lee, Jun JinLee Min-woo. Tuy nhiên các thành viên đã từ chối nhằm giữ nguyên đội hình và chuyển sang hoạt động dưới sự quản lý của Good Entertainment. S.M. Entertainment cũng đã gây tranh cãi khi không cho phép nhóm tiếp tục sử dụng tên gọi "Shinhwa", tuy nhiên nhóm đã khởi kiện và được tòa cho phép sử dụng tên gọi này.
  3. ^ M.I.L.K được thành lập bởi công ty con BM Entertainment của S.M. Entertainment và tan rã khi thành viên Bae Yu-mi rời nhóm vào năm 2003.
  4. ^ Sau khi Isak 'N' Jiyeon tan rã vào năm 2004, Jiyeon đổi nghệ danh thành Lina và gia nhập nhóm nhạc nữ The Grace vào năm 2005. Isak trở thành VJ và DJ phát thanh cho Arirang và rời khỏi S.M. Entertainment vào năm 2012.
  5. ^ a ă â Kim Jae-joong, Park Yoo-chun và Kim Junsu ra mắt công chúng với tư cách thành viên của TVXQ vào năm 2003. Ba người cùng nhau khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào năm 2009, sau đó thành lập nhóm nhạc JYJ vào năm 2010.
  6. ^ a ă No Min-woo (nghệ danh Rose) và Kang Jung-woo (nghệ danh Attack) ra mắt công chúng với tư cách thành viên của TRAX vào năm 2004.
  7. ^ ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Super Junior vào năm 2005. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và rời khỏi công ty vào năm 2009.
  8. ^ Jessica ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Girls' Generation vào năm 2007. Cô ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 9 năm 2014 và rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 8 năm 2015.
  9. ^ Kibum ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Super Junior vào năm 2005. Anh ngừng hoạt động cùng nhóm vào năm 2009 và rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 8 năm 2015.
  10. ^ Stephanie ra mắt công chúng với tư cách thành viên của The Grace vào năm 2005. Cô rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 5 năm 2016.
  11. ^ Kris ra mắt công chúng với tư cách thành viên của EXO vào năm 2012. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 5 năm 2014, sau đó rời khỏi công ty vào tháng 7 năm 2016.
  12. ^ Luhan ra mắt công chúng với tư cách thành viên của EXO vào năm 2012. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 10 năm 2014, sau đó rời khỏi công ty vào tháng 7 năm 2016.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă allkpop.com (ngày 14 tháng 4 năm 2011). “SM, YG, & JYP Entertainment earned a combined revenue of $150 million USD in 2010”. Naver. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ (tiếng Hàn) The Star (ngày 31 tháng 5 năm 2012). “The Sales Revenue From SM, YG and JYP Entertainment Revealed”. The Star. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ (tiếng Hàn) Star News (ngày 4 tháng 3 năm 2013). “SM·YG, 2012년 '사상최대' 총매출 2682억·순이익 543억”. Star News. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ “How much profit did SM Entertainment and YG Entertainment earn in 2012? allkpop.com”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ “Who brings in the most money from the 'Top 3' labels? allkpop.com”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ Friedrichsen, Mike; Mühl-Benninghaus, Wolfgang (2013). Handbook of Social Media Management: Value Chain and Business Models in Changing Media Markets. Berlin: Springer Science & Business Media. tr. 553. ISBN 978-3-642-28896-8. 
  7. ^ “소년공화국 "이름 때문에 북한 아이돌 아니냐더라". Daum 연예. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ “After 20 years, S.M. Entertainment to expand overseas base”. koreatimes. 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  9. ^ Koh Young-aah "Super Junior members set to make move into musicals" Korea Herald. 30 May 2008. Retrieved 3 April 2012.
  10. ^ Kun-ouc, Park (25 tháng 2 năm 2010). “Lee Soo-man steps down from SM board of directors”. 10 Asia. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  11. ^ "Korean Music Power: KMP Holdings Co. Ltd. Launched!" Maeil Kyungje. 18 March 2010. Retrieved 2012-10-06 (tiếng Hàn)
  12. ^ Kim, Lynn (13 tháng 5 năm 2010). “SM Entertainment records biggest Q1 profit”. 10 Asia. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ “SM 엔터, 태국서 첫 해외 합작법인 'SM True' 설립” [SM Entertainment establishes joint venture company with Thailand’s True Visions Group, ‘SM True’]. Naver News (bằng tiếng Korean). 17 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  14. ^ “SM 새 그룹 EXO, 30일 프롤로그 싱글 공개”. 네이트뉴스 (bằng tiếng ko-KR). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  15. ^ Mun, Wan-Sik (27 tháng 2 năm 2012). “SM Entertainment takes over travel agency”. Star News. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  16. ^ “S.M.Global Package On Sale!”. www.smtowntravel.com. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ Kim, JiYeon "SM Artists Take on SM Stock" Mnet News. 27 March 2012. Retrieved 30 March 2012.
  18. ^ Kim, Hyung-eun (10 tháng 8 năm 2012). “Fantasies come true at the high-tech S.M.ART exhibit”. Joongang Daily. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  19. ^ Lee, JinHo (17 tháng 8 năm 2012). “Kang Ho Dong Announces Return by Signing with SM C&C”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  20. ^ Choi, Eunhwa (18 tháng 8 năm 2012). “Three Reasons Why Kang Ho Dong Signed with SM”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  21. ^ Ho, Stewart (19 tháng 9 năm 2012). “SM C&C Takes Over AM Entertainment – Home to Jang Dong Gun, Kim Ha Neul and Others”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  22. ^ Ho, Stewart (19 tháng 9 năm 2012). “Lee Su Geun, Kim Byung Man Join Kang Ho Dong at SM C&C?”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  23. ^ Aysohmay (9 tháng 8 năm 2013). “SM Entertainment Acquires Woollim Entertainment, Creates New Sublabel”. Jpopasia. Jpopasia. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  24. ^ “KPOP NEWS - Exclusive Super Junior Label ′Lable SJ′ Established for 10th Anniversary”. Mwave. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  25. ^ “SM Entertainment opens up-scale restaurant SMT Seoul - Pulse by Maeil Business News Korea”. pulsenews.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  26. ^ “SM Entertainment’s next boy band to have ‘unlimited’ members”. kpopherald.koreaherald.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  27. ^ “S. Korea firm unveils K-pop band with limitless members”. www.yahoo.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  28. ^ “SM's new K-pop band NCT U to debut this week”. koreatimes. 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  29. ^ “SM’s EDM label to drop first track”. The Korea Herald. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  30. ^ “SM, EDM레이블 'ScreaM Records' 설립..5월6일 첫곡 발표”. Naver. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ Yi, Lily. “Introducing NCT: How SM Entertainment is taking advantage of digital platforms to take over the global entertainment market”. www.koreadailyus.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  32. ^ “SMTOWN”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  33. ^ 기사입력2015.08.07 오후 2:16. “SM "설리, f(x) 탈퇴 결정..연기 활동에 집중할 것"[공식입장]:: 네이버 TV연예” (bằng tiếng Hàn). Entertain.naver.com. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2016. 
  34. ^ “SM Rookies”. S.M. Entertainment. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  35. ^ “Heo Young Saeng’s Web of Celebrity Friends”. enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013. 
  36. ^ “Kara’s Park Gyuri Says She Almost Debuted With CSJH’s Dana”. enewsWorld. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  37. ^ Choi, EunHwa (9 tháng 5 năm 2012). “G-Dragon was Actually a SM Trainee?”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  38. ^ “[Interview] Gong Seung Yeon Opens Up About Trainee Days with Red Velvet′s Seulgi, SUJU′s Henry and f(x)′s Sulli”. enewsWorld. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  39. ^ “프로듀스 101 유연정, 소녀시대 '다시 만난 세계' 완벽 소화… 제아의 인정 받아”. ChosunBiz (bằng tiếng Korean). ChosunBiz. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016. 
  40. ^ “SM Entertainment signs partnership with 'Kakao'. allkpop. Ngày 10 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013. 
  41. ^ Media Asia Music

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]