Kim Tae-yeon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taeyeon
Kim Tae-yeon at Style Icon Asia 2016 03.jpg
Taeyeon tại lễ trao giải Style Icon Asia lần thứ 8 vào tháng 3 năm 2016
Sinh Kim Tae-yeon
9 tháng 3, 1989 (27 tuổi)
Jeonju, Hàn Quốc
Công việc
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Năm hoạt động 2007-nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 김태연
Hanja
Romaja quốc ngữ Kim Tae-yeon
McCune–Reischauer Kim T'aeyŏn
Hán-Việt Kim Thái Nghiên

Kim Tae-yeon (sinh ngày 9 tháng 3 năm 1989), thường được biết đến với nghệ danh Taeyeon, là một ca sĩ và diễn viên Hàn Quốc, thành viên lớn tuổi nhất và cũng là nhóm trưởng nhóm nhạc nữ Girls' Generation. Cô còn là thành viên nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS, cũng như nhóm nhạc đặc biệt SM the Ballad của S.M. Entertainment. Cô cũng đã ghi âm nhiều bài hát nhạc phim cho các bộ phim truyền hình và điện ảnh, đồng thời xuất hiện trong nhiều chương trình phát thanh và truyền hình. Taeyeon bắt đầu hoạt động với tư cách là một ca sĩ solo vào tháng 10 năm 2015 với bài hát "I" nằm trong mini-album đầu tay cùng tên của mình.

Tiểu sử

Taeyeon được sinh ra vào ngày 9 tháng 3 năm 1989[1] tại thành phố Jeonju, Hàn Quốc. Gia đình của cô gồm bố mẹ, một người anh trai[2][3] và một người em gái.

Vào lúc 13 tuổi, Taeyeon phát hiện ra rằng "tài năng duy nhất của cô là ca hát".[4] Cô đăng ký vào SM Academy khi đang học trung học và đi từ Jeonju đến Seoul mỗi chủ nhật hàng tuần để học thanh nhạc.[5][6] Năm 2004, giảng viên thanh nhạc lúc đó của Taeyeon, Jung Sun Won, nghệ danh The One, "muốn tài năng của cô được công nhận" và tạo cơ hội để cô được hát cùng mình trong bài hát "You Bring Me Joy".[7][8][9][10] Sau đó, cô giành giải nhất tại cuộc thi SM Youth Best Competition[11] và chính thức ký hợp đồng với và bắt đầu luyện tập tại S.M. Entertainment.[6] Cuối cùng, cô ra mắt công chúng với tư cách là thành viên của nhóm nhạc nữ Girls' Generation vào năm 2007.[6][12][13] Năm 2008, Taeyeon tốt nghiệp trường Trung học Nghệ thuật Jeonju và nhận được giải thưởng thành tựu trọn đời của trường.[14]

Trước khi ra mắt, Taeyeon được truyền cảm hứng trở thành nghệ sĩ từ BoA. Cô "muốn được như BoA và hoạt động ở Nhật Bản cũng như trên toàn thế giới". Điều này trở thành hiện thực khi Girls' Generation bắt đầu hoạt động tại Nhật Bản vào năm 2010.[15][16]

Sự nghiệp

2007–11: Girls' Generation và các hoạt động cá nhân

Taeyeon biểu diễn tại trường Đại học Hanyang vào năm 2009

Taeyeon ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation vào tháng 7 năm 2007. Do những áp lực từ vị trí trưởng nhóm,[17] cô đã mắc chứng mộng du trong một thời gian.[18][19] Bên cạnh các hoạt động của nhóm, Taeyeon cũng tham gia vào một số hoạt động cá nhân. Năm 2008, Taeyeon phát hành hai bài hát solo bao gồm "If", nhạc phim của bộ phim truyền hình Hong Gil Dong[20] và "Can You Hear Me", nhạc phim của bộ phim truyền hình Beethoven Virus.[21] "If" trở nên nổi tiếng[22][23] trên nhiều bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến, còn "Can You Hear Me" thì nhận được giải thưởng YEPP Popularity Award tại lễ trao giải Golden Disk Awards năm 2008.[24] Ngoài ra, Taeyeon còn song ca với nghệ sĩ cùng công ty Kangta trong bài hát "7989". Bài hát xuất hiện trong cả album đầu tay của Girls' Generation và album Eternity của Kangta. Tháng 4 năm 2008, Taeyeon trở thành người dẫn chương trình của chương trình phát thanh Kangin, Taeyeon's Chin Chin Radio cùng với Kangin, nghệ sĩ cùng công ty và thành viên nhóm nhạc nam Super Junior.[25] Sau khi Kangin ngừng tham gia vào tháng 4 năm 2009, Taeyeon trở thành người dẫn chương trình duy nhất và chương trình được đổi tên thành Taeyeon's Chin Chin Radio.[26][27][28] Chương trình kết thúc vào tháng 4 năm 2010.[29]

Taeyeon biểu diễn tại Nongshim Concert vào tháng 11 năm 2011

Tháng 1 năm 2009, Taeyeon tham gia chương trình truyền hình thực tế We Got Married cùng với nghệ sĩ hài Jeong Hyeong-don. Trong chương trình, họ đóng giả một cặp vợ chồng và sống với nhau như vừa mới kết hôn.[30] Sau đó cô xuất hiện trong bài hát "Seoul" bên cạnh các thành viên cùng nhóm Jessica, Sunny, SooyoungSeohyun cũng như một số thành viên của Super Junior nhằm mục đích quảng bá cho ngành du lịch của thành phố Seoul, Hàn Quốc.[31] Tháng 9 năm 2009, Taeyeon song ca với Sunny trong bài hát "It's Love", nhạc phim của bộ phim truyền hình Heading to the Ground.[32]

Từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2010, Taeyeon trở thành người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình Win Win cùng với Choi Hwa-jung, Kim Shin-young, Kim Seung-woo và thành viên nhóm nhạc nam 2PM Wooyoung.[33][34] Ngày 7 tháng 5 năm 2010, cô lần đầu tiên tham gia diễn xuất trên sân khấu kịch trong vở nhạc kịch Midnight Sun, với nội dung dựa trên cuốn tiểu thuyết Nhật Bản Taiyō no uta của tác giả Aya Denkawa.[35][36] Vai diễn của cô là Kaoru Amane, một cô gái 17 tuổi bị mắc căn bệnh khô da sắc tố nên không thể ra ngoài trời vào ban ngày. Cô tìm nghị lực sống bằng việc sáng tác nhạc và biểu diễn tại một nhà ga tàu hỏa vào mỗi tối. Taeyeon phải học chơi đàn ghita để tham gia vào vở nhạc kịch[37] và đã nhận được những phản ứng tích cực cho vai diễn của mình.[38] Chia sẻ về trải nghiệm này, Taeyeon cho biết đối với cô, việc phải vừa diễn xuất vừa hát là rất khó.[39][40] Về âm nhạc, Taeyeon song ca với giảng viên thanh nhạc trước đây của mình, The One, trong bài hát "Like a Star",[41] cũng như phát hành bài hát solo "I Love You", nhạc phim của bộ phim truyền hình Athena: Goddess of War.[42] Hai bài hát lần lượt đạt vị trí thứ nhất và thứ hai trên bảng xếp hạng nhạc số hàng tuần của Gaon.[43][44]

Năm 2011, Taeyeon song ca với Kim Bum-soo trong bài hát "Different". Bài hát đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng nói trên.[45][46] Hai ca sĩ gặp lại nhau 2 năm sau đó và song ca bài hát "Man and Woman" tại một concert.[47]

2012–14: Girls' Generation-TTS và SM The Ballad

Taeyeon biểu diễn trong concert Märchen Fantasy của Girls' Generation vào tháng 12 năm 2013

Taeyeon tham gia vào việc lồng tiếng cho bộ phim hoạt hình Despicable Me (2010) và phần tiếp theo Despicable Me 2 (2013) cùng với thành viên cùng nhóm Seohyun lần lượt trong các vai Margo và Edith.[48][49] Ngày 28 tháng 3 năm 2012, cô phát hành bài hát "Missing You Like Crazy", nhạc phim của bộ phim truyền hình The King 2 Hearts. Bài hát đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng nhạc số hàng tuần của Gaon và bảng xếp hạng K-Pop Hot 100 của Billboard,[50][51] đồng thời được chọn là bài hát nhạc phim nổi tiếng nhất tại lễ trao giải Seoul Drama Awards năm 2012.[52] Ngoài ra, Taeyeon còn phát hành bài hát "Closer", nhạc phim của bộ phim truyền hình To the Beautiful You.[53] Bài hát đạt vị trí thứ 7 trên cả hai bảng xếp hạng trên.[54][55]

Tháng 5 năm 2012, Taeyeon trở thành thành viên của nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS cùng với các thành viên cùng nhóm TiffanySeohyun với mini-album đầu tay Twinkle.[56] Cả ba thành viên trở thành người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình âm nhạc Music Core từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013.[57][58]

Ngày 12 tháng 3 năm 2013, Taeyeon phát hành bài hát "And One", nhạc phim của bộ phim truyền hình That Winter, the Wind Blows.[17] Bài hát lần lượt đạt vị trí thứ nhất và thứ hai trên bảng xếp hạng K-Pop Hot 100 của Billboard và bảng xếp hạng nhạc số hàng tuần của Gaon.[59][60] Ngày 9 tháng 7 năm 2013, Taeyeon tiếp tục phát hành bài hát "Bye", nhạc phim của bộ phim điện ảnh Mr. Go.[61]

Tháng 2 năm 2014, Taeyeon tham gia vào nhóm nhạc ballad SM the Ballad được thành lập từ năm 2010.[62] Trong album thứ hai của nhóm, SM the Ballad Vol. 2 – Breath, cô song ca với Jonghyun, thành viên nhóm nhạc nam SHINee trong bài hát chủ đề "Breath",[63] đồng thời xuất hiện trong bài hát solo "Set Me Free".[62] "Breath" lọt vào top 10 trên cả bảng xếp hạng nhạc số hàng tuần của Gaon và bảng xếp hạng K-Pop Hot 100 của Billboard.[64][65] Tháng 3 năm 2014, Taeyeon thu âm bài hát "Colorful" cho chiến dịch "The World Is More Beautiful Because We're Different" của kênh truyền hình JTBC.[66][67]

Ngày 30 tháng 5 năm 2014, Taeyeon phát hành bài hát "Love, that One Word", nhạc phim của bộ phim truyền hình You're All Surrounded. Bài hát cũng lọt vào top 10 trên các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến.[68][69]

2015–nay: Hoạt động với tư cách ca sĩ solo

Taeyeon biểu diễn trong chương trình KBS Gayo Daechukjae vào tháng 12 năm 2015

Tháng 1 năm 2015, Taeyeon được trao giải thưởng Ca khúc chủ đề phim truyền hình Hallyu hay nhất tại lễ trao giải Seoul International Drama Awards lần thứ 10. Tháng 2 năm 2015, cô góp mặt trong bài hát "Shake that Brass" của Amber, nghệ sĩ cùng công ty và thành viên nhóm nhạc nữ f(x).[70] Tháng 9 năm 2015, cô song ca với Yim Jae-beom trong bài hát "Scars Deeper Than Love".[71]

Tháng 10 năm 2015, Taeyeon bắt đầu hoạt động với tư cách là một ca sĩ solo với việc phát hành mini-album đầu tay I[72] cũng như tổ chức concert Taeyeon's Very Special Day tại SM COEX Artium.[73] Cả mini-album và bài hát chủ đề cùng tên đều đạt vị trí thứ nhất lần lượt trên bảng xếp hạng album và bảng xếp hạng nhạc số tháng 10 năm 2015 của Gaon.[74][75] Bài hát cũng giành chiến thắng 11 lần trên các chương trình âm nhạc.[76] Concert cũng nhanh chóng bán hết vé và được bổ sung thêm một buổi diễn.[77] Tháng 11 năm 2015, Taeyeon góp mặt trong bài hát "If the World Was a Perfect Place" nằm trong album thứ 6 của Verbal Jint.[78] Ngày 2 tháng 12 năm 2015, Taeyeon giành chiến thắng tại hạng mục Nghệ sĩ nữ xuất sắc nhất tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 17.[79]

Tháng 1 năm 2016, Taeyeon nhận được các giải thưởng Bonsang tại lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 25 và Digital Bonsang tại lễ trao giải Golden Disk Awards lần thứ 30.[80][81] Cô cũng được thông báo là đang trong quá trình sản xuất một album solo mới.[82] Ngày 22 tháng 1, Taeyeon góp mặt trong bài hát "Don't Forget" của nam ca sĩ Crush.[83] Bài hát giành chiến thắng trên chương trình âm nhạc Show Champion vào ngày 27 tháng 1.[84] Tháng 2 năm 2016, Taeyeon phát hành bài hát "Rain", mở đầu cho dự án Station của S.M. Entertainment.[85] Bài hát giành chiến thắng trên chương trình âm nhạc Inkigayo vào ngày 14 tháng 2 và xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng nhạc số hàng tuần của Gaon ở vị trí thứ nhất.[86][87]

Tháng 6 năm 2016, Taeyeon phát hành mini-album thứ hai Why với hai đĩa đơn "Starlight" và "Why".[88] Tháng 7 năm 2016, cô bắt đầu tổ chức chuyến lưu diễn solo "Butterfly Kiss" và trở thành thành viên nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên thực hiện được điều này.[89]

Đời tư

Tháng 2 năm 2014, Taeyeon bắt đầu một mối quan hệ tình cảm với Baekhyun, nghệ sĩ cùng công ty và thành viên nhóm nhạc nam EXO.[90] Tháng 9 năm 2015, xuất hiện thông tin là họ đã chia tay nhưng việc này vẫn chưa được S.M. Entertainment xác nhận.[91]

Danh sách đĩa nhạc

  • I (2015)
  • Why (2016)

Danh sách phim

Phim điện ảnh

Năm Phim Vai Ghi chú
2010 Despicable Me Margo (lồng tiếng) Phiên bản tiếng Hàn
2012 I AM. – SM Town Live World Tour in Madison Square Garden Chính mình Phim tài liệu về SM Town[92]
2013 Despicable Me 2 Margo (lồng tiếng) Phiên bản tiếng Hàn
2014 My Brilliant Life Chính mình Khách mời[93]
2015 SMTown the Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town[94]

Phim truyền hình

Năm Phim Kênh Vai Ghi chú
2008 Unstopable Marriage KBS Công chúa Bulgwang-dong Khách mời; tập 64
2012 Salamander Guru and the Shadow SBS Chính mình Khách mời; tập 3
2015 The Producers KBS Chính mình Khách mời; tập 1

Chương trình truyền hình

Năm Tên chương trình Kênh Vai trò Ghi chú
2009 We Got Married MBC Chính mình Mùa 1; tập 42–54
2010 Win Win KBS Dẫn chương trình
2012–13 Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2014 Hidden Singer JTBC Thí sinh[95] Mùa 3
The TaeTiSeo OnStyle Chính mình Cùng với Girls' Generation-TTS
2015 Channel Girls' Generation OnStyle Chính mình Cùng với Girls Generation
dailytaeng9cam OnStyle Chính mình

Sân khấu kịch

Năm Vở kịch Vai Ghi chú
2010 Midnight Sun Kaoru Amane Nữ chính

Giải thưởng và đề cử

Kể từ khi ra mắt công chúng với tư cách là thành viên của Girls' Generation, Taeyeon đã nhận được nhiều đề cử và giải thưởng cho các hoạt động cá nhân của mình trong các lĩnh vực nhạc phim, dẫn chương trình phát thanh và sân khấu nhạc kịch. Sau khi bắt đầu hoạt động với tư cách là ca sĩ solo, cô đã giành chiến thắng ở hạng mục Nghệ sĩ nữ xuất sắc nhất tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 17, cũng như hạng mục Bonsang tại các lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 25 và Golden Disk Awards lần thứ 30.[96][97][98]

Chú thích

  1. ^ Mark Russell (ngày 29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 72. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ SNSD’s Taeyeon Has the Full Support of Her Brother (in Korean) Osen.co.kr (ngày 30 tháng 1 năm 2012). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014.
  3. ^ SNSD’s Taeyeon Has the Full Support of Her Brother (English translation) Soompi.com (ngày 30 tháng 1 năm 2012). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014.
  4. ^ TaeTiSeo shares hidden stories of pre-debut time Kpopherald.com (ngày 22 tháng 10 năm 2014). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  5. ^ SM Academy's Lee Solim Interview (in Korean) Originally from SM-Academy.com (ngày 10 tháng 3 năm 2010). Archived on ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2014.
  6. ^ a ă â Schools for stardom groom pop wannabes Korea JoongAng Daily (ngày 18 tháng 1 năm 2008). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2015.
  7. ^ Taeyeon featured in The One's 2nd album in 2004 (in Korean) Nocutnews.co.kr (ngày 19 tháng 3 năm 2008). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
  8. ^ "The One" talks about Taeyeon (in Korean) Osen.co.kr (ngày 26 tháng 1 năm 2011). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014.
  9. ^ "The One" talks about Taeyeon (in Korean) Newsen.com (ngày 26 tháng 1 năm 2011). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014.
  10. ^ Taeyeon's mentor, 'The One,' praises her talents Allkpop.com (ngày 31 tháng 1 năm 2011). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014.
  11. ^ Girls' Generation Making Its American Dream Come True Billboard (ngày 13 tháng 11 năm 2011). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  12. ^ Girls' Generation's 7th member Taeyeon is revealed (in Korean) Newsen.com (ngày 13 tháng 7 năm 2007). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  13. ^ Taeyeon and "Midnight Sun" Musical (in Korean). Originally from Themusical.co.kr (May 2010). Archived on ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014
  14. ^ Taeyeon's high school graduation & Lifetime Achievement Award (in Korean), Originally from Mydaily.co.kr (ngày 5 tháng 2 năm 2008). Archived on ngày 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014.
  15. ^ Girls' Generation's Memoirs (in Japanese). Japan: 蒼竜社(Souryuu Publishing). Ngày 12 tháng 11 năm 2010. tr. 72. ISBN 9784883863877. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  16. ^ Taeyeon “I dreamt of becoming a singer after I saw BoA sunbaenim” (in Korean) Newsen.com (ngày 18 tháng 3 năm 2009). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  17. ^ a ă Girls' Generation Leader Tae Yeon Eyes Solo Success With 'And One' Billboard (ngày 16 tháng 3 năm 2013). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  18. ^ “10 secrets of Girls' Generation”. Jisin Magazine (in Japanese) (Japan). Ngày 12 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015. 
  19. ^ Strong Heart Episode 11”. Strong Heart (bằng tiếng Korean). Seoul, South Korea. Ngày 15 tháng 12 năm 2009. SBS. 
  20. ^ Hong Gil Dong OST (KBS TV Drama) YesAsia.com (ngày 27 tháng 3 năm 2012). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  21. ^ Beethoven Virus OST Special Edition (MBC TV Drama) YesAsia.com (ngày 21 tháng 1 năm 2009). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  22. ^ Girls' Generation's Taeyeon first solo song "If" gains popularity (in Korean) Newsen.com (ngày 30 tháng 1 năm 2008). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  23. ^ Girls' Generation's Taeyeon first solo song "If" gains popularity (in Korean) Originally from Mydaily.co.kr (ngày 3 tháng 3 năm 2008). Archived on ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  24. ^ TVXQ, "Golden Disk" Main Award...Other Award-Popularity Award; Triple Crown King (in Korean). Originally from MyDaily.co.kr (ngày 10 tháng 12 năm 2008). Archived on ngày 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  25. ^ Girls' Generation Taeyeon debuted as a DJ (in Korean) Newsen.com (ngày 7 tháng 4 năm 2008). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  26. ^ Girls' Generation Dominates MBC The Korea Times (ngày 20 tháng 5 năm 2009). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
  27. ^ SNSD's Taeyeon draws attention with her poses and celebrity connections (in Korean) Originally from Artsnews.mk.co.kr (ngày 10 tháng 3 năm 2011). Archived on ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  28. ^ SNSD's Taeyeon draws attention with her poses and celebrity connections (English translation) Originally from Koreaboo.com (ngày 25 tháng 5 năm 2011). Archived on ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  29. ^ Taeyeon is withdrawing from MBC Chinchin radio as a DJ (in Korean) Star.mt.co.kr (ngày 19 tháng 4 năm 2010). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010.
  30. ^ We Got Married Jung Hyungdon—Taeyeon Wedding News Causes Viewers' Uproar (in Korean) Chosun Ilbo (ngày 7 tháng 1 năm 2009). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  31. ^ Girls' Generation and Super Junior's "Seoul Song" on SM Entertainment's Official YouTube Channel YouTube.com (ngày 7 tháng 7 năm 2011). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  32. ^ Taeyeon & Sunny released "It's Love for Heading to the Ground OST Asiae.co.kr (ngày 24 tháng 9 năm 2009). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  33. ^ '승승장구' 태연 "강동원 섭외했으면" 러브콜 Chosun.com (ngày 4 tháng 2 năm 2010). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  34. ^ 태연·우영 하차, '승승장구'다운 마무리 '훈훈' Chosun.com (ngày 4 tháng 8 năm 2010). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  35. ^ SNSD lead lands musical role Originally from Joongangdaily.joins.com (ngày 18 tháng 3 năm 2010). Archived on ngày 12 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014.
  36. ^ Taeyeon To Have A Musical Debut! Cast For Main Female Role (in Korean) Newsen.com (ngày 15 tháng 3 năm 2010). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010.
  37. ^ 소녀, 자유를 꿈꾸다, <태양의 노래>의 김태연 (No.80) (in Korean), The Musical. ngày 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010
  38. ^ Girls’ Generation singer makes theatrical debut Originally from Joongangdaily.joins.com (ngày 12 tháng 5 năm 2010). Archived on ngày 11 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014.
  39. ^ Girls' Generation's Taeyeon reveals she doesn't want to do musicals Allkpop.com (ngày 18 tháng 2 năm 2014). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014.
  40. ^ “The Music Interview for SM The Ballad Vol. 2 Breath”. The Music Interview (bằng tiếng Korean). Seoul, South Korea. Ngày 18 tháng 2 năm 2014. Mnet. 
  41. ^ Girls' Generation Taeyeon and vocal teacher The One's “Like a Star” achieves "all-kill" (in Korean) Newsen.com (ngày 19 tháng 11 năm 2010). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
  42. ^ Taeyeon's "I Love You" for Athena: Goddess of War OST (in Korean) Newsen.com (ngày 14 tháng 12 năm 2010). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
  43. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for November 21-27, 2010 (in Korean) Gaon (November 2010). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  44. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for December 12-18, 2010 (in Korean) Gaon (December 2010). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  45. ^ Kim Bum-soo and Taeyeon's "Different" reaches number 1 on the charts (in Korean) Osen.co.kr (ngày 5 tháng 2 năm 2011). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2012.
  46. ^ South Korea's Gaon Digital Chart for ngày 30 tháng 1 năm 2011 - ngày 5 tháng 2 năm 2011 (in Korean) Originally from Gaonchart.co.kr (February 2011). Archived on ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014.
  47. ^ Kim Bum-soo & Taeyeon sing a duet "Man and Woman" in concert (in Korean) Osen.co.kr (ngày 22 tháng 11 năm 2013). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
  48. ^ Girls' Generation's Taeyeon and Seohyun cast as voice actors for Despicable Me (in Korean) Newsen.com (ngày 17 tháng 5 năm 2010). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
  49. ^ Girls Generation Taeyeon and Seohyun to throw first pitch BNTNews.co.uk (ngày 28 tháng 8 năm 2013). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015.
  50. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for March 25-31, 2012 (in Korean) Gaon (March 2012). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  51. ^ Billboard's Korea K-Pop Hot 100 for ngày 14 tháng 4 năm 2012 Billboard (April 2012). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  52. ^ Taeyeon's "Missing You Like Crazy" won at the “2012 Seoul Drama Awards” (in Korean) Newsen.com (ngày 30 tháng 8 năm 2012). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
  53. ^ Taeyeon & Dana participate in the "To The Beautiful You" OST (in Korean) Osen.co.kr (ngày 4 tháng 9 năm 2012). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
  54. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for September 2-8, 2012 (in Korean) Gaon (September 2012). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  55. ^ Billboard's Korea K-Pop Hot 100 for ngày 22 tháng 9 năm 2012 Billboard (September 2012). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  56. ^ Subgroup "TTS", formed by Girls' Generation's Taeyeon, Tiffany & Seohyun, debuts in May (in Korean) Daum.net (ngày 19 tháng 4 năm 2012). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  57. ^ Girls' Generation-TTS quit being MCs on Music Core after one year (in Korean) Chosun.com (ngày 3 tháng 4 năm 2013). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  58. ^ Girls' Generation-TTS's last appearance on Music Core as MCs (in Korean) Chosun.com (ngày 13 tháng 4 năm 2013). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015.
  59. ^ Korea K-Pop Hot 100 for Mar 30, 2013 Originally from Billboard. Archived on ngày 11 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014.
  60. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for March 10-16, 2013 (in Korean) Gaon (March 2013). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  61. ^ SNSD′s Taeyeon to Sing for ′Mr. Go′ Mwave.interest.me (ngày 3 tháng 7 năm 2013). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
  62. ^ a ă SM ballad artists serenade fans in joint recital Koreaherald.com (ngày 13 tháng 2 năm 2014). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  63. ^ SM group to release sophomore album ‘Breath’ next week Koreaherald.com (ngày 5 tháng 2 năm 2014). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015.
  64. ^ South Korea's Gaon music chart's total weekly singles sales for February 9-15, 2014 (in Korean) Gaon (February 2014). Archived on ngày 31 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014.
  65. ^ List of K-Pop Hot 100 singles for ngày 1 tháng 3 năm 2014 Billboard (March 2014). Archived on ngày 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014.
  66. ^ Taeyeon Sings ‘Colorful’ for JTBC Campaign Song Soshified.com (ngày 3 tháng 3 năm 2014). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  67. ^ Taeyeon Sings ‘Colorful’ for JTBC Campaign Song (in Korean) Osen.mt.co.kr (ngày 3 tháng 3 năm 2014). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  68. ^ South Korea's Gaon music digital chart's for June 1-7, 2014 (in Korean) Gaon (June 2014). Archived on ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  69. ^ Billboard's K-Pop Hot 100 for ngày 4 tháng 6 năm 2014 Originally from Billboard.co.kr (June 2014). Archived on ngày 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
  70. ^ “f(x)′s Amber Announces ′Shake that Brass′ as Title Song Feat. SNSD′s Taeyeon”. CJ E&M enewsWorld. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015. 
  71. ^ “Yim Jae Bum and SNSD Taeyeon′s ′Scars Deeper Than Love′ Rising Quickly on Music Charts”. CJ E&M enewsWorld. Ngày 10 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015. 
  72. ^ Lim Jeong-yeo (ngày 30 tháng 9 năm 2015). “SNSD’s Taeyeon to launch her first solo album”. Kpop Herald. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2015. 
  73. ^ “Girls' Generation's Taeyeon releases first solo”. www.movienewsguide.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015. 
  74. ^ “2015년 10월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015. 
  75. ^ “2015년 10월 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  76. ^ “Taeyeon Takes 11th Music Show Win for “I” on “Inkigayo””. Soompi. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  77. ^ “Taeyeon displays her ridiculous popularity with solo concert ticket sales”. Koreaboo. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  78. ^ “버벌진트, 4년만에 신곡 공개…소녀시대 태연·블랙넛 등 참여”. 글로벌 '모바일 No1' 아시아투데이. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015. 
  79. ^ “[2015 MAMA] SNSD’s Taeyeon Wins Best Female Artist, J.Y. Park Wins Best Male Artist”. mwave. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015. 
  80. ^ “EXO get Daesang + Winners from the '25th Seoul Music Awards'!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  81. ^ “Big Bang win 'Digital Single of the Year' + Winners from the '30th Golden Disk Awards' (Day 1)!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 20 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  82. ^ “Is Taeyeon making her solo comeback and Tiffany with a solo debut soon?”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  83. ^ “Crush asks 'Don't Forget' in beautiful MV ft. Taeyeon”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 22 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2016. 
  84. ^ “Crush wins with his track featuring Taeyeon on 'Show Champion'!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 27 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  85. ^ “Girls' Generation's Taeyeon sings in the 'Rain' in MV!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  86. ^ “Taeyeon wins #1 on SBS' 'Inkigayo' + performances from WINNER, 4minute, AOA Cream & more”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  87. ^ “2016년 06주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  88. ^ Jeon Won (ngày 23 tháng 6 năm 2016). "음원퀸 귀환" 태연, 25일 딘 피처링 '스타라이트' 선공개”. My Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2016. 
  89. ^ “태연, 첫 단독 콘서트 ‘TAEYEON, Butterfly Kiss’ 개최”. Sports DongA (bằng tiếng Hàn). Ngày 24 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  90. ^ Ock Hyun-ju (ngày 19 tháng 6 năm 2014). “SM confirms EXO‘s Baekhyun and SNSD’s Taeyeon dating”. The Korea Herald. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  91. ^ Ko Ji-seon (ngày 15 tháng 9 năm 2015). “Girls’ Generation members break up in a row”. The Korea Herald. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2015. 
  92. ^ Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes The Chosun Ilbo (May 2, 2012). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014.
  93. ^ TaeTiSeo makes a cameo appearance in Kang Dong Won's movie My Brilliant Life (in Korean) Hankooki.com (August 21, 2014). Truy cập August 21, 2014.
  94. ^ 'SM타운' 공연실황 다큐, 8월13일 국내개봉 확정 (in Korean).
  95. ^ Taeyeon to Appear on Season Three of ‘Hidden Singer’ Soshified.com (May 17, 2014). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014.
  96. ^ “[2015 MAMA] SNSD’s Taeyeon Wins Best Female Artist, J.Y. Park Wins Best Male Artist”. mwave. Ngày 2 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016. 
  97. ^ “EXO get Daesang + Winners from the '25th Seoul Music Awards'!”. allkpop. Ngày 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016. 
  98. ^ “Big Bang win 'Digital Single of the Year' + Winners from the '30th Golden Disk Awards' (Day 1)!”. allkpop. Ngày 20 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016. 

Liên kết ngoài