Bước tới nội dung

Lee Tae-min

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Taemin)
Taemin
Taemin vào năm 2024
SinhLee Taemin
18 tháng 7, 1993 (32 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Học vịĐại học Myongji
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • vũ công
  • diễn viên
  • người mẫu
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Năm hoạt động2008–nay
Hãng đĩa
Thành viên của
Cựu thành viên của
WebsiteWebsite chính thức
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
이태민
Hanja
李泰民
Romaja quốc ngữI Tae-min
McCune–ReischauerYi Tae-min
Hán-ViệtLý Thái Dân
Chữ ký

Lee Tae-min (Hangul: ; sinh ngày 18 tháng 7 năm 1993) là một nam ca sĩ, vũ công, diễn viên người Hàn Quốc. Anh là thành viên của nhóm nhạc nam Hàn Quốc SHINee và nhóm nhạc đặc biệt SuperM do SM Entertainment thành lập và quản lý. Anh được các phương tiện truyền thông gắn mác là "Thần tượng của các thần tượng" do anh đã truyền cảm hứng cho rất nhiều thần tượng khác.[1][2] Với tư cách là một diễn viên, vai diễn đầu tiên của Taemin là Junsu trong bộ phim hài Những Bà Nội Trợ Vui Nhộn của đài MBC năm 2009.

Taemin ra mắt với tư cách nghệ sĩ solo vào năm 2014 với EP đầu tay Ace. Album đạt vị trí số một trên Bảng xếp hạng Gaon, và đĩa đơn chủ đạo "Danger" đạt vị trí thứ năm trên Bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon. Album phòng thu đầu tiên của anh, Press It (2016), cũng đạt vị trí số một trên Gaon. Taemin ra mắt solo tại Nhật Bản vào tháng 7 năm 2016 với việc phát hành EP thứ hai, Sayonara Hitori. Một năm sau, EP thứ ba Flame of Love được phát hành.

Vào tháng 10 năm 2017, Taemin phát hành album phòng thu tiếng Hàn thứ hai Move, và ca khúc chủ đề đã gây được sự chú ý nhờ vũ đạo đặc trưng. Năm 2018, Taemin phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên Taemin, và bắt đầu chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên mang tên Sirius. Album phòng thu tiếng Hàn thứ ba Never Gonna Dance Again (2020), với các đĩa đơn "Criminal" và "Idea", được giới phê bình đánh giá là một trong những album K-pop hay nhất năm 2020. Tiếp theo là các EP Advice (2021), Guilty (2023) và Eternal (2024).

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Taemin sinh ngày 18 tháng 7 năm 1993 tại thủ đô Seoul, Hàn Quốc.

Taemin học tiếng Trung tại Bắc Kinh vào năm 2007. Tháng 3 năm 2011, Taemin chuyển từ Trung học Chungdam sang Trung học Nghệ thuật Hanlim để theo kịp lịch trình bận rộn với kế hoạch Nhật tiến của SHINee[3] và đã tốt nghiệp vào tháng 2 năm 2012. Taemin hiện đang theo học chuyên ngành âm nhạc và điện ảnh tại Đại học Myongji chuyên ngành Điện ảnh và Nhạc kịch.[4] Taemin theo đạo Công giáo.[5]

Nghĩa vụ quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 19 tháng 4 năm 2021, Taemin thông báo nhập ngũ vào ngày 31 tháng 5 trong một buổi phát sóng trên V Live với tư cách là thành viên của ban nhạc quân đội.[6][7] Ngày 14 tháng 1 năm 2022, Taemin sẽ hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình với tư cách là một nhân viên phục vụ cộng đồng do mắc phải các triệu chứng trầm cảmrối loạn lo âu ngày càng trầm trọng hơn.[8] Taemin xuất ngũ vào ngày 4 tháng 4 năm 2023.[9][10]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

2008-2013: Bắt đầu sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Taemin học nhảy từ năm lớp ba tiểu học và được phát hiện qua 2005 SM Open Weekend Audition Casting khi học lớp 6. Năm 2008, anh được chọn làm thành viên của nhóm SHINee khi chỉ mới 14 tuổi. Nhóm ra mắt vào ngày 25 tháng 5 năm 2008 trên sân khấu Inkigayo của đài SBS.[11] Một năm sau, Taemin ra mắt với vai trò diễn viên với vai diễn Junsu trong bộ phim hài Những Bà Nội Trợ Vui Nhộn của đài MBC năm 2009.[12] Năm 2011, Taemin cùng với các thành viên khác sang Nhật Bản hợp tác với EMI Music Japan để cho ra mắt đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên và ra mắt chính thức tại đó. Tháng 1 năm 2012, Taemin lồng tiếng cho vai chính trong bản Hàn của phim hoạt hình Koala Kid.[13] Ngoài ra anh còn tham gia chương trình ca nhạc Immortal Song 2.[14]

Taemin đảm nhiệm vai trò nhảy chính của nhóm và được đánh giá là một trong những idol có vũ đạo tốt nhất K-pop. Giọng hát của anh cũng ngày càng được đánh giá cao và ngày càng hoàn thiện. Ngày 19 tháng 9 năm 2012, Taemin phát hành ca khúc nhạc phim (OST) đầu tiên của mình, "U", cho bộ phim truyền hình To the Beautiful You.[15] Ngày 16 tháng 10, có thông báo rằng Taemin, cùng với Eunhyuk của Super JuniorHenry của Super Junior-M, Hyoyeon của Girls' Generation, KaiLộc Hàm của EXO sẽ tham gia với tư cách là một nhóm nhảy sáu thành viên cho ca khúc chủ đề Veloster "Maxstep", một sản phẩm hợp tác giữa SM Entertainment và Hyundai. Một video teaser của bài hát đã được công chiếu tại PYL Younique Show vào ngày 17 tháng 10.[16]

Vào tháng 4 năm 2013, SM Entertainment tiết lộ rằng Taemin sẽ tham gia chương trình tạp kỹ thực tế We Got Married với Apink Son Naeun làm bạn diễn, thay thế cho cặp đôi trước đó là KwangheeSunhwa.[17] Cùng năm, Taemin xuất hiện trong ba tập phim truyền hình Trung tâm mai mối trong vai ca sĩ thần tượng Yang Hoyeol với nghệ danh Ray.[18] Vào tháng 6, anh góp mặt trong bài hát solo "Trap" của Super Junior-M Henry cùng với Kyuhyun của Super Junior.[19] Vào tháng 12, Taemin tham gia hát ca khúc "Footsteps" của bộ phim Thủ tướng và Tôi, ca khúc đầu tiên được xem trước trong bộ phim và vào cuối tập thứ ba.[20]

2014-2016: Ra mắt solo với Ace, Press ItSayonara Hitori

[sửa | sửa mã nguồn]
Taemin tại buổi giới thiệu full album đầu tiên Press It vào tháng 5 năm 2016.

Vào tháng 5 năm 2014, Taemin xuất hiện trong vở nhạc kịch Được làm hoàng hậu tại Nhật Bản.[21] Vào ngày 18 tháng 8 năm 2014, Taemin ra mắt solo với việc phát hành đĩa mở rộng (EP) đầu tiên Ace[22] và đã đạt vị trí số một trên Bảng xếp hạng Gaon của Hàn Quốc, trong khi đĩa đơn chủ đạo "Danger" đạt vị trí thứ năm trên Bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon.[23][24] Video âm nhạc "Danger" được phát hành vào ngày 16 tháng 8, do biên đạo múa người Mĩ Ian Eastwood và nhóm chỉ đạo biểu diễn BeatBurger của SM Entertainment biên đạo. Taemin đã đến Los Angeles để học các động tác.[25]

Taemin cũng xuất hiện trên truyền hình "Idol Maknae Rebellion" với tư cách khách mời cùng với các thành viên Key và Jonghyun.

Ngày 3 tháng 2 năm 2015, Taemin đã được xác nhận sẽ tham gia mùa đầu tiên của Sự trở lại của Cặp đôi Trời định.[26] Vào ngày 14 tháng 4, Taemin tham gia chương trình Off to School của đài JTBC với tư cách diễn viên.[27] Ngày 1 tháng 6, anh phát hành bài hát "That Name" hợp tác với người anh cùng nhóm Jonghyun cho nhạc phim Học đường 2015 của đài KBS2.[28] Bài hát ra mắt ở vị trí thứ 36 trên Bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon.[29]

Tháng 2 năm 2016, SM đã phát hành album solo comeback của Taemin, Press It. Album bao gồm mười bài hát, bao gồm đĩa đơn chính "Press Your Number", được đồng sản xuất bởi Bruno Mars[30][31] và đã gây được thành công ấn tượng với lượt đĩa bán ra cao nhất tuần đầu tiên (hơn 72000 bản) trong lịch sử các thần tượng solo Hàn Quốc. Taemin chia sẻ với các phóng viên tại buổi họp báo do thành viên cùng nhóm Minho tổ chức tại SM Town Coex Artium ở quận Gangnam, Seoul: "Sau EP này, tôi đã biểu diễn cùng SHINee nhưng tôi cũng dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho album solo tiếp theo của mình, […] Tôi đã phải đi học thêm rất nhiều để luyện hát và vũ đạo, đồng thời xem lại các bài hát trước đây của mình. Tôi muốn nói rằng tôi đã trở thành một nghệ sĩ biểu diễn mạnh mẽ hơn".[32]

Tháng 7 năm 2016, SM đã cho phát hành MV solo debut của Taemin mang tên "Sayonara Hitori (さよならひとり)". Điều này đã khiến cho nhiều người bất ngờ vì SMTOWN đã không tung ra teaser trên trang của mình. MV cũng đã nói lên điều kiện kinh tế của SM. EP được phát hành vào ngày 27 tháng 7, bao gồm bốn bài hát mới cùng với phiên bản tiếng Nhật của "Press Your Number".[33] Cuối tháng 6, Taemin được xác nhận tham gia chương trình nhảy Hit the Stage của Mnet.[34] Anh hợp tác với Sugawara Koharu, cũng chính là biên đạo nhảy của bài "Sayonara Hitori",[35] và giành vị trí quán quân trong tập hai.[36]

2017–2018: Flame of Love, MoveTaemin

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2017, Taemin tổ chức concert solo đầu tiên của mình tại Nippon Budokan ở Tokyo, Nhật Bản,[37] thu hút 28.000 người hâm mộ.[38] Cùng tháng đó, EP tiếng Nhật thứ hai của anh, Flame of Love, được phát hành.[39] Taemin tổ chức concert đầu tiên tại Hàn Quốc Off-Sick trong ba ngày vào cuối tháng 8, biểu diễn trước tổng cộng 12.000 người.[40] Encore Off-Sick được công bố vào ngày 7 tháng 9 và diễn ra vào ngày 14 và 15 tháng 10 tại Nhà thi đấu Jamsil[41] thu hút 10.000 người hâm mộ.[42][43] Các buổi biểu diễn bổ sung được tiếp nối tại Nhật Bản.[44]

Vào tháng 8 năm 2017, bộ phim truyền hình Nhật Bản đầu tiên của Taemin, Final Life: Even If You Disappear Tomorrow, đã được công bố.[45] Bộ phim hình sự do Kurakata Masatoshi và Maruyama Takeshi đạo diễn, là một tác phẩm gốc Nhật Bản dành cho Amazon Prime Video và được phát hành vào tháng 9. Phim có sự tham gia của Taemin và Matsuda Shota.[46] Taemin cũng góp giọng trong nhạc phim của bộ phim truyền hình "What's This Feeling".[47] Chương trình thực tế đầu tiên của anh The Taemin: Xtra Cam được phát sóng qua V Live, cho thấy quá trình chuẩn bị cho album sắp ra mắt của anh và cảnh quay hậu trường concert.[48]

Taemin tham gia chương trình truyền hình thực tế The Unit với vai trò cố vấn vào tháng 10 năm 2017.[49] Album phòng thu thứ hai của anh Move được phát hành vào ngày 16 tháng 10 năm 2017.[50] Ca khúc chủ đề cùng tên đã thu hút sự chú ý nhờ vũ đạo độc đáo và tạo nên một xu hướng mang tên "hội chứng Move" sau khi màn trình diễn bài hát này trở nên viral ở Hàn Quốc.[51][52][53] Album ra mắt ở vị trí thứ hai trên Bảng xếp hạng Gaon và vị trí thứ ba trên Bảng xếp hạng Album quốc tế của Billboard.[54][55] Với tác phẩm này, Taemin được nhận giải "Nghệ sĩ có màn trình diễn vũ đạo xuất sắc nhất" tại lễ trao giải MAMA 2017, anh có màn kết hợp với Sunmi tại hai bài "Gashina" và "Move". Ngày 10 tháng 11 năm 2017, anh ra mắt MV "Thirsty". Vào ngày 10 tháng 12, phiên bản repackaged của Move đã được phát hành, có tựa đề Move-ing. Phiên bản này đã bổ sung bốn bài hát mới vào danh sách bài hát, bao gồm đĩa đơn chính "Day and Night".[56] Cùng tháng đó, Taemin đã lên lịch biểu diễn tại Lễ hội Âm nhạc thường niên KBS nhưng đã hủy bỏ một tuần sau cái chết của thành viên Jonghyun.

Taemin đã tham gia chương trình Why Not? The Dancer của đài JTBC vào tháng 5 năm 2018. Chương trình nói về việc anh đến Los Angeles cùng Eunhyuk và thành viên Highlight Lee Gikwang trong hành trình trở thành biên đạo múa.[57] Sau đó, anh tham gia chương trình âm nhạc The Call[58] và hợp tác với các nghệ sĩ như Bewhy và UV.[59][60] Bắt đầu từ ngày 21 tháng 9 năm 2018, Taemin bắt đầu chuyến lưu diễn đầu tiên của mình tại Nhật Bản, Sirius[61] It consisted of 32 sold-out shows across 16 cities, attracting 100,000 people.[62] Chương trình bao gồm 32 buổi diễn đã bán hết vé tại 16 thành phố, thu hút 100.000 người.[63] Vào ngày 5 tháng 11, Taemin đã phát hành album phòng thu cùng tên Taemin, album thứ ba của anh và là album đầu tiên bằng tiếng Nhật.[64]

2019: Hoạt động với SuperM và nghĩa vụ quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Taemin đã phát hành EP tiếng Hàn thứ hai của mình, Want, vào ngày 11 tháng 2 năm 2019[65].Vũ đạo cho ca khúc chủ đề được biên đạo bởi Sugawara Koharu.[65] EP đã lọt vào nhiều bảng xếp hạng Billboard, bao gồm vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng album quốc tế, lần thứ năm Taemin lọt vào bảng xếp hạng này cho đến nay với vị trí thứ năm trên Các bảng xếp hạng Heatseekers, một kỷ lục mới trong sự nghiệp.[66] Sau khi phát hành, Taemin đã tổ chức concert tiếng Hàn thứ hai của mình T1001101, được tổ chức tại Nhà thi đấu bóng ném Olympic SK từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 3.

Taemin bắt đầu chuyến lưu diễn sân vận động đầu tiên tại Nhật Bản, XTM, tại Hokkaidō vào ngày 8 tháng 6.[67] Mười bốn buổi diễn đã được lên lịch, với ba buổi diễn nữa được bổ sung vào tháng 8 để đáp ứng nhu cầu.[64] Vào ngày 4 tháng 8, Taemin phát hành EP tiếng Nhật thứ ba của mình, Famous, với bản phát hành vật lý vào ngày 28 tháng 8 thông qua EMI RecordsUniversal Music Japan.[68] Đĩa đơn chính và ca khúc chủ đề Famous được phát hành vào ngày 26 tháng 7 năm 2019 cùng với một video âm nhạc. EP đã đứng đầu Bảng xếp hạng Album Oricon, và đây cũng là lần đầu tiên anh đạt được thành tích này.[69]

Tháng 8 năm 2019, Taemin trở thành thành viên của SuperM, một nhóm nhạc đặc biệt hoạt động tại thị trường Mĩ do SM Entertainment và Capitol Records hợp tác thành lập.[70][71] Nhóm ra mắt công chúng với mini-album đầu tay cùng tên vào ngày 4 tháng 10 năm 2019.[72] Taemin trở lại Nhật Bản với concert T1001101 vào tháng 12, biểu diễn tại Sân vận động YokohamaHội trường Osaka-jō trong ba ngày.

2020–nay: Never Gonna Dance Again, Advice, GuiltyEternal

[sửa | sửa mã nguồn]

Taemin dự kiến tổ chức concert Never Gonna Dance Again tại Seoul vào tháng 3 năm 2020, nhưng đã bị hủy do đại dịch COVID-19.[73][74] Trước khi phát hành album sắp tới, anh đã tham gia chương trình truyền hình thực tế trực tuyến Rare-Taem, trong đó anh hoàn thành các nhiệm vụ dựa trên kết quả của một trò boardgame.[75] Album phòng thu tiếng Hàn thứ ba của Taemin, Never Gonna Dance Again, được phát hành thành hai phần vào tháng 9 và tháng 11 năm 2020.[76] Dự án này, cùng với các đĩa đơn chính "Criminal" và "Idea", đã được các nhà phê bình công nhận rộng rãi là một trong những bản phát hành K-pop hay nhất trong năm.[77][78][79][80]

Taemin phát hành ca khúc "My Day" cho nhạc phim của bộ phim truyền hình Navillera của đài tvN vào tháng 3 năm 2021.[81] Anh phát hành EP tiếng Hàn thứ ba, Advice, vào ngày 18 tháng 5. Album gồm năm bài hát, bao gồm đĩa đơn chủ đề cùng tên.[82] Taemin đã chiếu trước đĩa đơn này tại concert online mang tên N.G.D.A. (Never Gonna Dance Again), được tổ chức thông qua nền tảng Beyond LIVE vào ngày 2 tháng 5. Concert đã thu hút gần 90.000 người xem trên 119 quốc gia.[83] Taemin đã tham gia thu âm bài hát chủ đề của Thế vận hội Mùa hè 2020 trước khi nhập ngũ.[84]

Taemin trở lại với tư cách nghệ sĩ solo với EP thứ tư Guilty vào ngày 30 tháng 10 năm 2023, 2 năm 5 tháng sau Advice.[85] Vào tháng 12, anh đã tổ chức concert mang tên Metamorph tại Sân vận động Inspire ở Incheon. Anh là nghệ sĩ đầu tiên tổ chức concert solo tại sân vận động đa năng đầu tiên ở Hàn Quốc.[86] Hợp đồng solo của Taemin với SM Entertainment kết thúc vào tháng 3 năm 2024, mặc dù anh vẫn tiếp tục hoạt động nhóm với SHINee dưới trướng công ty,[87] anh đã ký hợp đồng mới với BPM Entertainment cho các hoạt động solo.[88] Anh đã phát hành EP thứ năm Eternal vào ngày 19 tháng 8, kỷ niệm 10 năm ra mắt solo.[89] Vào ngày 31 tháng 8, anh bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới mang tên Ephemeral Gaze, bắt đầu bằng các concert ở châu Á.[90] Anh đã dẫn chương trình sống còn Road to Kingdom: Ace of Ace của Mnet vào tháng 9 năm 2024.[91] Chuyến lưu diễn của anh kết thúc vào tháng 4 năm 2025 với các buổi biểu diễn encore tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic ở Seoul.[92]

Vào ngày 13 tháng 9, Taemin bắt đầu chuyến lưu diễn arena Nhật Bản mang tên Veil và phát hành đĩa đơn kỹ thuật số cũng tên "Veil".[93]

Từ thiện

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, Taemin cùng với thành viên cùng nhóm Key và các nghệ sĩ khác từ SM Entertainment đã tham gia chiến dịch "Make a Promise" của UNICEFLouis Vuitton, trong đó 40% số tiền thu được đã được quyên góp thông qua UNICEF cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.[94]

Album phòng thu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm sáng tác

[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các tác phẩm sáng tác đều được chuyển thể từ Hiệp hội Bản quyền Âm nhạc Hàn Quốc.[95]

Danh sách bài hát, hiển thị năm phát hành, tên nghệ sĩ và tên album
Tên bài hát Năm phát hành Nghệ sĩ Album Viết lời Viết nhạc
"Press Your Number" 2016 Bản thân Press It Yes No
"Soldier" Yes No
"Day and Night" (낮과 밤) 2017 Move-ing Yes Yes
"Pinocchio" 2018 Bản thân, Bewhy The Call Project No. 4 Yes No
"Our Page" (네가 남겨둔 말) SHINee The Story of Light EP.3 Yes No
"Sunny Side"[96] Nhạc lẻ Yes No
"2 Kids" 2020 Bản thân Never Gonna Dance Again: Act 1 Yes No
"Heaven" Never Gonna Dance Again: Act 2 Yes No
"Think of You" (안아줄래) Yes No
"Pansy" Yes No
"Sexy in the Air" 2024 Eternal No Yes
"Crush" No Yes
"The Unknown Sea" No Yes
"Deja Vu" Yes Yes
"Say Less" Yes Yes

Phim điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú Nguồn
2012 Koala Kid Johnny Lồng tiếng bản Hàn [13]
I Am Bản thân Phim tài liệu SM Town [97]
2015 SM Town the Stage Bản thân Phim concert SM Town [98]

Phim truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú Nguồn
2009 Những Bà Nội Trợ Vui Nhộn Junsu [12]
2011 Athena: Goddess of War Bản thân Cameo [99]
2011 Moon Night '90 Kim Sungjae Deux episode [100]
Gia đình là số một (phần 3) Bản thân [101]
2012 Salamander Guru and The Shadows Bậc thầy ngụy trang [102]
2013 Trung tâm mai mối Yang Hoyeol/Ray [18]
The Miracle Kim Tan Parody Người thừa kế [103]
2017 Final Life: Even If You Disappear Tomorrow Song Sion [46]

Show truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên chương trình Ghi chú Nguồn
2012 Immortal Songs 2 Thí sinh [14]
2013–2014 We Got Married cùng với Apink Son Naeun [17]
2015 Sự trở lại của Cặp đôi Trời định Thành viên [26]
Off to School [27]
2016 Hit the Stage Thí sinh [34]
2017 The Unit Mentor [49]
2018 Why Not? The Dancer Thành viên [57]
The Call [58]
2024 Road to Kingdom: Ace of Ace MC [91]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Kim, Soo-hyung (ngày 19 tháng 3 năm 2019). '한밤' 태민, 단독 콘서트 '성료'‥자기관리 철저한 12년차 '아이돌Ing' [Oh!쎈 리뷰] [Taemin's 'successful' solo concert... 12 years of self-management 'Idol-ing' [Oh! Strong Review]]. OSEN [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  2. ^ Lee, Woo-in (ngày 11 tháng 2 năm 2019). 태민 "아이돌의 정석? 자기관리 자부심 느낀다" [인터뷰③] [Taemin: "Idol's standard? I feel proud of myself" [Interview ③]]. TV Report (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  3. ^ "Taemin transfers to an arts high school due to his busy schedule". ngày 1 tháng 3 năm 2011.
  4. ^ "Myongji Univ | Facebook". facebook.com. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015.
  5. ^ Lee, Hyo-won (ngày 14 tháng 8 năm 2014). "K-Pop stars gear up for Pope Francis' visit with papal tributes". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2020.
  6. ^ Park, Se-yeon (ngày 19 tháng 4 năm 2021). 샤이니 태민 "5월 31일 입대" 전격 발표 [Shinee's Taemin to enlist on May 31]. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2021 – qua Naver.
  7. ^ "(LEAD) Shinee's Taemin to join military next month". Yonhap News Agency. ngày 20 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2022.
  8. ^ Jang, Jin-ri (ngày 14 tháng 1 năm 2021). 샤이니 태민, 군악대→사회복무요원…"우울증 및 공황장애 악화"[전문] [Shinee's Taemin, military band → social service worker… "Exacerbation of depression and panic disorder" [Full text]]. SpoTV News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022 – qua Naver.
  9. ^ Choi, Ji-won (ngày 23 tháng 1 năm 2023). "Top K-pop idols to return from military this year". The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2023.
  10. ^ Yoon Sang-geun (ngày 4 tháng 4 năm 2023). 태민, 오늘(4일) 소집해제..샤이니 군백기 마치고 5월 컴백 [Taemin, discharged today (4th).. comeback in May after SHINee's military service period] (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023 – qua Naver.
  11. ^ SM 대형 신인 '샤이니' 25일 '인기가요' 통해 데뷔 [SM's rookie group 'Shinee' debuted on 'Inkigayo' on the 25th]. Hankyung (bằng tiếng Hàn). ngày 25 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2016.
  12. ^ a b Lim, Hye-sun (ngày 4 tháng 5 năm 2009). 샤이니 태민, '태혜지'로 첫 연기 도전 [Shinee Taemin's first acting challenge with 'Tae-Hye-Ji']. Asia Economic (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  13. ^ a b Lee, Ye-eun (ngày 7 tháng 12 năm 2011). 샤이니 태민-소시 써니, 애니 '코알라 키드' 목소리 연기 [Shinee's Taemin and Girls' Generation's Sunny will voice the animated film 'Koala Kid']. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  14. ^ a b Kim, Mi-ri (ngày 26 tháng 12 năm 2011). 샤이니 태민·브아솔 성훈, '불후2' 합류 확정 [Shinee's Taemin and Brown Eyed Soul's Sung Hoon confirmed to join 'Immortal 2']. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  15. ^ 태민 '너란말야' OST 로 '아그대' 참여...감미로운 목소리 주목 [Taemin recorded the OST 'U' for 'To the Beautiful You']. Xports News (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2016.
  16. ^ Seong, Jin-hee (ngày 16 tháng 10 năm 2012). SM, 현대자동차와 콜라보..'PYL 유니크 앨범' 발표 [SM and Hyundai Motor Company collaborate... 'PYL Younique Album' to be released]. The Star (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012.
  17. ^ a b Hong, Grace Danbi (ngày 13 tháng 4 năm 2013). "Shinee's Taemin and Apink's Son Na-eun Get 'Married'". enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015 – qua Mwave.
  18. ^ a b Hong, Grace Danbi (ngày 3 tháng 6 năm 2013). "Shinee's Taemin to Make his Appearance on Dating Agency Cyrano on 6/3". enewsWorld. CJ E&M. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013.
  19. ^ Lee, Nancy (ngày 31 tháng 5 năm 2013). "SM Releases Henry 『Trap』 Teaser Feat. Super Junior's Kyuhyun and Shinee's Taemin". CJ E&M enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  20. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 18 tháng 12 năm 2013). "Shinee's Taemin Sings for Prime Minister and I OST". enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014 – qua Mwave.
  21. ^ Lee, Na-rae (ngày 19 tháng 3 năm 2014). 뮤지컬 '궁' 日공연, 동준 태민 케빈 한류아이돌 총출동 [Vở nhạc kịch 'Được làm hoàng hậu' sẽ được trình diễn tại Nhật Bản, Dongjun, Taemin, Kevin, các thần tượng Hallyu đều xuất hiện]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  22. ^ Sohn, Ji-young (ngày 11 tháng 8 năm 2014). "Taemin of Shinee to release first solo album". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  23. ^ "Album Chart – Week 35, 2014". Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2022.
  24. ^ 2014년 35주차 Digital Chart [Digital Chart – Week 35 of 2015]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  25. ^ Kim, Hyung-woo (ngày 19 tháng 8 năm 2014). "Shinee Taemin's 'Danger' MV Ranks No. 1 in China". Newsen. Jung, Yeawon biên dịch. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2016 – qua Mwave.
  26. ^ a b Hwang, So-young (ngày 25 tháng 3 năm 2015). '천생연분 리턴즈' 타쿠야, 1기 최고 매력남 등극 [[TV Zoomin] 'Sự trở lại của Cặp đôi Trời định' Takuya, người đàn ông hấp dẫn nhất mùa 1]. TV Report (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  27. ^ a b Kim, Min-jung (ngày 23 tháng 3 năm 2015). [단독]가인·태민·유라·허각 등 7人, '학교다녀오겠습니다' 합류 [[Exclusive] 7 people including Gain, Taemin, Yura, and Huh Gak join 'Off to School']. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  28. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 1 tháng 6 năm 2015). "Shinee's Jonghyun and Taemin Sing Duet for 'Who Are You – School 2015'". CJ E&M enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015 – qua Mwave.
  29. ^ 2015년 24주차 Digital Chart [Digital Chart – Week 24, 2015]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2015.
  30. ^ Kim, Soo-hyang (ngày 22 tháng 2 năm 2016). "Taemin to release 'Press It'". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  31. ^ Sun, Mi-kyung (ngày 15 tháng 2 năm 2016). 샤이니 태민, 23일 솔로 컴백 확정..첫 정규음반 [Shinee Taemin's solo comeback confirmed for the 23rd... first studio album]. OSEN [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016 – qua Naver.
  32. ^ Won, Ho-jung (ngày 22 tháng 2 năm 2016). "Taemin back with stylish sounds". The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  33. ^ SHINeeテミン、7・27日本ソロデビュー [Shinee's Taemin makes his solo debut in Japan on July 27]. Oricon (bằng tiếng Nhật). ngày 23 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  34. ^ a b Kim, Jae-heun (ngày 26 tháng 7 năm 2016). "'Hit the Stage' is an idol dance battle". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  35. ^ Joko, Kaoru (ngày 20 tháng 9 năm 2016). テミン 東方神起の弟分が語る日本活動5年と次の一手 [Em trai Taemin của DBSK chia sẻ về 5 năm hoạt động tại Nhật Bản và bước đi tiếp theo của mình]. Nikkei Style (bằng tiếng Nhật). Nikkei, Inc. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2022.
  36. ^ Choi, Hyung-won (ngày 4 tháng 8 năm 2016). "Shinee's Taemin wins first in 'Hit the Stage'". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  37. ^ Jie, Ye-eun (ngày 16 tháng 4 năm 2017). "Shinee's Taemin to hold solo concert in Japan". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
  38. ^ Yoon, Min-sik (ngày 3 tháng 7 năm 2017). "Taemin of Shinee holds first concert in Japan". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
  39. ^ テミン(SHINee)、CGとダンスで世界観を表現した「Flame of Love」MV公開 [SHINee Taemin phát hành video âm nhạc "Flame of Love" thể hiện thế giới quan bằng CG và vũ đạo]. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 27 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
  40. ^ Lee, Ji-hyun (ngày 28 tháng 8 năm 2017). 솔로 태민, 3회 공연 전석 매진 "상상 이상의 무대 빛났다" [Taemin's solo concert sold out all three performances. "More than imagined."]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017.
  41. ^ Jeong, Yu-na (ngày 7 tháng 9 năm 2017). [공식] 태민, 첫 솔로 콘서트 완결판 10월 개최 [[Official] Taemin to hold final version of first solo concert in October]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022 – qua Naver.
  42. ^ Kim, Min-joo (ngày 16 tháng 10 năm 2017). "Taemin showcases talent as soloist at Seoul concert". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017.
  43. ^ Park, Dong-seon (ngày 15 tháng 10 năm 2017). [Stage리뷰] 샤이니 태민, '마성의 매력으로 탈 우주급 에이스 되다'(태민 1st 솔로콘서트 완결 'off-sick[on track]) [[Stage Review] Shinee's Taemin, 'Becoming a cosmic-class ace with demonic charm' (Taemin's first solo concert 'off-sick[on track]')]. ETNews (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017.
  44. ^ SHINeeテミン"日本初"生演奏バンドを従えパフォーマンス [Shinee's Taemin "Japan's first" live performance with a live band]. Modelpress (bằng tiếng Nhật). ngày 20 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  45. ^ Schilling, Mark (ngày 24 tháng 8 năm 2017). "Amazon Unveils 'Final Life' in Japan". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2017.
  46. ^ a b 松田翔太とSHINeeテミンが共演、刑事ドラマ「ファイナルライフ」配信 [Shota Matsuda and Shinee's Taemin co-star in criminal drama "Final Life"]. Natalie (bằng tiếng Nhật). ngày 24 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  47. ^ Jang, Jin-ri (ngày 24 tháng 8 năm 2017). 샤이니 태민, 日서 배우 데뷔…첫 주연·OST도 부른다 [Shinee's Taemin, acting debut in Japan... OST announced]. OSEN [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017 – qua Naver.
  48. ^ Seon, Mi-kyung (ngày 20 tháng 7 năm 2017). 샤이니 태민, 데뷔 첫 리얼리티 8월4일 첫방..컴백 초읽기 [Shinee's Taemin debuts first reality show on August 4th... Countdown to comeback]. OSEN [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  49. ^ a b Kim, Min-joo (ngày 16 tháng 10 năm 2017). "Taemin on coaching fellow K-pop idols as youngest mentor on 'The Unit'". Kpop Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017.
  50. ^ Herman, Tamar (ngày 16 tháng 10 năm 2017). "Shinee's Taemin Drops Sultry 'Move' Album & Single". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  51. ^ "YouTuber says she has Taemin's 'Move' disease". Kpop Herald. ngày 19 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  52. ^ Yang, Seung-jun (ngày 14 tháng 11 năm 2017). 이름 붙일 수 없는 야릇한 몸짓.. 태민, K팝의 공식을 깨다 [Strange movements that can't be described.. Taemin breaks the K-pop formula]. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2021 – qua Naver.
  53. ^ Heo, Byul-hee (ngày 13 tháng 2 năm 2019). '아이돌룸' 태민 "'무브병', 내가 첫 감염자" ['Idol Room' Taemin: "I was the first to be infected with 'Move disease'"]. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2021 – qua Naver.
  54. ^ "Album Chart – Week 42, 2017". Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
  55. ^ "Taemin Chart History (World Albums)". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
  56. ^ Lee, So-dam (ngày 6 tháng 12 năm 2017). [공식입장] 태민, 리패키지 '낮과 밤'으로 컴백..8일 '뮤뱅' 첫방송 [[Official] Taemin to make his comeback with the repackage 'Day and Night'... First broadcast on 'Music Bank' on the 8th]. OSEN [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2019 – qua Naver.
  57. ^ a b Lee, Ji-hyun (ngày 26 tháng 4 năm 2018). '더댄서' 은혁X기광X태민, 댄스디렉터로 거듭나기 위한 LA 여정 ['The Dancer' Eunhyuk X Kikwang X Taemin, LA journey to be reborn as choreographers]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  58. ^ a b Yoo, Eun-young (ngày 15 tháng 6 năm 2018). [종합] '더콜' 태민·수란·그레이X로꼬·에디킴...4차 라인업 공개 [[General] 'The Call' Taemin, Suran, Gray X Loco, Eddie Kim… Fourth lineup unveiled]. Xports News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  59. ^ Jeong, Hee-yeon (ngày 21 tháng 6 năm 2018). [DAY컷] '더 콜' 비와이-태민 스틸 공개…기대 높이는 스틸 [[DAY Cut] 'The Call': Bewhy-Taemin stills released... raising expectations]. Sports Dong-a (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018 – qua Naver.
  60. ^ Jo, Yoon-sun (ngày 29 tháng 6 năm 2018). "김종국보다 잘할 수 있다"…'더콜' 태민, UV도 말리는 열정 ["I can do better than Kim Jong-kook"... 'The Call' Taemin's passion dried by UV rays]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  61. ^ テミン(SHINee)、初の全国ソロツアー【TAEMIN Japan 1st TOUR(仮)】開催決定 [Taemin (Shinee) to hold first national tour]. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 18 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
  62. ^ Hwang, Mi-hyun (ngày 27 tháng 11 năm 2018). 샤이니 태민, 日 첫 솔로 투어 성황 "한걸음씩 성장" [Shinee's Taemin successfully completes his first solo tour in Japan "growing step by step"]. News1 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022 – qua Naver.
  63. ^ Hwang, Mi-hyun (ngày 27 tháng 11 năm 2018). 샤이니 태민, 日 첫 솔로 투어 성황 "한걸음씩 성장" [Shinee's Taemin successfully completes his first solo tour in Japan "growing step by step"]. News1 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022 – qua Naver.
  64. ^ テミン(SHINee)、"現在"の自身を表現した1stフルアルバム『TAEMIN』ジャケ写解禁 iTunesプレオーダーもスタート [Taemin (Shinee), the first studio album "Taemin" jacket photo release, iTunes pre-order also starting]. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 31 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
  65. ^ a b Herman, Tamar (ngày 11 tháng 2 năm 2019). "Taemin Expresses 'Want' in Dramatic New Video". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
  66. ^ Benjamin, Jeff (ngày 21 tháng 2 năm 2019). "Taemin Hits New Peak on Heatseekers Albums Chart With 'Want' EP". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2019.
  67. ^ "Shinee's Taemin to launch Japanese arena tour this summer". Yonhap News Agency. ngày 29 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
  68. ^ テミン(SHINee)、初のソロアリーナツアー追加公演決定 [Taemin (Shinee) plans additional performances for first solo arena tour]. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). ngày 24 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
  69. ^ SHINeeのテミン、日本3rdミニアルバムが自身初の1位【オリコンランキング】 [Shinee Taemin's third Japanese mini album ranked first for the first time [Oricon chart]]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 3 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  70. ^ Jeff Benjamin (ngày 7 tháng 8 năm 2019). "Super M, 'The Avengers Of K-Pop,' Unveiled By SM Entertainment And Capitol Music Group". Forbes. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2019.
  71. ^ "SM Entertainment and Capitol Records Team Up to Launch Super M". Billboard. ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2019.
  72. ^ "'K-Pop Avengers' SuperM Arrive with Cinematic 'Jopping' Music Video: Watch". Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2019.
  73. ^ Lee, Min-ji (ngày 24 tháng 2 năm 2020). SM 측 "태민 콘서트 잠정 연기, 안전 최우선으로 고려"(공식입장 전문) [SM: "Temporary postponement of Taemin's concert, considering safety as the top priority" (Full text of official position)]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  74. ^ Kim, Nemo (ngày 16 tháng 3 năm 2020). "In and Out of Korea, the Coronavirus Threatens To Upset K-Pop's Rise". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  75. ^ Yoon, So-yeon (ngày 20 tháng 8 năm 2020). "Shinee's Taemin getting his own online reality show". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022.
  76. ^ Kim, Mi-ji (ngày 27 tháng 10 năm 2020). 태민 정규 3집, 11월 9일 발매 확정..타이틀곡 '이데아' 포함 총 9곡 수록 [공식입장] [Taemin's third studio album will be released on November 9. Contains a total of nine songs including the title track "Idea" [Official]]. Xports News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021 – qua Daum.
  77. ^ Moon, Kat (ngày 11 tháng 12 năm 2020). "The Songs and Albums That Defined K-Pop's Monumental Year in 2020". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  78. ^ "The 20 Best K-Pop Songs of 2020: Critics' Picks". Billboard. ngày 23 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  79. ^ MTV News Staff (ngày 29 tháng 12 năm 2020). "The Best K-pop B-sides Of 2020". MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  80. ^ Morin, Natalie; Komonibo, Ineye (ngày 21 tháng 12 năm 2020). "These Are, Hands Down, The 29 Best Songs Of 2020". Refinery29. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  81. ^ Kim, Soo-jin (ngày 26 tháng 3 năm 2021). 태민, 6년만에 OST..'나빌레라' 가창 참여 [공식] [Taemin sings an OST for the first time in six years... Participation in 'Navillera' [Official]]. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  82. ^ Lee, Min-ji (ngày 3 tháng 5 năm 2021). 군입대 앞둔 태민, 5월 18일 새 미니앨범 'Advice' 발매(공식) [Taemin, who is about to enlist in the military, will release a new mini album 'Advice' on May 18 (official)]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2021 – qua Naver.
  83. ^ Dong, Sun-hwa (ngày 3 tháng 5 năm 2021). "Taemin's last concert before military service draws 90,000 viewers". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
  84. ^ "J-pop Artists Join Forces on 'Colorful' Tokyo 2020 Summer Olympics Theme Song". Billboard. ngày 21 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2022.
  85. ^ 태민, 30일 전격 솔로 컴백…2년5개월만의 신보. News 1 (bằng tiếng Hàn). ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2023.
  86. ^ Hwang, You-mee (ngày 19 tháng 10 năm 2023). "[Today's K-pop] Shinee's Taemin to host solo concert in December". The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2023.
  87. ^ Kim, Ju-yeon (ngày 7 tháng 3 năm 2024). "Shinee's Taemin starts 'new journey' as he leaves SM Entertainment". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2024.
  88. ^ Jeon, Hyo-jin (ngày 1 tháng 4 năm 2024). SM 떠난 태민, 빅플래닛메이드엔터와 전속계약…새 프로필 사진 공개 [Taemin, who left SM, signed an exclusive contract with Big Planet Made Entertainment... Reveal of new profile photos]. Sports Dong-a (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024 – qua Naver.
  89. ^ Kim, Min-young (ngày 29 tháng 7 năm 2024). "Shinee's Taemin to release fifth EP on Aug. 19". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2024.
  90. ^ Ziwei, Puah (ngày 19 tháng 7 năm 2024). "Shinee's Taemin announces 2024 'Ephemeral Gaze' world tour". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2024.
  91. ^ a b Chin, Carmen (ngày 17 tháng 7 năm 2024). "Shinee's Taemin to host 'Road To Kingdom' season two in September". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2024.
  92. ^ Hwang, Hye-jin (ngày 9 tháng 3 năm 2025). 태민, 4월 체조경기장 입성…20개국 29개도시 월드투어 피날레 [Taemin entering the Olympic Gymnastics Arena in April... Finale of world tour covering 29 cities in 20 countries]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2025 – qua Naver.
  93. ^ Lee, Da-gyeom (ngày 5 tháng 9 năm 2025). 태민, 13일 디지털 싱글 '베일' 발표…1년 1개월 만 컴백 [Taemin to release digital single 'Veil' on the 13th, making his comeback after 1 year and 1 month]. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025 – qua Naver.
  94. ^ 기부로 뭉친 SM의 남자들 "작은 시작이 세상 바꿔" [화보]. ngày 18 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016.
  95. ^ "Songs registered under 이태민 (10011964)". Korea Music Copyright Association (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2024.
  96. ^ "Sunny Side". Naver VIBE. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
  97. ^ "Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes". The Chosun Ilbo. ngày 2 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012.
  98. ^ Lee, Edmund (ngày 24 tháng 11 năm 2015). "Film review: SMTown: The Stage". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016.
  99. ^ Bae, Seon-young (ngày 4 tháng 1 năm 2011). '아테나' 보아, 까칠·도도 톱스타 연기 '합격점' ['Athena': BoA acting as a top star in 'Athena']. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  100. ^ Lee, Seung-rok (ngày 27 tháng 10 năm 2011). 이현도, 샤이니의 듀스 안무에 "너무 멋있다" 흡족 [Lee Hyun-do is satisfied with Shinee's Deux choreography. "It's so cool."]. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  101. ^ Lee, Jun-hak (ngày 28 tháng 12 năm 2011). 태민, 크리스탈과 커플링 공개 '하이킥3 출연해요' [Taemin and Krystal's couple rings revealed in 'High Kick 3']. Xports News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  102. ^ Choi, Doo-seon (ngày 17 tháng 2 năm 2012). 태민 '도롱뇽' 카메오, 에이핑크 손나은 위해 노인분장 [Taemin's cameo in 'Salamander', dressed up as an old man for Apink's Son Na-eun]. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.
  103. ^ Yang, Joo-hee (ngày 18 tháng 12 năm 2013). '2013 가요대전' 태민-민아 만나자마자 포옹한 소감은? ['2013 Gayo Daejun' Taemin-Minah, how do you feel about hugging as soon as you meet?]. The Seoul Economic Daily [ko] (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2022 – qua Naver.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]