Yoona

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yoona
YoonA at a fansign for LovCat in October 2015 02.jpg
YoonA tại một sự kiện ký tặng của nhãn hiệu thời trang LovCat vào tháng 10 năm 2015
Sinh Im Yoona
30 tháng 5, 1990 (25 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Công việc
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Năm hoạt động 2007 (2007) – nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 임윤아
Hanja 林允儿
Romaja quốc ngữ Im Yun-ah
McCune–Reischauer Im Yuna
Hán-Việt Lâm Duẫn Nhi

Im Yoona (sinh ngày 30 tháng 5 năm 1990) là một nữ ca sĩ kiêm diễn viên người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation. Cô đã tham gia diễn xuất trong nhiều bộ phim truyền hình như You Are My Destiny (2008), Cinderella Man (2009), Love Rain (2012) và Prime Minister and I (2013)

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yoona được sinh ra vào ngày 30 tháng 5 tại Seoul, Hàn Quốc.[1] Gia đình cô gồm bố và một chị gái hơn cô 5 tuổi.[2] Khi còn nhỏ, nhóm nhạc nữ S.E.S. đã khiến cô mơ ước được trở thành ca sĩ. Năm 2002, Yoona trở thành thực tập sinh của S.M. Entertainment thông qua hệ thống SM Saturday Open Casting Audition. Trước khi ra mắt công chúng, cô đã xuất hiện trong một số video âm nhạc như "Magic Castle" của TVXQ.[3]

Năm 2009, Yoona tốt nghiệp trường trung học Daeyoung. Sau đó vào năm 2014, cô cùng Seohyun, một thành viên khác của Girls' Generation, tốt nghiệp trường đại học Dongguk và được trao giải thưởng thành tựu trọn đời.[4][5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Girls' Generation

Yoona chính thức ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation vào tháng 8 năm 2007.

Tháng 8 năm 2010, Yoona phát hành bài hát solo đầu tiên kể từ khi ra mắt "Innisfree Day" nhằm mục đích quảng bá cho nhãn hiệu mỹ phẩm Innisfree mà cô là gương mặt đại diện.[6]

Tháng 3 năm 2016, Yoona hợp tác với nhóm nhạc indie Hàn Quốc 10cm trong bài hát "Deoksugung Stonewall Walkway" thuộc dự án âm nhạc SM Station của S.M. Entertainment.[7]

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp diễn xuất của Yoona khởi đầu vào năm 2007 với vai phụ Shin Joo-young trong bộ phim truyền hình 9 Ends, 2 Out.[8] Sau đó có xuất hiện trong bộ phim truyền hình Woman of Matchless Beauty vào năm 2008 và nhận được sự khen ngợi từ nữ diễn viên kỳ cựu Bae Jong-ok.[9] Tháng 5 năm 2008, Yoona đảm nhận vai chính đầu tiên trong bộ phim truyền hình You Are My Destiny với vai diễn Jang Sae-byuk. Bộ phim đạt tỷ suất người xem lên tới 41,5% và giúp cô được công chúng biết đến một cách rộng rãi.[10][11] Với vai diễn này, cô đã giành chiến thắng ở hạng mục Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất tại hai lễ trao giải KBS Drama Awards lần thứ hai[12]Baeksang Arts Awards lần thứ 45. Năm 2009, cô đảm nhận vai nữ chính Seo Yoo-jin bên cạnh nam diễn viên Kwon Sang-woo trong bộ phim truyền hình Cinderella Man[13] và nhận được giải Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất tại lễ trao giải Baeksang Arts Awards lần thứ 46 cho vai diễn của mình.

Yoona ghi hình cho bộ phim truyền hình Love Rain vào tháng 9 năm 2011

Năm 2012, Yoona đảm nhận vai nữ chính bên cạnh nam diễn viên Jang Geun-suk trong bộ phim truyền hình Love Rain. Trong phim, một đôi tình nhân gặp nhau vào những năm 1970 nhưng không đến được với nhau và sau đó hai người con của họ lại đem lòng yêu nhau ở thời hiện đại.[14] Mặc dù Love Rain không đạt được tỷ suất người xem cao ở Hàn Quốc,[15] bản quyền phát sóng bộ phim đã được bán cho 12 quốc gia[16][17] trong đó có Nhật Bản với giá 10 triệu đô la Mỹ, mức giá cao thứ hai trong lịch sử đối với một phim truyền hình của KBS ở thời điểm đó.[18] Diễn xuất của Yoona cũng được đánh giá là có nhiều tiến bộ so với các vai diễn trước đó.[19][20]

Năm 2013, Yoona đảm nhận vai nữ chính Nam Da-jung bên cạnh nam diễn viên Lee Beom-soo trong bộ phim truyền hình hài tình cảm Prime Minister and I. Nội dung phim được lấy cảm hứng từ bộ phim nhạc kịch The Sound of Music.[21] Vai diễn của cô là một nữ phóng viên trẻ đột ngột được đề nghị kết hôn với thủ tướng Hàn Quốc. Mặc dù phim không đạt được thành công về mặt tỷ suất người xem, Yoona đã nhận được giải Nữ diễn viên phim truyền hình ngắn xuất sắc tại lễ trao giải KBS Drama Awards lần thứ 27 cho vai diễn của mình.

Cuối năm 2014, Yoona bắt đầu ghi hình cho bộ phim truyền hình cổ trang Trung Quốc Võ Thần Triệu Tử Long trong vai nữ chính Hạ Hầu Khinh Y bên cạnh các diễn viên như Lâm Canh TânKim Jeong-hoon.[22] Phim bắt đầu được phát sóng từ tháng 4 năm 2016.

Tháng 11 năm 2015, Yoona được công bố là sẽ đảm nhận vai Park Min-young bên cạnh nam diễn viên Hyun Bin trong bộ phim điện ảnh hành động Cooperation.[23]

Hình ảnh công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Yoona tại sự kiện Pandora Gala Dinner vào tháng 9 năm 2014

Yoona từng được đặt danh hiệu là "nữ hoàng quảng cáo" sau khi xuất hiện trong nhiều quảng cáo và trở thành gương mặt đại diện cho nhiều nhãn hiệu.[24][25] Năm 2012, cô xuất hiện trong ít nhất 20 phim quảng cáo và xếp thứ năm trong số những người nổi tiếng tham gia nhiều quảng cáo nhất.[26][27] Cô cũng đã và đang đảm nhận vai trò gương mặt đại diện cho nhãn hiệu mỹ phẩm Innisfree trong 7 năm liên tiếp. Năm 2014, Yoona được CNN đánh giá là "một trong những tên tuổi lớn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương" góp phần giúp các nhãn hiệu mỹ phẩm Hàn Quốc trở nên phổ biến tại thị trường Trung Quốc.[28] Năm 2016, cô được tạp chí Forbes bình chọn là một trong 30 người nổi tiếng dưới 30 tuổi trong lĩnh vực thể thao và giải trí có sức ảnh hưởng lớn nhất tại châu Á.[29]

Trong suốt sự nghiệp của mình, YoonA cũng thường xuyên làm tình nguyện và quyên góp từ thiện. Nhờ những hoạt động đó, vào năm 2015 cô đã được gặp gỡ tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye tại Nhà Xanh và trở thành thành viên của tổ chức danh dự dành cho các cá nhân có những đóng góp từ thiện to lớn của Hàn Quốc.[30][31]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 2013, Yoona bắt đầu một mối quan hệ tình cảm với nam ca sĩ và diễn viên Lee Seung-gi.[32] Tháng 8 năm 2015, công ty đại diện của hai người xác nhận là họ đã chia tay vì lí do lịch trình bận rộn.[33]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Năm Thứ hạng
cao nhất
Doanh số
(tải về)
Album
HQ
Gaon

[34]
"Haptic Motion" (với Jessica, TiffanyTVXQ) 2008 N/A Digital single
"Innisfree Day" 2010 N/A Digital single
"Deoksugung Stonewall Walkway" (hợp tác với 10cm) 2016 24 Digital single
"—" cho biết bài hát không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực này.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai Ghi chú
2012 I AM. Chính mình Phim tài liệu về SM Town
2015 SM Town the Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town
2016 Cooperation Park Min-young Vai phụ

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Kênh Vai Ghi chú
2007 9 Ends, 2 Out MBC Sin Ju-yeong Vai phụ
2008 Unstoppable Marriage KBS2 Một trong bảy công chúa
của Bulgwang-dong
Khách mời
Woman of Matchless Beauty MBC Mi-ae Khách mời
You Are My Destiny KBS Jang Sae-byeok Vai chính
2009 Cinderella Man MBC Seo Yu-jin Vai chính
2012 Love Rain KBS2 Kim Yun Hee / Jung Hana Vai chính
2013 Prime Minister and I KBS Nam Da Jung Vai chính
2015 Because It's The First Time OnStyle Im Yoona Khách mời
2016 Võ Thần Triệu Tử Long Hunan TV Hạ Hầu Khinh Y / Mã Ngọc Nhu Vai chính

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kênh Ghi chú
2009 Girls' Generation's Hello Baby KBS Thành viên cố định
2010 Family Outing 2 SBS Thành viên cố định
2011-2012 Girls' Generation and the Dangerous Boys JTBC Thành viên cố định
2015 Channel Girls' Generation OnStyle Thành viên cố định

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2008 Korea Drama Awards lần thứ 2 Netizen Popularity Award[36] You Are My Destiny Đoạt giải
KBS Drama Awards lần thứ 22 Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất Đoạt giải[12]
Netizen Award[12] Đoạt giải
2009 Baeksang Arts Awards lần thứ 45 Nữ diễn viên phim truyền hình mới xuất sắc nhất Đoạt giải
Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất Đoạt giải
2010 Baeksang Arts Awards lần thứ 46 Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất Cinderella Man Đoạt giải
2012 Mnet 20's Choice Awards 20's Female Drama Star Love Rain Đề cử
KBS Drama Awards lần thứ 26 Nữ diễn viên chính xuất sắc (phim truyền hình ngắn) Đề cử
Netizen Award[37] Đoạt giải
2013 Baeksang Arts Awards lần thứ 49 Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất Đề cử
KBS Drama Awards lần thứ 27 Nữ diễn viên chính xuất sắc (phim truyền hình ngắn) Prime Minister and I Đoạt giải
Cặp đôi đẹp nhất (với Lee Bum Soo)[38] Đoạt giải
Netizen Award Đề cử
2014 Baeksang Arts Awards lần thứ 50 Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất Đề cử
Seoul International Youth Film Festival lần thứ 16 Nữ diễn viên trẻ xuất sắc nhất Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 72. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ 소녀시대 윤아 방송 최초 가족 공개, 대가족 총출동 눈길. Newsen (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “SM 비밀병기 ‘얼짱’ 윤아는 동방신기 ‘마법의 성’ 뮤비로 데뷔”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 7 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2014. 
  4. ^ “Graduation photos of Yoona, Seohyun go viral”. Kpopherald (bằng tiếng Anh). 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  5. ^ “Yoona to graduate from university with award”. Kpopherald (bằng tiếng Anh). 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Yoona Releases MV for Innisfree Day”. Soompi (bằng tiếng Anh). 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  7. ^ “Girls' Generation's YoonA walks through "Deoksugung Stonewall Walkway" in new MV!”. Soompi (bằng tiếng Anh). 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  8. ^ “‘소녀시대’ 윤아, MBC ‘9회말 2아웃’ 브라운관 데뷔”. HanKyung (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ 소녀시대 윤아 가출 노숙소녀로 ‘박정금’ 카메오 시선집중. Newsen (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “K팝 프린세스에서 한류 여왕으로, 소녀시대 윤아의 네버엔딩스토리” [Kpop princess to Kpop Hallyu Queen - Yoona's Never Ending story]. WStarNews (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ '너는 내 운명' 시청률 41.5% 돌파. Nocutnews (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ a ă â “[포토엔]너는 내운명 윤아, 신인상 수상 영예(KBS연기대상)”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ “Girls' Generation Dominates MBC”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 20 tháng 5 năm 2009. 
  14. ^ “Yoona to star in new drama”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 19 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  15. ^ 'Love Rain' Viewership Ratings Still Low”. Mwave (bằng tiếng Anh). 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  16. ^ “Jang Keun Suk and Yoona (of SNSD)'s Love Rain is sold to twelve countries”. Star News (bằng tiếng Anh). 11 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  17. ^ 'Love Rain' Expected to Bring Big Profits From Sales Abroad”. Mwave (bằng tiếng Anh). 30 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  18. ^ “K-pop stars dominate TV dramas”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 3 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2015. 
  19. ^ '사랑비' 윤아, 얼굴보다 100배는 더 예쁜 연기력. Osen (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  20. ^ 소녀시대 '윤아'의 향상된 연기력이 화제다. Hankooki (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  21. ^ Lee, Sun-min (12 tháng 9 năm 2013). “Yoona offered lead role on KBS drama”. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ “SNSD's Yoona Cast as Lead in Historical Chinese Drama”. Mwave (bằng tiếng Anh). 26 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  23. ^ “Hyun Bin, Yoona and Yoo Hae-jin’s new film to kick off”. KpopHerald. 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ “SNSD Yoona's No.1 Titles”. CJ E&M (bằng tiếng Anh). 19 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ ‘힐링캠프’ 윤아 "상반기 40억 수입? 못번다는 것보다 좋아서…". DongA Ilbo (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014. 
  26. ^ “TV만 틀면 '소녀시대' 나오더니만 역시나”. Asiae (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014. 
  27. ^ “SNSD's Yoona is the Highest Earning Female Idol Group Member”. CJ&M eNewsWorld (bằng tiếng Anh). 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014. 
  28. ^ “How South Korea drives Asia's love affair with cosmetics”. CNN (bằng tiếng Anh). 6 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ “Forbes: 30 Under 30 Asia 2016”. Forbes (bằng tiếng Anh). Tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2016. 
  30. ^ “소녀시대 윤아, 청와대에서도 빛나는 여신 미모 '후광 비치는 듯'. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016. 
  31. ^ “SNSD’s Yoona Becomes First Member of ‘Honor Society’ Donors in 2015”. mwave (bằng tiếng Anh). 2 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016. 
  32. ^ Jackson, Julie (1 tháng 1 năm 2014). “Lee Seung-gi and SNSD’s YoonA dating”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  33. ^ Ko Ji-seon (13 tháng 8 năm 2015). “Lee Seung-gi, Yoona split up: agency”. Kpop Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015. 
  34. ^ Gaon Weekly Digital Chart
  35. ^ “Gaon Download Chart - 2016 Week 11 (see #13)”. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  36. ^ “Actor Kim Wins Top Prize at Korea Drama Festival Awards”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015. 
  37. ^ “‘KBS 연기대상’ 송중기·문채원·윤아, 네티즌상 수상”. The Korea Times/Hankooki (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  38. ^ “조정석·아이유, 지성·황정음, 오지호·김혜수, 주원·문채원, 이범수·윤아, KBS연기대상 베스트커플상”. Star News (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]