Park Geun-hye

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Park.
Park Geun-hye
박근혜
朴槿惠
Park Geun-hye (8724400493) (cropped).jpg
Park Geun-hye ngày 9 tháng 5 năm 2013
Chức vụ
Nhiệm kỳ 25 tháng 2, 2013 – Quyền hạn và trách nhiệm Tổng thống bị đình chỉ từ 9 tháng 12, 2016
Tiền nhiệm Lee Myung-bak
Kế nhiệm Hwang Kyo-ahn (Quyền)
Vị trí Hàn Quốc
Chủ tịch Đảng Saenuri
Lần 1
Nhiệm kỳ 23 tháng 3, 2004 – 
10 tháng 7, 2006
Tiền nhiệm Choe Byeong-ryeol
Kế nhiệm Kang Jae-sup
Vị trí Hàn Quốc
Chủ tịch Đảng Saenuri
Lần 2
Nhiệm kỳ 17 tháng 12, 2011 – 
15 tháng 5, 2012
Tiền nhiệm Hong Jun-pyo
Kế nhiệm Hwang Woo-yea[1]
Vị trí Hàn Quốc
Nhiệm kỳ 16 tháng 8, 1974 – 
26 tháng 10, 1979
Tiền nhiệm Yuk Young-soo (Mẹ)
Kế nhiệm Hong Gi
Vị trí Hàn Quốc
Nhiệm kỳ 3 tháng 4, 1998 – 
10 tháng 12, 2012
Tiền nhiệm Kim Suk-won
Kế nhiệm Lee Jong-jin
Vị trí Hạt Dalseong, Hàn Quốc
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Saenuri
Sinh 2 tháng 2, 1952 (65 tuổi)
Daegu, Hàn Quốc
Alma mater Đại học Sogang
Dân tộc Hàn Quốc
Tôn giáo Phật giáo[2]
Cha hoặc mẹ Park Chung Hee
Trang web Official website
Cyworld
Twitter
Facebook
Weibo
Chữ ký Park Geun-hye signature.png
Park Geun-hye
Hangul 박근혜
Hanja 槿
Romaja quốc ngữ Bak Geunhye
McCune–Reischauer Pak Kŭnhye
Hán-Việt Phác Cận Huệ
Pháp Hiệu
Hangul 선덕화
Hanja
Romaja quốc ngữ Seondeokhwa
McCune–Reischauer Sŏndŏkhwa

Park Geun-hye (Hangul: 박근혜 (âm Việt: Pac Cưn Hê), Hanja: 朴槿惠, Hán-Việt: Phác Cận Huệ, sinh 1952) là một nữ chính trị gia Hàn Quốc. Kể từ ngày 25 tháng 2 năm 2013, bà nhậm chức Tổng thống Hàn Quốc và là nữ tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc.[3] Bà từng là Nghị sĩ Quốc hội Hàn Quốc, cựu chủ tịch đảng Saenuri. Bà hiện đang bị đình chỉ chức vụ tổng thống sau cuộc hạch tội của Quốc hội Hàn Quốc ngày 9 tháng 12 năm 2016. Thủ tướng Hwang Kyo-ahn đang tạm quyền tổng thống Hàn Quốc.

Thiếu thời và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Park Geun-hye sinh ngày 2 tháng 2 năm 1952 tại Samdeok-dong Jung-gu, Daegu, là con trưởng của cố tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee (박정희, âm Hán Việt: Phác Chính Hy). Mẹ bà là Yuk Young-soo. Bà có một em gái tên là Park Geun-Ryeong (박근령, 朴槿姈 (âm Hán Việt: Phác Cận Linh)) sinh năm 1954 và một em trai tên là Park Ji-man (박지만, 朴志晩 (âm Hán Việt: Phác Chí Vãn)) sinh năm 1958. Bà tốt nghiệp trường trung học Seongsim ở Seoul năm 1970. Sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành kỹ thuật điện tử từ Đại học Sogang năm 1974, bà sang Pháp và nhập học tại Đại học Grenoble, nhưng sau đó không lâu khi mẹ bà chết do bị ám sát (ngày 15 tháng 8 năm 1974), bà phải quay về nước.

Mẹ bà lúc bấy giờ đang là Đệ nhất phu nhân Hàn Quốc. Mẹ bà bị Mun Se-gwang, điệp viên Bắc Triều Tiên sinh ra ở Nhật Bản, giết chết. Mun Se-gwang là thành viên của Tổng Hội Cư dân Triều Tiên tại Nhật Bản, tuân lệnh chính phủ Bắc Triều Tiên hạ sát cha bà là tổng thống Park Chung Hee, nhưng ám sụt hụt, và mẹ bà là Yuk Young-soo bị trúng đạn và chết tại Nhà hát Quốc gia Hàn Quốc, Seoul ngày 15 tháng 8 năm 1974. Kể từ đó, Park Geun-hye lãnh nhiệm vụ làm đệ nhất phu nhân (?) cho đến năm 1979 khi cha bà cũng bị ám sát bởi chính giám đốc tình báo Hàn Quốc là Gim Jaegyu ngày 26 Tháng 10 năm 1979. Tình hình chính trị Hàn Quốc lúc bấy giờ rất căng thẳng. Các nhân vật đối lập đều bị quản thúc hoặc sách nhiễu. Năm 2007, Park Geun-hye đã lên tiếng tỏ việc hối tiếc về lập trường đàn áp đối lập của Park Chung Hee.

Ngoài tiếng Hàn là tiếng mẹ đẻ, Park Geun-hye còn biết nói tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Tây Ban Nha.[4]

Park Geun-hye tự cho mình là một người không theo tôn giáo nào cả. Tuy nhiên do ảnh hưởng của mẹ, Park Geun Hye ít nhiều gắn bó với các Phật tử, và cũng gần gũi cả với một số tín đồ Tin Lành có tên tuổi.

Sau khi cha bị ám sát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1980, bà làm giám đốc Quỹ Văn hóa Hàn Quốc (한국문화재단).

Năm 1982, bà làm giám đốc Quỹ Dục anh (육영재단(育英財團 (dục anh tài đoàn)).

Năm 1994, bà làm giám đốc Quỹ học bổng 정수장학회 (正修獎學會 (chánh tu tưởng học hội)).

Tham gia chính trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 12 năm 1997, ở tuổi 45, qua giới thiệu của một người anh họ tên là Pac Che Hôông (박재홍), bà đã gặp ứng cử viên tổng thống của đảng HanNaRa (한나라당 (Han-na-ra đang: đảng một đất nước)) trong cuộc bầu cử tổng thống thứ 15 của Hàn Quốc là Lee Hoi-chang (이회창 (I Huê Ch'ang)).

Sau đó bà tuyên bố ủng hộ ứng cử viên tổng thống Lee Hoi-chang và gia nhập đảng HanNaRa vào ngày 10 tháng 12 năm 1997.

Sau đó theo đề cử của Lee Hoi-chang, bà trở thành ứng cử viên của đảng HanNaRa trong cuộc bầu cử bổ khuyết nghị viên quốc hội ở quận Dalseong (달성군), thành phố Daegu (대구광역시), thành phố quê hương của bà, và đã trúng cử vào ngày 2 tháng 4 năm 1998. Bà được bầu làm nghị viên quốc hội thêm ba lần nữa trong cùng khu vực bầu cử này.

Chủ tịch đảng HanNaRa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc bầu cử năm 2004, Đảng HanNaRa phải đối mặt với một thất bại nghiêm trọng do thất bại trong việc luận tội tổng thống Roh Moo-hyun và do vụ bê bối hối lộ của ông Lee Hoi-chang bị tiết lộ trong năm đó. Bà Park Geun-hye được bầu làm chủ tịch của đảng và chỉ đạo những nỗ lực trong cuộc bầu cử. Trong cuộc bầu cử, đảng HanNaRa mất vị trí đa số của mình, nhưng vẫn giành được 121 ghế, và được nhiều người coi là một thành tựu lớn trong hoàn cảnh không thuận lợi như vậy đối với đảng này[5][6].

Là chủ tịch đảng HanNaRa, Park Geun-hye đã giúp đảng của mình giành thắng lợi lớn trong các cuộc bầu cử địa phương và đã giành được đa số ghế trong quốc hội vào năm 2006.

Trong chiến dịch ngày 20 tháng năm 2006, Ji Chung-ho, một tên tội phạm 50 tuổi với 8 tiền án trước đó đã rạch mặt bà bằng một con dao, gây ra một vết thương dài 11 cm trên khuôn mặt của bà, phải khâu 60 mũi và nhiều giờ phẫu thuật.[7][8]. Một giai thoại nổi tiếng từ sự kiện này xảy ra khi Park Geun-hye đã phải nhập viện sau vụ tấn công. Từ đầu tiên mà bà nói với thư ký của mình sau khi hồi phục từ vết thương là "Daejeon thế nào rồi?" Sau đó, ứng cử viên của đảng HanNaRa giành thắng lợi trong cuộc bầu cử thị trưởng của thành phố Daejeon mặc dù xếp sau hơn 20% trong các cuộc thăm dò ý kiến ​​đến thời điểm đó.

Ngoài ra, trong nhiệm kỳ chủ tịch đảng HanNaRa giữa năm 2004 và 2006, đảng HanNaRa đã giành chiến thắng trong tất cả 40 cuộc bầu cử lại và các cuộc bầu cử phụ, trong đó phần lớn đã được ghi nhận có vào ảnh hưởng và những nỗ lực của Park Geun-hye [9][10]. Điều này đã khiến Park Geun-hye có biệt danh "Nữ hoàng của các cuộc bầu cử".

Ngày 12 tháng 2 năm 2007, Park Geun-hye đã có chuyến thăm được công bố rộng rãi đến Đại học HarvardCambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ. Chuyến thăm của bà tại Trường chính quyền Kennedy, nơi bà phát biểu trước một đám đông chật cứng khán giả, bà đã nói rằng muốn "cứu" Hàn Quốc và ủng hộ một mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ[11][12].

Bà là nghị viên quốc hội cho đến tháng tư năm 2012. Năm 2012, đảng HanNaRa đổi tên thành đảng Saenuri.

Trong năm 2012, Park Geun-hye không chạy đua ghế đại diện cử tri trong cuộc bầu cử thứ 19 ở Dalseong hoặc bất cứ nơi nào khác, nhưng lại chạy đua tranh cử một vị trí đại diện theo tỷ lệ cho đảng Saenuri, nhằm lãnh đạo chiến dịch bầu cử của đảng này[13]. Park Geun-hye được bầu làm đại diện theo tỷ lệ trong cuộc bầu cử lập pháp tháng 4 năm 2012.

Trước khi được bầu làm tổng thống, Park Geun-hye từng là nghị sĩ quốc hội 5 khóa liên tiếp và đã kinh qua chức vụ Chủ tịch Ủy ban ứng phó khẩn cấp của đảng Saenuri.

Tổng thống Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt kinh tế Park Geun-hye tỏ ra dè dặt trong việc kiểm soát quyền lực của các chaebol chi phối kinh tế Hàn Quốc. Đối với Bắc Triều Tiên, bà cam kết thực hiện hai chính sách song song, vừa cải thiện quan hệ, vừa răn đe mạnh mẽ hướng tới một cuộc họp mặt thượng đỉnh với lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong-un.

Park Geun-hye lên tiếng sẵn sàng nối lại viện trợ nhân đạo cho Bắc Triều Tiên, vốn bị Tổng thống Lee Myung-bak đình chỉ từ khi lên nắm quyền. Tuy nhiên chính sách đó sẽ bị hạn chế bởi thành phần chủ chiến trong đảng cũng như mối bang giao quốc tế vì nhiều nước đòi trừng phạt Triều Tiên về vụ phóng tên lửa tháng 12 năm 2012.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bà chưa từng kết hôn và cũng không có con.

Học lực[sửa | sửa mã nguồn]

Học vị tiến sĩ danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lee Eun-joo (ngày 16 tháng 5 năm 2012). “Saenuri elects new leaders: Hwang Woo-yea of Park faction becomes its chairman”. JoongAng Ilbo. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012.  Đã bỏ qua văn bản “home” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “newslist1 ” (trợ giúp)
  2. ^ http://vuontam.net/news.php?id=2083
  3. ^ Hàn Quốc có nữ tổng thống đầu tiên
  4. ^ “President charms Chinese with Mandarin”. 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ 2012 Yeonhap News article
  6. ^ 2012 Chosun Biz article
  7. ^ “Joint Probe into Attack on GNP Chairwoman”. Arirang News. Ngày 22 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  8. ^ Gim Yi-sak(김이삭); Chung Min-seung(정민승) (ngày 21 tháng 5 năm 2006). “박근혜대표 유세장서 피습 중상” [GNP leader Park Geun-hye attacked during campaign]. Hankook Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  9. ^ Kim Nam-kwon(김남권) (ngày 4 tháng 10 năm 2011). “박근혜, 野시절 `40대 0 신화'.이번엔?” [Park Geun-hye scored 40 to 0 as the opposition. How about this time?]. Yonhap News (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ Kim Min-ja(김민자) (ngày 29 tháng 3 năm 2012). '선거의 여왕' 박근혜, 총선에서 뒷심 발휘할까?” ['Queen of elections' Park Geun-hye, Could she wield her magic again in April?]. NewsIs (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  11. ^ “Politician Wants To ‘Save’ Korea: South Korean National Assembly member advocates alliance with United States”. The Harvard Crimson. Ngày 13 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  12. ^ “The Republic of Korea and the United States:Our Future Together”. Institute for Corean-American Studies, Inc. Ngày 21 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. An Address Delivered at the ARCO (John F. Kennedy Jr.) Forum, John F. Kennedy School of Government Harvard University 
  13. ^ Guray, Geoffrey Lou (ngày 19 tháng 12 năm 2012 at 12:18 PM EDT). “South Korea Elects First Female President -- Who Is She?”. PBS NewsHour. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]