Tiffany (ca sĩ Hàn Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiffany
Tiffany Hwang at a fansigning in Busan, in June 2016 06.jpg
Tiffany tại một sự kiện ký tặng cho album I Just Wanna Dance vào tháng 6 năm 2016
Sinh Stephanie Young Hwang[1]
1 tháng 8, 1989 (27 tuổi)
San Francisco, California, Mỹ
Tên khác Hwang Mi-young[2]
Công việc
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại K-pop
Năm hoạt động 2007 (2007)–nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 티파니
Romaja quốc ngữ Tipani
McCune–Reischauer T'ip'ani
Tên tiếng Hàn
Hangul [2]
Hanja
Romaja quốc ngữ Hwahng Mi-yeong
McCune–Reischauer Hwahng Miyŏng
Chữ ký
Tiffany signature.png

Stephanie Young Hwang (sinh ngày 1 tháng 8 năm 1989), thường được biết đến với nghệ danh Tiffany, là một nữ ca sĩ, diễn viên người Mỹ gốc Hàn, thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation và nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiffany được sinh ra vào ngày 1 tháng 8 năm 1989 tại San Francisco, California[3] và lớn lên tại Diamond Bar, California.[4] Cô theo học tại trường cấp hai South Pointe, trường cấp ba Diamond Bar và tốt nghiệp trường quốc tế Korea Kent tại Seoul.

Tiffany được mời tham gia thử giọng thông qua hệ thống Starlight Casting của S.M. Entertainment và trở thành thực tập sinh của công ty vào tháng 10 năm 2004 ở tuổi 15.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tiffany ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation vào tháng 8 năm 2007. Năm 2008, cô và hai thành viên cùng nhóm JessicaSeohyun phát hành đĩa đơn "Oppa Nappa",[6] đồng thời thể hiện bài hát "It's Fantastic" cho trò chơi điện tử Mabinogi.[7] Năm 2012, Tiffany, Seohyun và Taeyeon, một thành viên khác của Girls' Generation, thành lập nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS. Năm 2013, cô song ca với Taeyeon trong bài hát "Lost in Love" nằm trong album phòng thu tiếng Hàn thứ tư I Got a Boy của nhóm.

Tiffany đã tham gia thể hiện nhạc phim cho nhiều bộ phim truyền hình và điện ảnh Hàn Quốc. Trong đó, các bài hát solo bao gồm "By Myself" cho bộ phim truyền hình Princess Ja Myung Go (2009),[8] "Ring" cho bộ phim truyền hình Haru (2010), "Because It's You" cho bộ phim truyền hình Love Rain (2012), "One Step Closer" cho bộ phim truyền hình All About My Romance (2013) và "Only One" cho bộ phim truyền hình Blood (2015). Các bài hát song ca bao gồm "Rise and Shine" với Kyuhyun, thành viên nhóm nhạc nam Super Junior, cho bộ phim truyền hình To the Beautiful You (2012) và "Good Life" với Henry, thành viên nhóm nhạc nam Super Junior-M, cho bộ phim điện ảnh Final Recipe (2014). Cô cũng đã hợp tác với một số nghệ sĩ như K.Will trong bài hát "A Girl, Meets Love" (2009)[9]Han Heejun trong bài hát "QnA" (2015).[10] Năm 2015, cô tham gia thể hiện bài hát "Talk About Love" cho chiến dịch từ thiện của W Foundation.

Tháng 5 năm 2016, Tiffany bắt đầu hoạt động với tư cách ca sĩ solo bằng việc phát hành mini album đầu tay I Just Wanna Dance.[11] Bài hát chủ đề cùng tên đã giành chiến thắng hai lần trên các chương trình âm nhạc The ShowShow Champion.[12] Ngày 10 tháng 6, cô phát hành bài hát "Heartbreak Hotel", với sự góp mặt của rapper Simon Dominic, thuộc dự án âm nhạc Station của S.M. Entertainment.[13] Nửa sau tháng 6 năm 2016, Tiffany tổ chức concert solo đầu tiên với tên gọi Weekend, thuộc chuỗi concert The AGIT của các nghệ sĩ S.M. Entertainment, tại Seoul.[14] Tháng 10 năm 2016, cô viết lời và thu âm bài hát "Don't Speak" nằm trong album Identity của Far East Movement.[15]

Diễn xuất và truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tiffany tại buổi công chiếu của bộ phim điện ảnh My Brilliant Life vào tháng 8 năm 2014

Từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008, Tiffany dẫn chương trình cho chương trình truyền hình âm nhạc Boys & Girls Music Countdown.[16] Tháng 4 năm 2009, cô và thành viên cùng nhóm Yuri bắt đầu dẫn chương trình cho chương trình truyền hình âm nhạc Show! Music Core.[17] Hai người rời khỏi vị trí này vào tháng 7 năm 2010 để tập trung cho sự ra mắt tại Nhật Bản của Girls' Generation,[18] và sau đó quay trở lại chương trình vào tháng 10 năm 2011. Tháng 1 năm 2011, Yuri một lần nữa ngừng tham gia chương trình và Tiffany tiếp tục dẫn chương trình cùng với Taeyeon và Seohyun. Ba người ngừng tham gia chương trình vào tháng 4 năm 2013.

Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 1 năm 2012, Tiffany đảm nhận vai Carmen Diaz, một sinh viên khoa biểu diễn nghệ thuật mơ ước được nổi tiếng, trong phiên bản Hàn Quốc của vở nhạc kịch Fame. Tháng 9 năm 2013, Tiffany bắt đầu tham gia chương trình truyền hình về thời trang Fashion King Korea. Cô và nhà thiết kế Ji Il-geun bị loại vào tháng 1 năm 2014 và giành vị trí thứ ba. Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2015, Tiffany và người mẫu Lee Chul-woo dẫn chương trình cho chương trình truyền hình thực tế Heart A Tag có nội dung về thời trang và làm đẹp. Tháng 3 năm 2016, Tiffany bắt đầu tham gia chương trình truyền hình Sister's Slam Dunk.[19]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 2009, Tiffany lần đầu tiên xác nhận trên truyền hình rằng mẹ của cô đã qua đời. Sau đó vào tháng 11 năm 2011, cô cho biết bà qua đời hai năm trước khi cô trở thành thực tập sinh của S.M. Entertainment, và mối quan hệ giữa cô và bố của mình đã phần nào trở nên xa cách sau khi cô chuyển đến Hàn Quốc.[20]

Tháng 4 năm 2014, Tiffany bắt đầu một mối quan hệ tình cảm với nam ca sĩ Nichkhun, thành viên nhóm nhạc nam 2PM.[21] Tháng 5 năm 2015, công ty đại diện của hai người xác nhận là họ đã chia tay vì lý do lịch trình bận rộn.[22]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Tiffany được chẩn đoán mắc bệnh viêm dây thanh đới, khiến cho giọng của cô bị khàn và giảm âm vực. Sau khi được chữa trị, giọng của cô đã trở lại bình thường nhưng tình trạng bệnh lại bắt đầu xấu đi từ giữa năm 2009, buộc cô phải tạm ngừng hoạt động nhập viện vào tháng 9 năm 2009.[23] Sau đó cô lại phải được điều trị tại bệnh viện một lần nữa vào tháng 6 năm 2010. Mặc dù được chữa trị thành công, Tiffany cho biết giọng hiện tại của mình đã thay đổi so với trước khi cô mắc bệnh.[24]

Tháng 2 năm 2009, Tiffany bị ngã trong khi biểu diễn bài hát "Gee" cùng với Girls' Generation, khiến mắt cá chân bên trái của cô bị chấn thương và phải được bó bột và buộc cô phải ngồi hoặc đứng yên trong các màn biểu diễn sau đó của nhóm.[25] Đầu năm 2010, cổ tay của Tiffany bị chấn thương khi cô đang ghi hình cho chương trình truyền hình Let's Go Dream Team! và phải được bó bột. Tháng 8 năm 2010, Tiffany bị ngã trong buổi biểu diễn SMTown Live '10 World Tour tại Seoul, khiến mắt cá chân bên phải của cô bị chấn thương. Mặc dù chấn thương không nghiêm trọng, cô vẫn được bó bột để đảm bảo hồi phục kịp thời cho sự ra mắt của Girls' Generation tại Nhật Bản.[26] Hai tháng sau, một cú ngã nghiêm trọng hơn làm cho dây chằng chéo sau của Tiffany bị chấn thương, khiến cô không thể tiếp tục tham gia các hoạt động quảng bá cho bài hát "Hoot" cùng Girls' Generation.[27] Cô quay lại hoạt động cùng nhóm tại Nhật Bản sau một tháng.[28]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai Ghi chú
2012 I AM. Chính mình Phim tài liệu về SM Town
2014 My Brilliant Life Chính mình Khách mời[29]
2015 SM Town the Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Kênh Vai Ghi chú
2008 Unstoppable Marriage KBS2 Công chúa của Bulgwang-dong Khách mời
2015 The Producers KBS Chính mình Khách mời[30]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kênh Vai trò Ghi chú
2007–08 Boys & Girls Music Countdown Mnet Dẫn chương trình
Champagne KBS Dẫn chương trình
2008 Kko Kko Tours Single♥Single KBS2 Thành viên cố định Mùa 1
2009-10 Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2011-12
2012-13
2013 Fashion King Korea SBS Thí sinh Giải ba
2015 Heart A Tag Mnet Dẫn chương trình
2016 Sister's Slam Dunk KBS Thành viên cố định

Sân khấu kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vở kịch Vai Ghi chú
2011–12 Fame Carmen Diaz Vai chính

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2008 Mnet 20's Choice Awards lần thứ 2 Hot School Girl Chính mình Đề cử
2009 Mnet Asian Music Awards lần thứ 11 Best OST "By Myself" Đề cử
2011 MBC Entertainment Awards lần thứ 11 Special Award: MC Division (với Yuri)[31] Show! Music Core Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Person details for Stephanie Young Hwang, 'California, Birth Index, 1905-1995'. FamilySearch. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ a ă “티파니 한국이름 공개 “황미영이에요~””. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  3. ^ “Win Win Episode 11”. Win Win (bằng tiếng Korean). Seoul, South Korea. Ngày 20 tháng 4 năm 2010. Korean Broadcasting System. KBS2. 
  4. ^ “Tiffany from Girls'Generation Exclusive Interview with Mnet America”. YouTube. Ngày 13 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ “소녀시대 티파니 “LA 축제서 캐스팅””. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014. 
  6. ^ “소녀시대 티파니 "‘오빠나빠’ 활동 당시 성대결절 고생”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 16 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010. 
  7. ^ “소녀시대 티파니 제시카 서현 게임 주제가 신곡 발표”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2010. 
  8. ^ “티파니, 서현 이어 솔로변신..'자명고' OST 참여”. MoneyToday (bằng tiếng Hàn). Ngày 25 tháng 3 năm 2009. 
  9. ^ “티파니 케이윌과 ‘소녀, 사랑을 만나다’ 듀엣 열창”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “Heejun and Tiffany join hands for a delightful duet 'QnA'!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ Choi, Jin-sil (ngày 12 tháng 5 năm 2016). '엠카' 티파니, 이제는 댄스파니로 컴백 'I Just Wanna Dance'. Xports News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016. 
  12. ^ “Tiffany takes her first solo win on 'The Show'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  13. ^ “티파니X사이먼 도미닉 'Heartbreak Hotel' 오늘(9일)자정 공개”. Sports Today. Ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2016. 
  14. ^ Jeon Soo-mi (ngày 17 tháng 5 năm 2016). “소녀시대 티파니, 솔로 콘서트 'WEEKEND - TIFFANY' 연다..19일 예매 시작”. mnet. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  15. ^ Jeff Benjamin (13 tháng 10 năm 2016). “Far East Movement's Globally Focused 'Identity' Album Kicks Off With 'Freal Luv' Video ft. Tinashe, Marshmello & EXO's Chanyeol: Exclusive”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2016. 
  16. ^ “카라 한승연, 티파니 후임으로 '소년소녀가요백서' 진행”. International Business Times (bằng tiếng Hàn). Ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. 
  17. ^ “티파니·유리, '음악중심' 새 MC..."샤방샤방 즐거움 드릴게요". edaily.co.kr (bằng tiếng Hàn). Ngày 28 tháng 3 năm 2009. 
  18. ^ “Tiffany and Yuri perform MC farewell stage on Music Core!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 31 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010. 
  19. ^ “‘언니들의 슬램덩크’ 티파니 “긍정적 메시지 전달할 것””. tenasia (bằng tiếng Hàn). Ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ 스타인생극장' 티파니, 일 때문에 아빠와 멀어져 '눈물 펑펑. news.zum.com (bằng tiếng Hàn). Ngày 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  21. ^ 2PM’s Nichkhun and Girl’s Generation’s Tiffany Confirmed to Be Dating. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  22. ^ Nichkhun and Tiffany Confirmed to Have Broken Up. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  23. ^ 소녀시대 티파니 목 상태 호전 "26일 ‘음중’ 참여 가능할듯" - 손에 잡히는 뉴스 눈에 보이는 뉴스 - 뉴스엔. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  24. ^ “은혁•티파니, 내 모든 감가에 주문을 걸어” (bằng tiếng Hàn). Ngày 14 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  25. ^ “소녀시대 티파니 발목부상 ‘음악중심 출연 반깁스 투혼’”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 28 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2016. 
  26. ^ 소녀시대 티파니 발목 깁스, 日 쇼케이스는 예정대로. hankyung.com (bằng tiếng Hàn). Ngày 23 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  27. ^ “무릎부상 티파니, 한달만에 23일 소녀시대 활동재개”. JoongAng Daily Entertainment. Ngày 20 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  28. ^ 소녀시대 티파니 오늘(22일) 한달만에 복귀 日서 공식 활동재개. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  29. ^ “TaeTiSeo makes a cameo appearance in Kang Dong Won's movie My Brilliant Life”. Hankook Media Network (bằng tiếng Hàn). Ngày 21 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014. 
  30. ^ Yoon, Sarah (ngày 14 tháng 5 năm 2015). “SNSD to appear in Kim Soo-hyun's drama 'The Producers'. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  31. ^ MBC 올해의 예능 프로그램에 '나는 가수다'. MBC News (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]