Kim Junsu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Junsu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kim Junsu
Xiah Junsu crop.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kim Junsu
Nghệ danh Xiah Junsu, Junsu, XIA Junsu
Sinh 15 tháng 12, 1986 (30 tuổi), Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Thể loại Pop, R&B
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên, người mẫu, nhạc sĩ
Năm hoạt động 2003-nay
Hãng đĩa C-JeS Entertainment
Hợp tác với SM Town, TVXQ, Anyband
Kim Junsu
Hangul 김준수
Hanja 金俊秀
Romaja quốc ngữ Gim Junsu
McCune–Reischauer Kim Chunsu
Hán-Việt Kim Tuấn Tú

Kim Junsu (sinh 15 tháng 12 năm 1986; trên giấy khai sinh 1 tháng 1 năm 1987,[1] tại Gyeonggi-do, Hàn Quốc) thường được biết đến với nghệ danh Xiah, Xiah Junsu hay "XIA Junsu" (từ năm 2012) (tại Hàn Quốc) và Junsu (ジュンス?) (tại Nhật Bản) là một ca sĩ-nhạc sĩ, vũ công và diễn viên nhạc kịch, là thành viên nhóm nhạc Hàn Quốc JYJ. Anh là cựu thành viên của nhóm nhạc TVXQ, hay Dong Bang Shin Ki tại Hàn Quốc và Tohoshinki tại Nhật Bản.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Junsu sinh ra và lớn lên tại Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Anh còn có một anh trai song sinh tên Kim Junho (Kim Tuấn Hào), ca sĩ hoạt động chủ yếu tại Nhật Bản và Trung Quốc với nghệ danh JUNO hay ZUNO[2].

Junsu học tại trường Tiểu học Neunggok, Trung học cơ sở Nunggokl, Trung học phổ thông Hwasu, sau đó chuyển sang Trung học phổ thông Hanam. Anh tốt nghiệp Trung học phổ thông cùng thành viên trong nhóm, Park Yoochun năm 2007. Sau đó Kim Junsu học chuyên ngành Điện ảnh và Nhạc kịch tại Đại học Myongji, tốt nghiệp năm 2011.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Junsu 11 tuổi, anh bắt đầu kí hợp đồng thực tập sinh với SM Entertainment sau khi tham gia buổi thử giọng hàng năm lần thứ 6 của công ty.

Năm 2002, SM Entertainment thành lập dự án R&B với thành viên là Junsu và 2 thực tập sinh khác là Eunhyuk, bạn từ nhỏ của Junsu, và Sungmin. Họ xuất hiện trong một chương trình tên "2002 Survival Audition - Heejun vs. Kangta, Battle of the Century" cùng với 3 thành viên nhóm TRAX sau này (Jay Kim, No Minwoo, Kang Jungwoo). Họ được đánh giá và hướng dẫn bởi 2 thành viên của H.O.T, Moon Hee Jun và Kangta. Kangta rất đề cao Kim Junsu trong chương trình này và nói anh có tiềm năng trở thành một giọng ca chính. Nhóm giải tán năm 2003 (cả Eunhyuk và Sungmin hai năm sau được ra mắt là thành viên nhóm Super Junior, khi Junsu được lựa chọn là thành viên của TVXQ.

2003-2009: Thành viên nhóm nhạc TVXQ[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Junsu là thành viên đầu tiên của TVXQ. Anh ra mắt cùng TVXQ trong một chương trình biểu diễn đặc biệt của BoABritney Spears.[3] Anh chọn nghệ danh Xiah, là viết gọn của "Asia" (châu Á), phát âm như "ah-shee-ah" trong tiếng Hàn. "Xiah" thể hiện hoài bão của Junsu trở thành một ngôi sao không chỉ trong phạm vi Hàn Quốc mà vươn rộng ra toàn châu Á.[3]

Năm 2006, anh cùng Zhang Liyin song ca trong đĩa đơn ra mắt của cô, "Timeless.[4]. Đây là bản phối lại bài hát song ca của Kelly Clarkson và Justin Guarini, thu âm năm 2003. Anh còn xuất hiện trong phần hai của video "Timeless".

Năm 2007, anh tham gia vào một dự án Anycall của Samsung, Anyband. Nhóm gồm BoA, Tablo của Epik High, và nghệ sĩ dương cầm Jin Bora. Nhóm chỉ phát hành một đĩa đơn, "AnyBand".[5][6][7]

Junsu viết nhạc và lời ca khúc "Nae Gyeote Sumsiur Su Ittdamyeon (White Lie)" (네 곁에 숨쉴 수 있다면), nằm trong album tiếng Hàn thứ ba của TVXQ, "O"-Jung.Ban.Hap..

Trong dự án Trick, anh sáng tác ca khúc đơn của mình "Rainy Night".[8] Junsu viết lời ca khúc "Noeur.. Baraboda (Picture of You)" (노을..바라보다) trong album tiếng Hàn thứ tư của nhóm, Mirotic.[9].

Trong concert Tohoshinki 4th Live Tour 2009: The Secret Code tổ chức tại Tokyo Dome, Junsu cũng có một phần biểu diễn ca khúc tiếng Nhật tự sáng tác "Xiahtic".

Junsu đã xuất hiện trên hai chương trình truyền hình cùng TVXQ, Banjun TheaterVacation.[10][11]

2010-2017: JYJ và sự nghiệp Solo[sửa | sửa mã nguồn]

JYJ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2010, anh cùng hai cựu thành viên TVXQ, Kim JaejoongPark Yoochun, thành lập nhóm nhạc JYJ, trước đó lấy tên JUNSU/JAEJOONG/YOOCHUN, theo một thông báo của Avex Trax, công ty đại diện của bộ ba vào thời điểm đó[12].

Solo[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Avex tiết lộ rằng TVXQ sẽ tạm dừng hoạt động một khoảng thời gian không xác định, công ty quyết định Kim Junsu sẽ ra mắt với tư cách solo ở Nhật Bản[13]. Một đoạn teaser đã tiết lộ ca khúc tự sáng tác của anh, "Intoxication", và bài hát được đặt làm bài hát chủ đề cho đĩa đơn sắp tới của Junsu. Đĩa đơn tự sản xuất double A-side, Xiah (EP) được phát hành vào ngày 26 tháng 5 và đứng ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản. Hai bài hát trong đĩa đơn, "Kanashimi no Yukue" (悲しみのゆくえ) và "君がいれば ~Beautiful Love~" được sử dụng làm bài hát chủ đề cho chương trình "5nen Atono Love Letter" (5年後のラブレター Thư tình gửi 5 năm sau và "Beautiful Love ~ 君 が い れ ば ~"

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2010, Junsu bắt đầu sự nghiệp sân khấu với vai chính trong vở nhạc kịch "Mozart".

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ kiện SM Entertainment[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 7 năm 2009, Xiah Junsu cùng hai thành viên khác của TVXQ —Kim JaejoongMicky Yoochun— cùng ký vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment.[14] Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra.[15] Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 2 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la).[16] Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.[17]

Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Jaejoong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra.[18][19] Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.

Bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá là niềm đam mê của Junsu. Anh cùng Kim Hyun Joong và những người bạn đã thành lập đội bóng Suwon Samsung Bluewings FC MEN. 15/6/2011 Junsu đã thi đấu cùng những ngôi sao châu Á gồm Park Ji Sung, Lee Chu Yong, Yoon Du Jun...trong 1 trận đấu từ thiện gặp đội Navibank Sài Gòn của Việt Nam trên sân vận động Thống Nhất(TP HCM) và anh đã chơi khá tốt.

Chuyện tình cảm[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Concert và tour diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Các vở nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

OST[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kim, Junsu (ngày 23 tháng 1 năm 2006). KM News. (Phỏng vấn). South Korea. We Want to Know TVXQ!. KMTV. South Korea. 
  2. ^ Hong, Grace Danbi (6 June 2012). "JYJ's Kim Junsu Takes a Snapshot with Twin, Juno"enewsWorld. CJ E&M. Retrieved 11 June2012.
  3. ^ a ă (tiếng Hàn) “TVXQ singers of the popular nuclear blast”. Ngày 13 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ (tiếng Hàn) “Zhang Liyin and Xiah, Their Duet”. Newsen. Ngày 9 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2009. 
  5. ^ (tiếng Hàn) “Xiah Junsu: "Even When First Meeting BoA 6 Years Ago, She Stood Out". Donga Ilbo (DongA Ilbo Co.). Ngày 7 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ (tiếng Hàn) “BoA: "When First Meeting Tablo, He Asked To Take Pictures". Donga Ilbo (DongA Ilbo Co.). Ngày 7 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009. 
  7. ^ (tiếng Hàn) “Xiah Junsu-Tablo: "At First, We Didn't Believe We Were Cast for 'AnyBand'"”. Donga Ilbo (DongA Ilbo Co.). Ngày 7 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ (tiếng Nhật) “If...!?/Rainy Night (JUNSU from TVXQ)”. Yahoo! Music Japan. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2009. 
  9. ^ (tiếng Hàn) “TVXQ, official Korean website album info page”. Iple. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009. 
  10. ^ (tiếng Hàn) “Retro Dance Queen Bae Seul Ki 'TVXQ Woman'. Hankooki. Ngày 3 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2009. 
  11. ^ (tiếng Hàn) “TVXQ, Theater Actors”. Star Money. Ngày 4 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2009. 
  12. ^ ジュンス、ジェジュン、ユチョンによる新ユニット结成!Rhythm Zone (in Japanese). 14 April 2010. Archived from the originalon 10 May 2012.
  13. ^ 東方神起・ジュンスがソロ活動を開始Oricon (in Japanese). Oricon Style. 5 April 2010.
  14. ^ “TVXQ Feuds With SM Entertainment”. The Korea Time. Ngày 2 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009. 
  15. ^ “TVXQ to Stick Together Despite Legal Dispute”. The Korea Times. Ngày 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009. 
  16. ^ Yahoo.co.kr. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009
  17. ^ Thomson Reuters. Korea Hot Stocks - Hankook Tire, S.M. Ent, Ssangyong Motor. Forbes.com. ngày 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009.
  18. ^ “Will TVXQ Stay Together?”. KBS World. Ngày 28 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009. 
  19. ^ “SM Entertainment Calls the TVXQ Suit a Big Fraud”. KBS World. Ngày 2 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]