Nhóm nhạc nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nhóm nhạc nữ hay girl group là một nhóm nhạc với thành viên là các nữ ca sĩ. Trong thời đại ngày nay, các nhóm nhạc nữ ngày càng trở nên phổ biến, nhất là những nhóm nhạc nữ có thành viên là các cô gái trẻ, xinh đẹp. Các nhóm nhạc nữ nổi lên vào cuối những năm 1950 là nhóm của các ca sĩ trẻ đã hợp tác với những bộ phận phía sau hậu trường gồm nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc để tạo ra bài hit, và gây ấn tượng cho giới trẻ. Cuối thập niên 90, ở Mỹ hàng loạt các nhóm nhạc được thành lập gồm cả nam và nữ như: Spice Girls, Backstreet Boys, NSYNC, Steps, All Saints, M2M,... đã thực sự tạo nên một thời kỳ được coi là "đỉnh cao" của các nhóm nhạc. Tuy nhiên, đã từ nhiều năm nay tại Mỹ, việc thành lập các "nhóm nhạc" không còn là "mốt" và cũng không thu hút người xem nữa.[1]

Các nhóm nhạc nữ bán đĩa chạy nhất thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Top 10 nhóm nhạc nữ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại trên phạm vi toàn thế giới đó là:

Tên nhóm Quốc tịch Doanh số Dòng nhạc Album phòng thu Số thành viên Thời gian hoạt động chung
1. Spice Girls  Vương quốc Anh 85 triệu[2][3] Nhạc pop 3 5 → 4 → 5 1994–2000, 2007–2008 (8 năm)
2.TLC  Hoa Kỳ 70 triệu[4][2] 5 3 → 2 1991–nay (25 năm)
3. 2NE1  Hàn Quốc 66,5 triệu[5][6] K-pop 4 4 → 3 2009–2016 (7 năm)
4. Destiny's Child  Hoa Kỳ 60 triệu[7][2] 5 4 → 3 1997–2006 (9 năm)
5. Girls' Generation  Hàn Quốc 57,1 triệu[8][9] K-pop 9 9 → 8 2007–nay (13 năm)
6. Pussycat Dolls  Hoa Kỳ 54 triệu[10] 2 6 → 5 2003–2010 (7 năm)
6. S.H.E  Đài Loan 53,9 triệu[2] Mandopop 11 3 2001–nay (16 năm)
7. AKB48  Nhật Bản 45,2 triệu[2] J-pop 8 Luân chuyển 2005–nay (11 năm)
8. Bananarama  Vương quốc Anh 40 triệu[11] Nhạc pop 10 3 → 2 1979–nay (37 năm)
9. Morning Musume  Nhật Bản 22 triệu[2] J-pop 5 4 1996–nay (21 năm)
10. Little Mix  Vương quốc Anh 20 triệu 4 4 2011–nay (6 năm)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nhóm nhạc nữ ăn khách nhất nước Mỹ hiện nay”. Báo điện tử Dân Trí. 25 tháng 10 năm 2006. Truy cập 7 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ a ă â b c d “16 Best Selling Girl Groups of All Time”. Insider Monkey. 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015. 
  3. ^ “My Life as a Spice Girl: Geri "Ginger Spice" Halliwell (Now Horner) Looks Back at the Beginnings of a Pop Culture Phenomenon”. Marie Clarie. 12 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017. 
  4. ^ “Ex-TLC Manager Proceeds With $40 Million Biopic Lawsuit”. Voice online. 10 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017. 
  5. ^ Time (Time Inc.). 11 tháng 1 năm 2013 / http://www.insidermonkey.com/blog/16-best-selling-girl-groups-of-all-time-377221/?singlepage=1 /. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ {{chú thích báo|http://www.itv.com/news/2017-05-09/ten-best-selling-girl-groups-of-all-time
  7. ^ Waxman, Olivia B. (11 tháng 1 năm 2013). “Beyoncé and Destiny's Child to Release Original Track for First Time in Eight Years”. Time (Time Inc.). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ Time (Time Inc.). 11 tháng 1 năm 2013 / http://www.insidermonkey.com/blog/16-best-selling-girl-groups-of-all-time-377221/?singlepage=1 /. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  9. ^ {{chú thích báo|http://www.itv.com/news/2017-05-09/ten-best-selling-girl-groups-of-all-time
  10. ^ Morey, Tejas. “Most Popular Girl Bands Of All Time”. MENSXP. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2014. 
  11. ^ “Return of the top Bananas”. Daily Mail. 2 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2011.