GFriend

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
GFRIEND
180727 여자친구 KBS 뮤직뱅크 출근길.jpg
GFRIEND trên đường đến KBS Music Bank vào ngày 27 tháng 7 năm 2018.
(Từ trái sang phải: Eunha, SinB, Umji, Yuju, SowonYerin).
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh Girl Friend
Nguyên quán Seoul,  Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động 2015 (2015)–nay
Công ty quản lý Source Music
Hãng đĩa
  • Hàn Quốc Genie Music (2015)
  • Nhật Bản Kiss Entertainment (2016-2017)
  • Hàn Quốc Kakao M (2016-nay)
  • Nhật Bản King Records (2018-nay)
Hợp tác với MIO
Ca khúc tiêu biểu
  • Glass Bead
  • Me Gustas Tu
  • Rough
  • Navillera
  • Fingertip
  • Love Whisper
  • Summer Rain
  • Time For The Moon Night
  • Sunny Summer
  • Memoria
Website cafe.daum.net/gfrdofficial
Thành viên hiện tại
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 여자친구
Hanja 女子親舊
Romaja quốc ngữ Yeoja Chingu
McCune–Reischauer Yŏcha Ch'inku
Hán-Việt Nữ Tử Thân Cựu

GFriend hay còn được viết là G-Friend (Hangul: 여자친구; RRYeoja Chingu, cách điệu: GFRIEND, nghĩa là ''bạn gái''. Hanja: 女子親舊; Bính âm: Nǚzǐ qīn jiù; Hán-Việt: Nữ Tử Thân Cựu; Katakana: ジーフレンド - Jiifurendo hay ヨジャチング - Yojachingu) là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc 6 thành viên bao gồm Sowon (nhóm trưởng), Yerin, Eunha, Yuju, SinBUmji do công ty giải trí Source Music thành lập vào ngày 16 tháng 1 năm 2015.

GFRIEND chính thức ra mắt vào ngày 16 tháng 1 năm 2015 với mini album Season Of Glass với bài hát chủ đề "Glass Bead" (유리구슬). Nhóm gây ấn tượng với thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng (BXH) âm nhạc trực tuyến và các chương trình âm nhạc Hàn Quốc. Họ cũng đoạt được nhiều giải thưởng "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" và "Nghệ sĩ mới của năm" vào năm 2015, 2016 và giành được nhiều sự quan tâm từ công chúng và các chuyên gia trong ngành giải trí mặc dù đến từ một công ty nhỏ.[1][2]

Năm 2016, GFRIEND trở lại với mini album thứ ba SNOWFLAKE với bài hát chủ đề "Rough" (시간을 달려서) vào tháng 1 và album phòng thu đầu tiên LOL với bài hát chủ đề "NAVILLERA" (너 그리고 나) vào tháng 7. Nhóm gặt hái được nhiều thành công lớn từ 2 đợt quảng bá này, trong đó bao gồm đứng hạng nhất trên các BXH âm nhạc trực tuyến và giành được lần lượt 15 và 14 chiếc cúp từ các chương trình âm nhạc Hàn Quốc.

Lịch sử nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

2015: Ra mắt với Season Of GlassFlower Bud[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 1 năm 2015, GFriend phát hành mini album đầu tay của họ, Season Of Glass. Album gồm có 5 bài hát; bài hát chủ đề "Glass Bead" (Hangul: 유리구슬; RR: Yuri Guseul; nghĩa là "hạt thủy tinh") được sáng tác bởi bộ đôi nhạc sĩ 서용배 (Seo Yong-bae) và 이기 (Lee Gi). Nhóm bắt đầu quảng bá album từ ngày 16 tháng 1 trên chương trình âm nhạc Music Bank của kênh truyền hình KBS. Season Of Glass khởi đầu ở vị trí thứ 12 trên BXH album tuần của Gaon,[3] và ca khúc "Glass Bead" cũng lọt vào top 10 trên BXH của các chương trình âm nhạc Hàn Quốc và thậm chí còn được đề cử chiến thắng trên chương trình The Show của kênh SBS MTV.[4] Theo Youtube, M/V của "Glass Bead" xếp hạng thứ 9 trong top 10 M/V K-Pop được xem nhiều nhất trên thế giới trong tháng 1 năm 2015.[5] Ngày 28 tháng 1, Billboard điểm tên GFriend trong top 5 nghệ sĩ K-Pop đáng theo dõi năm 2015.[6]

Ngày 23 tháng 7 năm 2015, GFriend phát hành mini album thứ hai, Flower Bud. Album gồm có 6 bài hát; bài hát chủ đề "Me Gustas Tu" (Hangul: 오늘부터 우리는; RR: Oneulbuteo Urineun; nghĩa là "bắt đầu từ hôm nay, chúng ta") tiếp tục được sáng tác bởi 서용배 (Seo Yong-bae) và 이기 (Lee Gi). Sau khi vừa phát hành, "Me Gustas Tu" cùng với album ngay lập tức lọt vào top 10 của tất cả các BXH âm nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc, thậm chí đứng nhất các bảng xếp hạng nổi tiếng như Mnet, Olleh,... Cùng ngày 23 tháng 7, nhóm bắt đầu quảng bá album trên chương trình âm nhạc M Countdown của kênh truyền hình Mnet. Ca khúc "Me Gustas Tu" cũng có mặt trong top 10 trên BXH của các chương trình âm nhạc Hàn Quốc và còn được đề cử chiến thắng trên chương trình The Show của kênh SBS MTV và Show Champion của MBC Music. GFriend được khen ngợi vì dù đến từ một công ty nhỏ nhưng lại đạt được những thành tích rất tốt.[7]

GFriend vào tháng 10 năm 2015.

Tối ngày 5 tháng 9 năm 2015, GFriend góp mặt biểu diễn ca khúc "Me Gustas Tu" tại một concert ngoài trời do tập đoàn Hyundai tổ chức. Video do fan ghi lại màn biểu diễn của nhóm cho thấy sân khấu trơn trượt vì trời mưa đã khiến cho các thành viên, đặc biệt là Yuju, liên tục ngã nhiều lần xuyên suốt màn biểu diễn; tuy vậy họ vẫn đứng dậy và tiếp tục hoàn thành màn biểu diễn. Video đó được cư dân mạng chia sẻ với tốc độ chóng mặt, nhiều báo chí quốc tế cũng đăng bài viết về tai nạn xảy ra, và GFriend được khen ngợi vì tinh thần chuyên nghiệp của nhóm.[8][9]

[10] Sau tai nạn đó, ca khúc "Me Gustas Tu" bất ngờ lội ngược dòng trở lại, lọt vào top 10 trên các BXH âm nhạc trực tuyến và thậm chí còn được đề cử chiến thắng trên chương trình âm nhạc Inkigayo của kênh truyền hình SBS.[11]

Ngày 17 tháng 9 năm 2015, GFriend trở thành cái tên nóng trên các mặt báo khi là nhóm nhạc nữ duy nhất được đề cử cho hạng mục "Nghệ sĩ Hàn xuất sắc nhất" của giải thưởng MTV Europe Music Awards 2015 cùng các nhóm nhạc nam là B1A4, VIXX, BTS, và GOT7.[12][13][14][15]

Ngày 28 tháng 7 năm 2016, ca khúc "Me Gustas Tu" đã đưa ‪GFriend‬ trở thành nhóm nhạc K-Pop đầu tiên cán mốc 100 triệu lượt stream trên BXH Gaon.[16]

2016: Snowflake, tên fandom "Buddy", 1st Perfect All-kill, 1st Win và 1st Triple Crown trên chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 1 năm 2016, GFriend trở lại với mini album thứ ba gồm 7 bài hát, SNOWFLAKE, cũng là album cuối cùng của bộ ba album theo concept thời học sinh. Ngay sau khi vừa phát hành, bài hát chủ đề “Rough” (Hangul: 시간을 달려서; RR: Siganeul Dallyeoseo; nghĩa là "nếu tôi có thể chạy xuyên thời gian") sáng tác bởi 서용배 (Seo Yong-bae) và 이기 (Lee Gi), với M/V được đầu tư kỹ lưỡng, đã lọt vào top 3 của tất cả các BXH âm nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc. Album SNOWFLAKE và ca khúc "Rough" cũng đứng đầu 2 BXH album và bài hát K-Pop trên iTunesMỹ.[17] Nhóm bắt đầu quảng bá album từ ngày 26 tháng 1 trên chương trình âm nhạc The Show của kênh truyền hình SBS MTV.

Tại comeback showcase ngày 25 tháng 1 năm 2016, GFriend công bố tên fandom của nhóm là "Buddy" (Hangul: 버디; nghĩa là "bạn thân").

Bằng việc đứng đầu cùng lúc BXH thời gian thực, BXH ngày của tất cả tám trang nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc (Melon, Mnet, Bugs, Olleh, Soribada, Genie, Naver, và Monkey3), và BXH tuần của iChart, ca khúc "Rough" được Instiz chứng nhận danh hiệu "Perfect All-kill" sau đúng 14 ngày – 2 tuần sau khi phát hành.[18] Album SNOWFLAKE cũng xếp hạng thứ 10 trên BXH album thế giới của Billboard,[19]M/V của "Rough" trên Youtube xếp hạng thứ 3 trong top 10 M/V K-Pop được xem nhiều nhất trên thế giới trong tháng 1 năm 2016.[20] xxxxnhỏ|GFriend lần đầu tiên chiến thắng trên chương trình âm nhạc The Show ngày 2 tháng 2 năm 2016.]]Ngày 2 tháng 2 năm 2016, tại chương trình The Show của kênh truyền hình SBS MTV, GFriend giành được chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc kể từ khi ra mắt với ca khúc "Rough".[21][22] Ngày tiếp theo, nhóm mang về chiếc cúp thứ 2 từ chương trình Show Champion của kênh MBC Music.[23] Ngày 4 tháng 2, GFriend thắng lần thứ 3 trên M Countdown của Mnet.[24] Họ tiếp tục thắng lớn vào 2 ngày tiếp theo, lần lượt trên KBS Music Bank[25]SBS Inkigayo[26] Trong tuần thứ hai quảng bá, GFriend tiếp tục giành được cúp của M Countdown[27]Music Bank.[28] Tuần tiếp theo, nhóm thắng lần thứ 8 trên The Show,[29] lần thứ 9 trên Show Champion,[30] mang về Triple Crown đầu tiên của họ từ M Countdown,[31] chiếc cúp thứ 11 từ Music Bank,[32] và chiếc cúp thứ 12 từ Inkigayo.[33] Tuần quảng bá thứ tư, GFriend tiếp tục đoạt cúp trên Show Champion, trở thành nhóm nhạc nữ đầu tiên kể từ năm 2014 giành được Triple Crown của chương trình này.[34] Nhóm cũng thắng tuần thứ tư trên Music Bank[35] và nhận được thêm 1 Triple Crown của Inkigayo.[36] Ca khúc "Rough" đã đem về cho GFriend tổng cộng 15 chiếc cúp từ các chương trình âm nhạc Hàn Quốc.

Ngày 9 tháng 7 năm 2016, Gaon công bố các BXH của nửa đầu năm 2016, ca khúc "Rough" đã đứng đầu 3 trong 4 BXH, digital, streaming, và tải nhạc.[37] Đây là thành tích rất lớn đối với một nhóm nhạc tân binh như GFriend.

LOLtour showcase/fan-meeting ở 5 nước châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 28 tháng 6 năm 2016, kênh MBC every1 bắt đầu tung video teaser cho chương trình truyền hình thực tế chung của GFriend và nhóm nhạc nữ MAMAMOO, SHOWTIME MAMAMOO X GFriend. Chương trình gồm 8 tập, phát sóng vào thứ năm hàng tuần bắt đầu từ ngày 7 tháng 7.

Ngày 11 tháng 7 năm 2016, GFriend phát hành album phòng thu đầu tiên của họ, LOL. Album gồm có 12 bài hát và có 2 phiên bản khác nhau, "Laughing Out Loud" và "Lots Of Love". Sáng tác bởi bộ đôi nhạc sĩ 서용배 (Seo Yong-bae) và 이기 (Lee Gi), bài hát chủ đề "NAVILLERA" (Hangul: 너 그리고 나; RR: Neo Geuligo Na; nghĩa là "bạn và tôi") nói về tình cảm giữa GFriend và các fan và là lời cảm ơn dành cho các fan đã ủng hộ nhóm trong suốt thời gian qua. Tựa đề bài hát "NAVILLERA" xuất phát từ bài thơ "승무" (The Nun's Dance) của thi sĩ 조치훈 (Cho Chi-hun) là từ ngữ mô tả một rung động tương tự như chuyển động của một con bướm. Bối cảnh và trang phục trong M/V của "NAVILLERA" và album LOL theo concept retro và được lấy cảm hứng từ những năm 1970 và 1980 ở Mỹ. Các bài hát trong album lần này của GFriend thuộc nhiều thể loại nhạc khác nhau, từ reggae ("Distance" (한 뼘)), rock ("Water Flower" (물꽃놀이)), R&B ("Sunshine" (나의 일기장)), house ("Compas" (나침반)), pop Mỹ những năm 1990 ("Click" (찰칵)),... đến dubstep ("Gone With The Wind" (바람에 날려)).[38] Ca khúc "Sunshine" là món quà mà nhóm muốn dành tặng cho các fan, và ca khúc "Mermaid" được sáng tác bởi nhóm nhạc nam thuộc cùng công ty với GFriend, MIO, dựa theo truyện cổ tích "The Little Mermaid". LOL nhận được rất nhiều sự mong đợi và ủng hộ từ công chúng, tính đến ngày 7 tháng 7, số lượng album được đặt mua trước đã vượt hơn 60,000 bản.[39] 1 tiếng rưỡi sau khi phát hành, bài hát chủ đề "NAVILLERA" đã đứng đầu BXH thời gian thực của tất cả các trang nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc. Ngoài ra, LOL còn đứng đầu BXH album của iTunes ở 3 nước Hồng Kông, Malaysia, và Singapore, đứng thứ 2 ở Thái Lan, thứ 4 ở Đài Loan, thứ 8 ở Indonesia, và lọt vào BXH iTunes của các nước Canada, Brasil, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, và Thổ Nhĩ Kỳ. M/V của "NAVILLERA" cũng xếp hạng nhất trên BXH M/V K-Pop của 2 trang chia sẻ video trực tuyến lớn của Trung Quốc, YinYueTai và iQIYI.[40][41] GFriend bắt đầu quảng bá album từ ngày 12 tháng 7 trên chương trình âm nhạc The Show của kênh truyền hình SBS MTV.

Album LOL của GFriend xếp hạng thứ 7 trên BXH album thế giới của Billboard,[42] và phiên bản "Laughing Out Loud" là album bán chạy nhất tuần thứ hai của tháng 7 (8/7 – 14/7) trên BXH Five Music ở Đài Loan.[43] M/V của ca khúc "NAVILLERA" trên Youtube cũng xếp hạng thứ 2 trong top 10 M/V K-Pop được xem nhiều nhất trên thế giới trong tháng 7 năm 2016.[44]

GFriend tại sự kiện âm nhạc KCONLos Angeles, Mỹ ngày 30 tháng 7 năm 2016.

Ngày 19 tháng 7 năm 2016, GFriend giành được chiến thắng đầu tiên với ca khúc "NAVILLERA" trên chương trình âm nhạc The Show của kênh truyền hình SBS MTV.[45] Ngày 20 tháng 7, nhóm mang về chiếc cúp thứ 2 từ Show Champion của MBC Music.[46] 2 ngày tiếp theo, họ thắng lần lượt trên Mnet M Countdown[47]KBS Music Bank.[48] Ngày 24 tháng 7, GFriend nhận chiếc cúp thứ 5 trên SBS Inkigayo với số điểm là 10,328, đưa "NAVILLERA" lọt vào top 10 bài hát đạt được điểm cao nhất trên Inkigayo (dựa theo hệ thống tính điểm mới từ ngày 8 tháng 2 năm 2015).[49] Tuần quảng bá thứ hai, nhóm tiếp tục thắng lớn trên M Countdown,[50] Music Bank,[51]Inkigayo.[52] Tuần tiếp theo, GFriend giành được chiếc cúp thứ 9 trên The Show[53] và 2 Triple Crown lần lượt trên M Countdown[54]Inkigayo.[55] Nhóm cũng đem về thêm 1 Triple Crown từ The Show (trở thành nhóm nhạc nữ thứ hai giành được Triple Crown của chương trình này),[56] chiếc cúp thứ 13 từ Show Champion,[57] và chiếc cúp thứ 14 từ Music Bank[58] trong tuần quảng bá cuối cùng.

Ngày 24 tháng 8 năm 2016, công ty Nhật Bản KISS Entertainment công bố sẽ chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của GFriend ở Nhật bắt đầu từ fan-meeting nhằm quảng bá cho album LOL ngày 17 tháng 9 ở Osaka và ngày 18 tháng 9 ở Tokyo. Bên cạnh đó, GFriend cũng đã tổ chức showcase/fan-meeting ở một số nước châu Á khác, lần lượt ở Singapore ngày 3 tháng 9, ở Manila, Philippines ngày 4 tháng 9, và ở Đài Bắc, Đài Loan ngày 1 tháng 10.

Ngày 27 tháng 9 năm 2016, GFriend được đề cử năm thứ hai liên tiếp (2015 – 2016) cho hạng mục "Nghệ sĩ Hàn xuất sắc nhất" của giải thưởng MTV Europe Music Awards.[59]

2017: The Awakening, 1st fan-meeting Dear Buddy, Parallel, và album repackage Rainbow[sửa | sửa mã nguồn]

GFriend tại thảm đỏ Golden Disk Awards vào tháng 1 năm 2017

Ngày 6 tháng 3 năm 2017, GFriend trở lại sau 8 tháng với mini album thứ 4 THE AWAKENING với concept hoàn toàn mới, trưởng thành hơn.[60] Album gồm 6 bài hát và có 2 phiên bản là Knight và Military. Ca khúc chủ đề "FINGERTIP" (Hangul :  핑거 팁 ) là lần hợp tác thứ năm của GFriend và bộ đôi nhạc sĩ Seo Yong-bae và Lee Gi.[61][62] Các đơn đặt hàng toàn cầu của Awakening đã vượt quá 100.000 bản, cao hơn album trước LOL 60.000 bản.[63] Ngoài ra, album cũng ở vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng Album của Billboard.[64] Nhóm bắt đầu quảng bá album từ ngày 9 tháng 3 trên chương trình âm nhạc M Countdown của kênh truyền hình Mnet và giành được 2 chiếc cúp từ các show âm nhạc.Ngày 4 tháng 2 năm 2017, GFriend tổ chức fan-meeting đầu tiên ở Hàn Quốc Dear Buddy tại Olympic Hall, Olympic Park, Seoul. Ngày 8 tháng 4, nhóm tổ chức fan-meeting "Dear Buddy" ở Băng Cốc, Thái Lan.

Vào ngày 20 tháng 7 năm 2017, Source Music đã công bố trên Twitter chính thức của GFriend rằng họ sẽ trở lại vào ngày 1 tháng 8 với mini-album thứ năm là Parallel. Ngay sau khi vừa phát hành, bài hát đã ngay lập tức leo thẳng đến vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng thời gian thực của Genie và Bugs. Đến 20 giờ 30 phút (theo giờ Hàn Quốc), "Love Whisper" đã đạt được no.1 trên năm bảng xếp thời gian thực của Naver, Genie, Bugs, Soribada, và Olleh. Vài ngày sau, bài hát đã xuất sắc chiếm ngôi trên MelOn với tống cộng 10 giờ đạt hạng nhất. Ngoài ra, "Love Whisper" cũng đã xuất sắc chiếm luôn ngôi quán quân của bảng tổng hợp iChart. Đây là một thành tích rất ấn tượng của G-Friend trong thời điểm các bảng xếp hạng nhạc số đang bị thống trị bởi hàng loạt "quái vật digital": EXO, Red Velvet, Wanna One, Winner, Heize,...Sau 24h phát hành, MV "Love Whisper" đạt được  9.251.199 view trên cả hai kênh channel là 1thek và GFriend Official, thành tích giúp GFriend chính thức trở thành nhóm nhạc nữ có lượt xem MV cao thứ 3 trong 24 giờ đầu tiên (sau BLACKPINKTWICE). Lần này nhóm chỉ giành được 4 chiếc cúp từ các show âm nhạc và 2 trong số đó chiến thắng trước EXO tại Music Bank ngày 11 tháng 8 với 7486 điểm và tại Inkigayo ngày 12 tháng 8 với số điểm 8915, các chương trình còn lại gồm The Show ngày 8 tháng 8 (8950 điểm) và Show Champion ngày 9 tháng 8.Nhưng hơi tiếc là bài hát đã tuột dốc sau vài tuần ra mắt.

Sau khi dần dần được mọi người đón nhận với mini album thứ 5 mang tên "Parallel" và ca khúc chủ đề "Love Whisper", GFriend đã sớm công bố kế hoạch trở lại với phiên bản repackage của album này. Vào lúc 18 giờ ngày 13 tháng 9 (theo giờ Hàn Quốc), GFriend đã chính thức trở lại với mini album "Rainbow". Album repackage lần này của nhóm bao gồm 8 ca khúc cũ nằm trong "Parallel" cùng với ca khúc chủ đề mới nhất có tên gọi "Summer Rain". Ngoài ra, bài hát mới còn lại được phát hành trong "Rainbow" chính là phiên bản Instrument của "Summer Rain". Ngay khi vừa phát hành, "Summer rain" leo lên vị trí no.1 trên bảng xếp hạng thời gian thực Bugs và Soribada. Ngay sau đó cũng đạt hạng 1 trên Genie. Đây là sự khởi đầu khá suôn sẻ dành cho nhóm. Nhóm chỉ chiến thắng với 2 chiếc cúp từ M!Countdown ngày 21 tháng 9 và The Show ngày 19 tháng 9 với số điểm lần lượt là 10091 và 9750.

2018: 1st concert "Season of GFriend", debut tại Nhật Bản, màu đại diện chính thức, Time For The Moon Night, và Sunny Summer[sửa | sửa mã nguồn]

"Season of GFriend" là concert đầu tiên của GFriend sau 3 năm debut. Concert sẽ diễn ra vào ngày 06-01-2018 và 07-01-2018 tại Seoul Olympic Park Olympic Hall. Vé 1st concert của GFriend "Season of GFriend" trong cả hai ngày đã được bán hết trong vòng 3 phút. Concert cũng sẽ được diễn ra vào ngày 28-02-2018 tại Xinzhuang Gymnasium, Đài Bắc, Đài Loan.Vừa rồi, công ty quản lí là Source Music thông báo sẽ tiếp tục tour diễn châu Á của GFriend, bắt đầu tại Manila, Philippines, buổi hòa nhạc được dự định diễn ra tại Kia Theatre vào ngày 19 tháng 8, 7 giờ chiều.

Sáng 23 tháng 2, công ty quản lý Source Music của GFriend đưa ra một tuyên bố chính thức rằng 6 cô gái của họ sẽ bắt đầu quảng bá tại Nhật Bản vào 23-05-2018. Sau khi kí hợp đồng với King Records (công ty quản lý của AKB48, B.A.P, BlockB,...) là một công ty quản lý nổi tiếng ở đất nước mặt trời mọc, GFriend đã sẵn sàng phát hành những bài hát mới tại nước bạn, đồng thời trang web Tiếng Nhật của GFriend cũng được sửa đổi và hoàn thiện.

Album debut tại Nhật Bản mang tên “今日から私たちは - GFRIEND 1st BEST” được phát hành vào ngày 23/5/2018, bao gồm 12 ca khúc Glass Bead, Me Gustas Tu (今日から私たちは), Rough (トキヲコエテ), Navillera, Love Whisper và Trust song song 2 bản Hàn-Nhật. Bắt đầu từ ngày 29/3/2018, nhóm đã bắt đầu thực hiện các kế hoạch tại Nhật Bản và biểu diễn ca khúc Me Gustas Tu phiên bản Tiếng Nhật. Ngày 1/4/2018, fanclub chính thức tại Nhật Bản của nhóm được ra đời, nhóm đã gửi lời chào đến các fan tại Nhật Bản. Vào ngày 6 tháng 5 vừa qua, công ty chủ quán của GFRIEND tại Nhật là King Records đã đăng lên kênh Youtube của họ MV tiếng Nhật là bài hát Me Gustas Tu (今日から私たちは). Ở tuần đầu tiên, lượng bán album đạt được 13157 bản, một con số khá tốt cho một tân binh tại Nhật

Màu sắc đại diện chính thức

Sáng ngày 13/4/2018, các bài báo đã đưa tin nhóm sẽ trở lại tại Hàn. Sau đó, công ty chủ quán của nhóm là Source Music đã xác nhận rằng nhóm nhạc nữ GFriend sẽ trở lại với mini album thứ 6 mang tên Time For The Moon Night trong sự nghiệp của họ vào ngày 30/4 trước khi sang Nhật Bản để ra mắt tại xứ sở mặt trời mọc với album tiếng Nhật vào 23/5. Nhóm sẽ trở lại sau 7 tháng với sau mini album thứ 5 tái bản "Rainbow" vào tháng 9 năm ngoái. Album sẽ bao gồm 8 bài hát cùng với bài hát chủ đề cùng tên với album được sản xuất bởi Noh Joo Hwan và Lee Wan Jong, là những người từng làm nên các bài hát b-side cho GFriend như Trust (trong album Snowflake) và Falling Asleep Again (trong album Parallel), cùng các bài hát như Love Bug, Flower Garden, Tik Tik, Bye,You Are My Star cùng bản instrumental của ca khúc chủ đề và một đoạn intro mang tên Daytime. Công ty cũng đã đăng những hình ảnh về concept sắp tới, tracklist, lyrics của ca khúc chủ đề của album cùng schedule sắp tới cho album mới. Và họ cũng đã mở Pre-order cho mọi người có thể đặt trước album của họ cho những ai muốn có album sớm nhất của GFriend.

Ngày 26/4, nhóm đã công bố màu chính thức của mình, đó là sự pha trộn giữa màu trắng, xanh biển và tím.

Chiều ngày 30/4, nhóm đã phát hành album Time For The Moon Night cùng ca khúc chủ đề cùng tên. Họ đã tổ chức showcase với các nhà báo và các fan. Bài hát ban đầu có thứ hạng khá khiêm tốn trên các bảng xếp hạng, tuy nhiên từ lúc GFRIEND bắt đầu quảng bá ca khúc trên các show âm nhạc, tham gia chương trình " Run To You ",... Bài hát đã bắt đầu được công chúng để ý và đã lội ngược dòng lên thứ hạng rất tốt, sang tuần thứ 2, mọi thứ bắt đầu khởi sắc khi bài hát nắm giữ các vị trí cao trên các bảng xếp hạng, cũng như nắm giữ hạng 1 của iChart, No.1 4 bảng xếp hạng là Melon, Bugs, Mnet, Naver và hạng 2 trên Genie và Soribada. Được biết Time For The Moon Night đã đạt No.1 Itunes của 11 quốc gia, trong đó có cả Việt Nam. Ngày 2/5, họ bắt đầu thời gian quảng bá của mình trên các chương trình truyền hình thực tế và các show âm nhạc. Tổng số album tiêu thụ trong ngày đầu tiên là gần 11.000 bản, phá kỉ lục trước đó của họ, và lượng bán album trong tuần đầu tiên là hơn 30 nghìn, điều đó khiến họ nắm giữ vị trí 1 trên Gaon Album Chart tuần thứ 18 năm 2018, bài hát chủ đề đạt hạng 1 trên Gaon Download Chart và Gaon Social, hạng 9 trên Gaon Digital Chart công bố ngày 9/5. Những ngày sau đó GFriend tiếp tục nắm giữ No.6 trên bảng xếp hạng World Album của Billboard. Hiện tại album đã bán được hơn 80 nghìn bản. Ngày 8/5, họ đã giành được chiếc cúp đầu tiên cho đợt quảng bá trên The Show và các chiếc cúp trên Show Champion, M Countdown, Music Bank, Show! Music Core, Inkigayo những ngày tiếp theo. Như vậy, GFRIEND là nhóm nhạc đầu tiên trong năm 2018 (tính tới thời điểm này) giành hết 6 cúp tất cả trên các chương trình âm nhạc cuối tuần trong 1 tuần duy nhất. Đến khi họ kết thúc quảng bá bài hát trên Inkigayo vào ngày 20 tháng 5 thì nhóm đã giành chiến thắng thứ 10. Đây cũng là số lần thắng nhiều nhất trong 1 bài hát duy nhất trong 2 năm 2017-2018 vì trong năm 2017, họ chỉ giành tổng cộng 8 cúp cho 3 bài hát "FINGERTIP", "LOVE WHISPER" và "SUMMER RAIN". Sau khi kết thúc quảng bá, bài hát vẫn tiếp tục bám trụ các bảng xếp hạng nhạc số, đây là tín hiệu tích cực cho nhóm trong năm khi theo số liệu cho biết Time For The Moon Night giữ vững top 10 trong 44 tuần trên 6 bảng xếp hạng âm nhạc lớn của Hàn Quốc.

Thành viên Yuju debut solo[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 00:00 KST (tức 22:00 theo giờ Việt Nam) ngày 24 tháng 6, Source Music đăng tải lên Twitter thông báo Yuju (GFriend) sẽ debut solo với single nhạc số vào ngày 29 tháng 6. Ca khúc debut mang tên "Love Rain" là sự hợp tác giữa Yuju với ca sĩ kiêm nhà sản xuất âm nhạc Suran (수란). Được biết "Love Rain" thuộc thể thoại R&B do nhạc sĩ EDEN sáng tác (người đã tạo nên bản hit Missing You, Only One For Me (BTOB), Neverland (GFriend), là cựu nghệ sĩ của Source Music). Khi ra mắt, bài hát đạt hạng 2 trên trang âm nhạc Bugs, hạng 59 trên MelOn, hạng 55 trên Genie. Dù có thứ hạng khiêm tốn nhưng bài hát vẫn chiếm được cảm tình của cư dân mạng thông qua việc đứng thứ nhất trên thanh tìm kiếm của MelOn.

Sự trở lại với Summer mini album Sunny Summer[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 00:00 KST (tức 22:00 theo giờ Việt Nam) ngày 5 tháng 7, tài khoản Twitter chính thức của GFriend đã tung ảnh nhá hàng đầu tiên cho sản phẩm âm nhạc tiếp theo. Theo đó, nhóm sẽ trở lại vào lúc 16:00 KST (tức 18:00 theo giờ Việt Nam) ngày 19 tháng 7 với mini album thứ 7 mang tên "Sunny Summer". Ca khúc chủ đề cùng tên được sản xuất bởi Black Edition và Duble Sidekick (Nhà tạo HIT của hàng loạt nữ hoàng mùa hè). Lần trở lại này của nhóm chỉ chưa cách đầy 3 tháng kể từ khi phát hành ca khúc chủ đề Time for the Moon Night vào cuối tháng 4 vừa qua. Việc GFriend tái xuất cùng thời điểm với các tên tuổi nổi tiếng của Kpop như Twice, Mamamoo, Seventeen, Seungri (Big Bang),... khiến cho đường đua Kpop tháng 7 nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Nhưng không may, bài hát không thành công như mong đợi bởi thời gian chuẩn bị quá gấp rút để kịp tổ chức các concert, trở lại quá sớm và gặp phải rất nhiều "khủng long" của Kpop. Tuy nhiên nhiều fan cho rằng đây chỉ là special album hoặc album dành tặng fan nên nó chưa thể nói lên gì cả.

SinB xác nhận tham gia dự án STATION X 0[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều ngày 28 tháng 9 năm 2018, ca khúc Wow Thing với sự hợp tác của SinB, Seulgi (Red Velvet), Soyeon ((G)I-Dle), Chungha được ra mắt.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách thành viên của GFRIEND
Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh
Latinh Hangul Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Sowon 소원 Kim So-jeong 김소정 キム・ソジョン 金韶情 Kim Thiều Tình 7 tháng 12, 1995 (23 tuổi) Hàn Quốc Eunpyeong-gu, Seoul, Hàn Quốc
Yerin 예린 Jung Ye-rin 정예린 チョン・イェリン 鄭睿隣 Trịnh Nghệ Lân 19 tháng 8, 1996 (22 tuổi) Hàn Quốc Gyeyang-gu, Incheon, Hàn Quốc
Eunha 은하 Jung Eun-bi 정은비 チョン・ウンビ 丁恩妃 Trịnh Ân Phi 30 tháng 5, 1997 (21 tuổi) Hàn Quốc Geumcheon-gu, Seoul, Hàn Quốc
Yuju 유주 Choi Yoo-na 최유나 チェ・ ユナ 崔裕娜 Thôi Du Nhã 4 tháng 10, 1997 (21 tuổi) Hàn Quốc Ilsan-gu, Gyeonggi, Hàn Quốc
SinB 신비 Hwang Eun-bi 황은비 ファン・ウンビ 黃恩妃 Hoàng Ân Phi 3 tháng 6, 1998 (20 tuổi) Hàn Quốc Cheongju, Chungcheong-buk, Hàn Quốc
Umji 엄지 Kim Ye-won 김예원 キム・イェウォン 金藝源 Kim Nghệ Nguyên 19 tháng 8, 1998 (20 tuổi) Hàn Quốc Yeonsu-gu, Incheon, Hàn Quốc
  • Jenny (thành viên của nhóm nhạc nữ DIA) và Yang Yoo-jin ban đầu là thành viên của nhóm. Nhưng trước khi nhóm ra mắt, 2 thành viên này đã rời công ty.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • LOL (2016)

Concerts — Showcases[sửa | sửa mã nguồn]

Concerts & Fan Meetings[sửa | sửa mã nguồn]

  • GFRIEND SUMMER LIVE IN JAPAN 2018 ở Tokyo, Nhật Bản (Tháng 8, 2018) tại Toyosu PIT
  • GFRIEND SUMMER LIVE IN JAPAN 2018 ở Osaka, Nhật Bản (Tháng 8, 2018) tại Namba Hatch
  • 2018 GFriend 1st Concert "Season Of GFriend": EncoreSeoul, Hàn Quốc (Tháng 9, 2018) tại SK Olympic Handball Gymnasium
  • 2018 GFriend 1st Concert "Season Of GFriend" ở Hongkong (Tháng 9, 2018) tại KITEC Star Hall
  • 2018 GFriend 1st Concert "Season Of GFriend" ở Manila, Philippines (Tháng 8, 2018) tại Kia Theatre
  • 2018 GFriend 1st Concert ''Season Of GFriend'' ở Đài Bắc, Đài Loan (Tháng 2, 2018) tại Xinhuang Gymnasium
  • 2018 GFriend 1st Concert "Season Of Gfriend" ở Seoul, Hàn Quốc (Tháng 1, 2018) tại Olympic Hall, Olympic Park
  • 2017 GFriend 1st Fan Meeting "Dear Buddy" (Tháng 4, 2017) tại Olympic Hall, Olympic Park
  • 2017 GFriend 1st Mini Concert in Taiwan ở Đài Bắc, Đài Loan (Tháng 7, 2017) tại Taipei International Convention Center
  • 2017 GFriend 1st Mini Concert in Hongkong ở Hongkong (Tháng 7, 2017) tại Asia World Expo Hall 10
  • 2018 Dream Concert ở Seoul, Hàn Quốc (Tháng 5, 2018) tại Sân vận động Olympic (Seoul)

Concert ở nước ngoài đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Showcases[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng cáo — Đại sứ — Lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thể loại Thành viên Ghi chú
2015 Giày thể thao AKIII CLASSIC (아키클래식) Tất cả Quảng cáo
Mặt nạ Célebon Collagen Essence Đại sứ
Gà rán Hosigi Doomari (Double) Chicken (호식이 두마리 치킨)
Game Elsword (엘소드) Avatar collaboration
Game Lost Saga (로스트사가) Lồng tiếng

Avatar collaboration

2016 Game ICARUS (이카루스) Sowon, Yerin, Eunha, Yuju
Phim Billy & The Brave Guys: Chicken Hero (빌리와 용감한 녀석들: 치킨 히어로) Yuju Đại sứ

Hát nhạc phim

Vali American Tourister Korea Tất cả Đại sứ
Gà rán Hosigi Doomari (Double) Chicken (호식이 두마리 치킨)
Mặt nạ Célebon Collagen Essence
Giày NUOVO (누오보) của ABC-MART Quảng cáo
Game Elsword (엘소드) Avatar collaboration
Game TERA (테라)
Game Tales Runner (테일즈 런너) Đại sứ

Lồng tiếng

Avatar collaboration

Bộ sưu tập đồng hồ I Always Want More Flowers (플로랄리아) của swatch Korea Quảng cáo
Nước trái cây đóng hộp của Yonsei Dairy (연세우유)
Mắt kính Red Bull Eyewear Korea
Game di động Com2uS Pro Baseball for Manager LIVE

(컴투스프로야구 for 매니저 LIVE)

Game Sudden Attack Lồng tiếng

Avatar collaboration

Đồng phục học sinh smart (스마트학생복) + Chiến dịch 가족사랑의날 (Family Love Day) của Smart F&D (스마트에프앤디) Đại sứ
Hội chợ đêm 홀가분 나이트마켓 (Holgabun Night Market) của Samsung Card
Công viên nước LOTTE Water Park (롯데워터파크)
Mỹ phẩm CLINIQUE Korea
Phim Pokémon The Movie XY&Z: Volcanion And The Exquisite Magearna (포켓몬 더 무비 XY&Z 볼케니온: 기계왕국의 비밀)
Tour du lịch ở Rome, Ý 나의여행 아바타 오즈, 로마를 보여줘 của Asiana Airlines Lồng tiếng
Nước hoa ANNA SUI Romantica Exotica của OLIVE YOUNG (올리브영) Quảng cáo
Ứng dụng lái xe POOLUS (풀러스)POOLUS DRIVER (풀러스 드라이버)
2017 Gà rán Hosigi Doomari (Double) Chicken (호식이 두마리 치킨) Đại sứ
Vali American Tourister Korea
Mặt nạ Célebon Collagen Essence
Viễn thông SK telecom (SK텔레콤)
Kính áp tròng LENS NINE (렌즈나인) Quảng cáo
2018 Son tint của hãng YSL
Máy lọc không khí DK Mini Air
Giày Reebok
Tuần lễ thời trang hè xuân 2019 Seoul của hãng D-ANTIDOTE Sowon Người mẫu

Người mẫu tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tạp chí Thành viên Ghi chú
2015 GEEK Korea Tất cả Tháng 1, no. 29
IZE Korea Tháng 3, no. 82
Kwave (Global Korean Culture) Tháng 3, no. 56
CéCi Korea Tháng 4
BROMIDE Tháng 5, no. 109
ARENA HOMME+ Korea Tháng 6
Vogue Girl Korea Yerin
OhBoy! Tất cả Tháng 6 và 7, vol. 58
HIM (Military Culture) Tháng 7, vol. 51
Junior & StarM Tháng 7 AKIII CLASSIC (아키클래식)'s lookbook
bnt International Tháng 8
IZE Korea Tháng 9, digital vol. 15
TenAsia (10+Star) Tháng 9, no. 51
MAPS Korea Tháng 10, vol. 91
대학내일 (Univ20) Tuần báo ngày 5/10 đến ngày 11/10, no. 752
Vogue Girl Korea Umji Tháng 11
Yerin Tháng 12, repetto Korea's eau florale's lookbook
2016 NYLON Korea Tất cả Tháng 2, Pony (포니)'s lookbook
CNP (Contents & People Story) Tháng 3
Marie Claire Korea Sowon, SinB
W U.S Tất cả
CéCi Korea Tháng 4, swatch Korea's I Always Want More Flowers (플로랄리아)' lookbook
@star1 Tháng 4, vol. 49, Etude House's twin shot Lips X Tint (트윈샷립스틴트)'s lookbook
Dazed Korea Tháng 4, no. 96
GRAZIA Korea Tháng 5, vol. 76, MAC Korea's lookbook
GEEK Korea Tháng 5, no. 46
OhBoy! Tháng 5, vol. 67, ABC-MART's NUOVO (누오보)'s lookbook
NYLON Korea Sowon, Yerin Tháng 5
ARENA HOMME+ Korea Tất cả Tháng 6
GQ Korea Tháng 7
Marie Claire Korea Tháng 8
CéCi Korea Tháng 9
THE STAR
bnt International
Eunha
ALLETS STAR Tất cả Ngày 8/9, CLINIQUE Korea's LIP POP MATTE + LIP POP LIQUID MATTE's lookbook
CéCi CAMPUS Tháng 10, no. 62, OLIVE YOUNG (올리브영)'s ANNA SUI Romantica Exotica's lookbook
COSMOPOLITAN Korea Sowon, Yerin, Eunha, Yuju, SinB Tháng 12, chiến dịch "천사들의 편지 (Letter From Angels)"
2017 Dazed Korea Tất cả Tháng 2, no. 106
TenAsia (10+Star) Tháng 3, no. 69
ADDY K Tháng 3, vol. 4
2018 Céci Korea Tháng 1
Tháng 2
DAZED Tháng 4
Popteen (Nhật Bản) Umji Người mẫu độc quyền
Ceci Korea Yerin Tháng 5
Arena Homme+ Tất cả
Nylon Tháng 6
Dazed
Céci Korea Tháng 8
THE STAR Tháng 9

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

GFriend nhận được giải thưởng đầu tiên của nhóm, "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất", vào ngày 7 tháng 11 năm 2015 tại lễ trao giải MelOn Music Awards. Nhóm còn giành được nhiều giải thưởng "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" và "Nghệ sĩ mới của năm" vào năm 2016 tại các lễ trao giải khác như Gaon Chart K-Pop Awards, Golden Disc Awards, Seoul Music Awards, và YinYueTai V-Chart Awards.

Chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc của GFriend là trên chương trình The Show của kênh truyền hình SBS MTV với bài hát "Rough" vào ngày 2 tháng 2 năm 2016. Năm 2016, GFriend đã thắng được tổng cộng 29 chiếc cúp trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc trong đó bao gồm 15 chiếc cúp của đợt quảng bá bài hát chủ đề "Rough" (시간을 달려서) của mini album thứ ba SNOWFLAKE và 14 chiếc cúp của đợt quảng bá bài hát chủ đề "NAVILLERA" (너 그리고 나) của album phòng thu đầu tiên LOL. Tại lễ trao giải MAMA 2016 (Mnet Asian Music Awards) diễn ra vào ngày 2/12/2016, GFriend được đề cử tới 5 hạng mục.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Korean Media Outlet Lists BTS, GFRIEND as Surprising Success Stories”. 11 tháng 2 năm 2016. 
  2. ^ “iKON bị chuyên gia đánh giá kém hơn GFRIEND”. 17 tháng 12 năm 2015. 
  3. ^ Gaon Album Chart: “Season of Glass”. 17 tháng 1 năm 2015.
  4. ^ “GFRIEND Off To A Good Start With 'Glass Bead' Debut”. 17 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ “Most Viewed K-Pop Videos in America & Around the World: January 2015”. 11 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Top 5 K-Pop Artists to Watch in 2015”. 28 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ “GFriend, the miracle of a small sized agency... 'the power of good content'. 26 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ “This Video of a K-Pop Singer Falling 8 Times in 1 Song Will Inspire You to Keep Going No Matter What”. 7 tháng 9 năm 2015. 
  9. ^ “Domino dancing: K-pop group Gfriend come a cropper on slippery stage (VIDEO)”. 7 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ “K-pop: Yuju et SinB du groupe GFriend tombent sur scène”. 7 tháng 9 năm 2015. 
  11. ^ “여자친구, '오늘부터 우리는' 음원 역주행… 꽈당 투혼 덕분?”. 8 tháng 9 năm 2015. 
  12. ^ “B1A4, BTS, GOT7, GFRIEND, and VIXX Nominated for 2015 MTV EMA’s Best Korean Artist”. 16 tháng 9 năm 2015. 
  13. ^ “여자친구, MTV EMA 韓최우수 가수 부문 후보... '걸그룹 유일'. 17 tháng 9 năm 2015. 
  14. ^ “여자친구 MTV EMA 2015 노미네이트…걸그룹 유일”. 17 tháng 9 năm 2015. 
  15. ^ “여자친구, MTV EMA 韓최우수가수 부문 노미네이트 ‘걸그룹 유일’”. 17 tháng 9 năm 2015. 
  16. ^ '오늘부터우리는, 1억 스트리밍'… 여자친구, 걸그룹 최초 대기록”. 2 tháng 8 năm 2016. 
  17. ^ "GFRIEND's Album and Song Topped in K-Pop iTunes Chart". 26 tháng 1 năm 2016.
  18. ^ “G-Friend records 121 hours of all-kill and 6 music show trophies for 'Rough'. 11 tháng 2 năm 2016. 
  19. ^ “GFriend moves into Top 10 of Billboard World Album Chart with ‘Snowflake’”. 3 tháng 2 năm 2016. 
  20. ^ “Most Viewed K-Pop Videos in America, Around the World: January 2016”. 11 tháng 2 năm 2016. 
  21. ^ “GFRIEND Takes Home First Ever Music Show Win on 'The Show'. 2 tháng 2 năm 2016. 
  22. ^ “G-Friend win for the first time ever on 'The Show'!”. 2 tháng 2 năm 2016. 
  23. ^ “GFRIEND Wins On 'Show Champion' with 'Rough'...”. 3 tháng 2 năm 2016. 
  24. ^ “GFRIEND Takes Home Win with 'Rough'... on 'M!Countdown'. 4 tháng 2 năm 2016. 
  25. ^ “GFRIEND Takes 4th Win for 'Rough' Through 'Music Bank'. 5 tháng 2 năm 2016. 
  26. ^ “GFRIEND Takes 5th Win for 'Rough' on 'Inkigayo'. 7 tháng 2 năm 2016. 
  27. ^ “G-Friend Win #1 During The February 11, 2016 Episode Of Mnet's 'M! Countdown'. 12 tháng 2 năm 2016. 
  28. ^ “GFRIEND Takes Home Their 7th Win on 'Music Bank' With 'Rough'. 12 tháng 2 năm 2016. 
  29. ^ “Watch: GFRIEND Grabs 8th Trophy for 'Rough' on 'The Show'.  16 tháng 2 năm 2016.
  30. ^ “GFRIEND Takes Home 9th Win With 'Rough' on 'Show Champion'.  17 tháng 2 năm 2016.
  31. ^ “GFRIEND Takes 10th Win and 1st Triple Crown With 'Rough' on 'M!Countdown'. 18 tháng 2 năm 2016. 
  32. ^ “Watch: GFRIEND Snags 11th Win With 'Rough' on 'Music Bank'.  19 tháng 2 năm 2016.
  33. ^ “GFRIEND Scores Emotional 12th Win for 'Rough' on 'Inkigayo'.  21 tháng 2 năm 2016.
  34. ^ “GFRIEND Wins With 'Rough' On 'Show Champion'...”.  24 tháng 2 năm 2016.
  35. ^ “GFRIEND Gets 14th Win for 'Rough' on 'Music Bank'...”.  26 tháng 2 năm 2016.
  36. ^ “GFRIEND Scores 15th Win for 'Rough' on 'Inkigayo'...”.  28 tháng 2 năm 2016.
  37. ^ “여자친구, 2016 가온차트 상반기 결산 3관왕 '컴백 청신호'.  9 tháng 7 năm 2016.
  38. ^ “첫 정규앨범 발표 여자친구 '다시 시작하는 마음으로 보여드리고 싶다'.  12 tháng 7 năm 2016.
  39. ^ “여자친구, 정규앨범 선주문 6만장 돌파…역시 '갓자친구'.  7 tháng 7 năm 2016.
  40. ^ “GFriend Proves Global Influence with 'LOL'.  13 tháng 7 năm 2016.
  41. ^ “여자친구, 3개국 아이튠즈 차트 1위... 저력과시”.  12 tháng 7 năm 2016.
  42. ^ “여자친구, 美 빌보드 월드앨범차트 7위 '저력 입증'.  20 tháng 7 năm 2016.
  43. ^ Top 20 Best-Selling Albums for the 2nd Week of July. 14 tháng 7 năm 2016.
  44. ^ “Most Viewed K-Pop Videos in America, Around the World: July 2016”. 9 tháng 8 năm 2016. 
  45. ^ “GFRIEND Takes 1st Win For 'Navillera' On 'The Show'...”.  19 tháng 7 năm 2016.
  46. ^ “Watch: GFRIEND Grabs 2nd Win For 'Navillera' On 'Show Champion'...”. . 20 tháng 7 năm 2016.
  47. ^ “GFRIEND Wins No. 1 On 'M!Countdown'...”.  21 tháng 7 năm 2016.
  48. ^ “Watch: GFRIEND Gets 4th Win With 'Navillera' On 'Music Bank'...”.  22 tháng 7 năm 2016.
  49. ^ “GFRIEND Grabs 5th Win For 'Navillera' On 'Inkigayo'...”.  24 tháng 7 năm 2016.
  50. ^ “G-Friend win #1... July 28th 'M! Countdown'!”.  28 tháng 7 năm 2016.
  51. ^ “G-Friend win #1... July 29th 'Music Bank'!”.  29 tháng 7 năm 2016.
  52. ^ “GFRIEND Wins 'Inkigayo' For 2nd Week In A Row...”.  31 tháng 7 năm 2016.
  53. ^ “GFRIEND Grabs 9th Win For 'Navillera' On 'The Show'...”.  2 tháng 8 năm 2016.
  54. ^ “GFRIEND Takes 10th Win And Triple Crown For 'Navillera' on 'M!Countdown'...”.  4 tháng 8 năm 2016.
  55. ^ “GFRIEND Snags 'Inkigayo' Triple Crown...”.  7 tháng 8 năm 2016.
  56. ^ “GFRIEND Grabs 12th Win For 'Navillera' On 'The Show'...”.  9 tháng 8 năm 2016.
  57. ^ “GFRIEND Takes 13th Win For 'Navillera' On 'Show Champion'...”.  10 tháng 8 năm 2016.
  58. ^ “Watch: GFRIEND Gets 14th Win For 'Navillera' On 'Music Bank'...”.  12 tháng 8 năm 2016.
  59. ^ “한국 최우수 가수”. 
  60. ^ “GFriend to release new EP next month”. english.yonhapnews.co.kr. 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2017. 
  61. ^ “GFriend gears up for triumphant return”. english.yonhapnews.co.kr. 3 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017. 
  62. ^ "리즈 경신"..컴백 앞둔 여자친구, 컴백 티저 깜짝 공개” (bằng tiếng Hàn). star.mt.co.kr. 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  63. ^ Min, Susan (6 tháng 3 năm 2017). “GFriend′s ′The Awakening′ Sells Over 100,000 Copies in Pre-Sales”. mwave.interest.me. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  64. ^ “GFriend Earn First Top 5 Entry on World Albums With 'The Awakening'. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]