G-Dragon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kwon.
G-Dragon
G-Dragon 2012 4.jpg
G-Dragon biểu diễn trong Alive Tour 2012
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kwon Ji-Yong
Nghệ danh G-Dragon, GD
Sinh 18 tháng 8, 1988 (26 tuổi)
Nguyên quán Seoul, Cờ Hàn Quốc Hàn Quốc
Nghề nghiệp Rapper, ca sĩ, nhà sản xuất âm nhạc
Thể loại K-pop, hip-hop
Năm hoạt động 2001 - nay
Hãng đĩa YG Entertainment
Hợp tác với Big Bang, YG Family, GD & TOP
Website http://www.ygbigbang.com/gdragon/
Nhạc cụ nổi bật
dương cầm, ghita
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Tên tiếng Hàn
Hangul
Romaja quốc ngữ Gwon Ji-yong
McCune–Reischauer Kwŏn Chiyong

Kwon Ji-Yong[1] (Hangul: 권지용, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1988), thường được biết đến với nghệ danh G-Dragon (Hangul: 지 드래곤), là một rapper, ca sĩ, nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc người Hàn Quốc. Sau 6 năm làm thực tập sinh của hãng thu âm YG Entertainment (2001-2006), G-Dragon chính thức ra mắt với tư cách trưởng nhóm và là một trong hai tay rap của nhóm nhạc Hàn Quốc Big Bang. Kể từ khi ra mắt, G-Dragon tham gia vào việc sản xuất album, viết và hòa âm một số ca khúc trở thành thương hiệu của nhóm như "Lies", "Last Farewell", "Haru Haru" và "Fantastic Baby".

G-Dragon phát hành album đầu tay của riêng mình mang tên Heartbreaker vào năm 2009. Album đã trở thành một trong những album thành công nhất của năm với doanh số tiêu thụ hơn 200.000 bản và đoạt giải thưởng "Album của năm" tại Mnet Asian Music Awards 2009. Album cũng gây ra những tranh cãi bao gồm cả cáo buộc "đạo nhạc". Vào năm 2010, G-Dragon và T.O.P cùng nhau thu âm và phát hành album GD & TOP (2010). Ba đĩa đơn trong album là "High High", "Oh Yeah" và "Knock Out" đều có mặt trong top 3 trên bảng xếp hạng Gaon với "High High" nắm giữ vị trí số một. Mùa hè năm 2012 anh cho ra mắt EP đầu tiên One of a Kind với các đĩa đơn hit như "One of a Kind", "Crayon" và "That XX." Album nhận được giải Bản ghi âm của năm tại giải thưởng âm nhạc Seoul lần thứ 22. Album phòng thu thứ hai, Coup d'Etat (2013) tiếp nối thành công khi mang về cho anh giải Nghệ sĩ của năm tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 15. Anh cũng nhận các giải World's Best Entertainer và World's Best Album tại World Music Awards 2014.

G-Dragon trở thành viên Big Bang thứ hai có album ra mắt tại Nhật sau Daesung.[2] G-Dragon được khen ngợi nhờ làm việc hết mình, phong cách sáng tạo và những đóng góp trong ngành công nghiệp thời trang.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2000 – 2009: Những năm đầu đời và ra mắt với Big Bang[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Big Bang (ban nhạc)

Sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc, Kwon Jiyong bắt đầu sự nghiệp năm 5 tuổi khi tham gia nhóm nhạc Little Roola.[3] Tuy không phải là nhóm nhạc thần tượng nhưng nhóm có rất nhiều liveshow và bản hit còn lại của nhóm là "An angel without winds". Sau khi nhóm phát hành album giáng sinh thì công ty quản lý của họ yêu cầu chấm dứt hợp đồng, điều này khiến cho Jiyong rất shock và thề với mẹ là cậu sẽ "không bao giờ trở thành ca sĩ nữa".

Không lâu sau, Jiyong đã thắng một cuộc thi nhảy do SM Entertainment tổ chức. Sau đó anh được mời làm thực tập sinh của SM Entertainment khoảng năm năm (từ 8-13 tuổi), trở thành thực tập viên nhỏ nhất ở SM Entertainment. Năm học lớp 3, Jiyong tình cờ biết đến nhóm nhạc Wu-Tang Clan của Mĩ, từ đó anh bắt đầu học đọc rap. Ji-yong cũng từng viết nhạc khi rất còn nhỏ. Bài hát tự sáng tác đầu tiên của Jiyong được công bố rộng rãi là bài hát "Love letter", được viết khi anh tham gia cuộc thi tài năng của trường.[3]. Trong lúc vẫn đang tìm kiếm người dẫn dắt, anh gặp nhóm hip-hop People's Crew[3]. Dưới sự hướng dẫn của nhóm, anh đã tham gia trong album hip-hop mang tên Flex vào năm 2001. G-Dragon xuất hiện trước công chung với tư cách là thành viên mới của nhóm hip-hop People's Crew[3] và người soạn nhạc cho nhóm. Mặc dù tự viết lời cho ca khúc của mình nhưng anh thừa nhận rằng "lúc đó còn nhỏ nên vốn tiếng Anh lúc đó rất tệ nên nội dung ca từ không có gì mới, chỉ quẩn quanh chuyện 'Tôi còn trẻ, nhưng tôi là nhất'"[3].

Jiyong nhận được sự chú ý từ Sean trong nhóm song ca hip-hop JinuSean thuộc YG Entertainment, người sau đó tiến cử anh tới giám đốc Yang Hyun Suk. Giám đốc Yang Hyun Suk mới lấn đầu gặp Jiyong thì rất ngạc nhiên do khả năng đọc rap và phong cách ăn mặc của anh rất đáng kinh ngạc. Ông đã đích thân thuyết phục anh từ bỏ SM Entertainment sang làm thực tập sinh của YG Entertainment. Jiyong đã đồng ý và ký hợp đồng với YG Entertainment. Sau khi kí hợp đồng, Jiyong trải qua năm đầu tiên với các công việc như lau dọn phòng tập[3], chạy vặt cho các thực tập sinh khác. Anh và một thực tập sinh khác là Dong Young-bae được lên kế hoạch trở thành bộ đôi hip-hop GDYB và chọn cho mình nghệ danh G-Dragon ("Ji" phát âm giống "G" trong tiếng Anh, còn "Yong" trong tiếng Hàn nghĩa là "Dragon").[4] Sau sáu năm tập luyện, Jiyong xuất hiện trong một số album của các nghệ sĩ khác và ra mắt một vài đĩa đơn với Dong Youngbae dưới tên "GDYB." G-Dragon chính thức ra mắt với tư cách trưởng nhóm nhạc Big Bang vào năm 2006 cùng Dong Youngbae (với nghệ danh Taeyang) và ba thành viên khác (T.O.P, Daesung và Seungri).

Việc hợp thành nhóm đã được ghi lại thành phim tài liệu phát sóng trên truyền hình[5], và mặc dù khởi đầu với 6 thành viên, một trong số đó (Hyunseung của BEAST) đã bị loại trước khi chính thức ra mắt[4]. Sự ra mắt của nhóm gặt hái nhiều thành công với đĩa đơn đầu tiên đạt doanh số hơn 40.000 bản[6], tạo ra nhiều hit được phát liên tục trên các đài như "La La La", "Forever With You" và "We Belong together". Trong đĩa đơn cũng có một ca khúc riêng đầu tiên của G-Dragon, một phiên bản cover bài hát "This Love" của nhóm rock alternative Mĩ Maroon 5[5]. Trong mini album đầu tiên của nhóm mang tên Always được phát hành vào năm 2007, G-Dragon bắt đầu tham gia vào công đoạn sản xuất album[7]. Mini album này đã giới thiệu một vài ca khúc được anh sáng tác bao gồm cả single chủ đạo "Lies" (tiếng Triều Tiên: 거짓말), ca khúc đã trở thành hit lớn đầu tiên của nhóm. Các mini album sau đó nối tiếp thành công: Hot Issue với single "Last Farewell" (tiếng Triều Tiên: 마지막 인사), trong khi Stand Up với "Day by Day" (tiếng Triều Tiên: 하루하루), đều chiếm được hạng nhất trên nhiều bảng xếp hạng[8][9].

G-Dragon nhận được giải thưởng "Biểu tượng phong cách của năm 2008" vì thời trang mang đậm cá tính và là một trong 8 nhạc sĩ phối khí hay nhất Hàn Quốc của năm 2008[10], và giải thưởng "Người có ảnh hưởng lớn nhất trong năm 2008" do tạp chí Arena bình chọn dựa trên phong cách của anh[11].

2009-2011 : Phát triển sự nghiệp solo, Heartbreaker, và GD & TOP[sửa | sửa mã nguồn]

Song song với Big Bang, G-Dragon cũng có một số hoạt động solo. Sau khi hỗ trợ Taeyang sản xuất album đầu tay Hot, anh cũng ghi âm phiên bản của riêng mình cho ca khúc chủ đạo của album là "Only Look At Me" (tiếng Triều Tiên: 나만바라봐; Romaja: Naman Barabwa), và đặt tên là "Only Look At Me Part 2". Phiên bản này chỉ được phát hành trên mạng. Cùng với TaeyangT.O.P, G-Dragon cũng được giới thiệu trong ca khúc "Super Fly" nằm trong album Rush của ca sĩ Lexy. Tháng 5 năm 2009, anh hợp tác cùng nhóm nhạc Nhật W-inds trong single của họ mang tên "Rain Is Fallin'/Hybrid Dream"[12][13].

G-Dragon chính thức bắt đầu sự nghiệp solo với album đầu tay Heartbreaker, với sự tham gia của một số ca sĩ như Teddy của 1TYM, Taeyang, Kush, CLDara của 2NE1. Ban đầu album được lên kế hoạch phát hành trong tháng 4, nhưng sau đó đã dời sang tháng 8[14] để khớp với ngày sinh nhật thứ 21 của anh[15]. Album đánh dấu sự thay đổi hình tượng của G-Dragon với mái tóc được nhuộm vàng để phù hợp với ý tưởng chủ đạo. Cùng với sự thành công của ca khúc chủ đề cùng tên, album đạt được doanh số hơn 150.000 bản[16] và đoạt giải "Album của năm" tại giải thưởng Mnet Asian Music 2009[17]. Single thứ hai trích từ album là "Breathe" cũng lọt vào top 20[18] trong khi những ca khúc khác như "The Leaders", "A Boy", "Hello" và "She's Gone" tiếp tục có mặt trong các bảng xếp hạng khác nhau[19]. Album chứng tỏ được khả năng đa dạng của G-Dragon khi rất nhiều phong cách nhạc như R&B, hip-hop, rock và dance được tập hợp trong các ca khúc.

Được sự hậu thuẫn từ thành công của album, G-Dragon tổ chức concert solo đầu tiên[20] mang tên Shine A Light tại Olympic Park vào tháng 12 năm 2009.[21] Chương trình đã vấp phải nhiều tranh cãi vì những nội dung được cho là có tính chất khiêu dâm[20][22]. Bộ Y tế, Phúc lợi và Gia đình Hàn Quốc đã yêu cầu công tố viên chính phủ điều tra về việc G-Dragon hoặc YG Entertainment có vi phạm luật trong việc biểu diễn khiêu dâm trong chương trình hay không[23]. Ngày 15 tháng 3 năm 2010, G-Dragon đưược tuyên bố vô tội và không vi phạm bất cứ cáo buộc nào[24][25].

G-Dragon và T.O.P trong bức hình quảng bá cho album GD & TOP

Vào tháng 11 năm 2010, YG Entertainment phát hành album hợp tác của G-Dragon và thành viên cùng nhóm là T.O.P.[26] Trước ngày phát hành album, bộ đôi này đã tổ chức một buổi ra mắt toàn cầu cho album của họ tại Quảng trường Thời Đại ở Yeongdeungpo, Seoul, Hàn Quốc[27] và được phát trực tiếp trên YouTube.[28] Để quảng bá cho album, họ đã phát hành trước 3 single: "High High", "Knock Out" và "Oh Yeah".[29] 3 single này đều đạt được những thành công. "High High" dẫn đầu các bảng xếp hạng[30] trong khi "Oh Yeah" và "Knock Out" lần lượt đứng thứ 2 và thứ 3.[31][32] Album chính thức được phát hành vào đúng dịp Giáng sinh và xuất phát ở vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Gaon[33] với 200.000 lượt đặt trước[34] và cuối cùng đạt mức 130.000 bản.

Sau đó, anh kết hợp với Park Myung Soo tạo thành bộ đôi tên là "GG" và dự chương trình Infinity Challenge Seohae Ahn Highway Song Festival 2011. Họ đã phát hành bài hát "Fired Up" (바람났어) với sự góp mặt của Park Bom của 2NE1 vào ngày 6 tháng 2 năm 2011 và dẫn đầu trên tất cả các bảng xếp hạng tại Hàn Quốc.

Vào ngày 5 tháng 10 năm 2011, G-Dragon được thông báo là cho kết quả xét nghiệm dương tính đối với cần sa. Mặc dù kết quả xét nghiệm nước tiểu ban đầu của anh là âm tính, nhưng khi xét nghiệm mẫu tóc của anh thì kết quả đã hoàn toàn ngược lại. Cuối cùng G-Dragon đã thú nhận rằng anh đã dùng thuốc tại một câu lạc bộ ở Nhật Bản khi đến đây tham dự một buổi hòa nhạc. G-Dragon cho biết: "Tôi đã hút một điếu thuốc mà ai đó đã đưa cho tôi trong câu lạc bộ. Mùi của nó khác với một điếu thuốc bình thường, vì vậy tôi hơi nghi ngờ rằng đó là cần sa, nhưng sự thật là tôi có hút thuốc đó".[35][36]

Scandal khiến cho các hoạt động quảng bá cùng Big Bang phải tạm dừng, còn YG Entertainment ra thông báo rằng họ sẽ cho anh thời gian để suy nghĩ lại về sai lầm của mình.[37] Bởi vì anh không bị truy tố nên may mắn không mất các hợp đồng quảng cáo nào và sau đó xuất hiện trở lại trước công chúng lần đầu sau scandal tại MTV EMA 2011 cùng Big Bang.

2012–2013: One of a Kind, chuyến lưu diễn toàn thế giới và Coup d'Etat[sửa | sửa mã nguồn]

G-Dragon biểu diễn trong Alive World Tour vào tháng 9 năm 2012

Vào tháng ba năm 2012, lịch trở lại của G-Dragon được thông báo là vào khoảng nửa cuối năm, chính xác là vào tháng 8 để trùng với sinh nhật của anh.[38] Cùng thời điểm đó, G-Dragon cùng với T.O.P kết hợp với nữ ca sĩ người Anh Pixie Lott trong album phát hành tại Nhật sắp ra mắt của cô.[39]

Ngày 24 tháng 8 năm 2012, G-Dragon phát hành video âm nhạc cho bài hát "One Of A Kind" cho mini album cùng tên của anh.[40] Bài hát sau đó đã mang về cho anh hai giải "Bài hát Hip-hop/Rap hay nhất của năm" tại Korean Music Awards và Rhythmer Awards. Ngày 1 tháng 9, anh phát hành single tiếp theo mang tên "That XX". Bài hát này ngay lập tức đứng đầu các bảng xếp hạng.[41] Mini album của anh được phát hành online vào ngày 15 tháng 9 và lên kệ ngày ngày 18 tháng 9 năm 2012.[42] Vừa phát hành, album này đã ngay lập tức thành công ở Hàn Quốc. Tất cả bài hát đều chiếm giữ những vị trí đầu tiên trên các bảng xếp hạng chính. Album này cũng dẫn đầu Billboard World Album Chart và lọt vào Billboard 200 với vị trí 161.[43] Kết thúc năm 2012, album đã bán được 200.000 bản và trở thành album cá nhân có doanh số bán ra cao nhất kể từ album "Heartbreaker" cũng được phát hành bởi chính anh. Nhờ những thành công này, anh giành giải "Nghệ sĩ nam xuất sắc nhất" tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 14 và sau đó là giải "Bản ghi âm của năm" cho One Of A Kind tại Seoul Music Awards lần thứ 22.

Tháng 1 năm 2013, để quảng bá cho album của mình, anh bắt tay vào thực hiện G-Dragon 2013 1st World Tour, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có chuyến lưu diễn quanh 4 sân vận động mái vòm ở Nhật Bản và nghệ sĩ solo Hàn Quốc thứ hai có chuyến lưu diễn thế giới (sau Bi Rain). Buổi diễn đầu tiên bắt đầu vào ngày 30 tháng 3 năm 2013 tại Seoul. Những buổi diễn ở Nhật bắt đầu vào tháng 4 và thêm nhiều thành phố khác được xác nhận đưa vào địa điểm biểu diễn sau đó. Sau khi kết thúc chuyễn lưu diễn, G-Dragon trở lại phòng thu để hoàn tất album thứ hai của mình. YG Entertainment sau đó thông báo rằng nghệ sĩ từng giành giải Grammy Missy Elliott sẽ góp mặt trong album.[44] Elliott đã công bố trên Twitter rằng cô góp giọng vào 2 bài "Chugalug" và "Niliria" ("Chugalug" không được phát hành) và đều được sản xuất bởi Teddy P.[45][46]

Bìa album Coup D'Etat

Vào tháng 9 năm 2013, G-Dragon phát hành album phòng thu thứ hai mang tên Coup D'Etat. Trước khi phát hành album đã có hơn 300.000 đơn đặt hàng (chỉ tính riêng tại Hàn). Album bao gồm 14 ca khúc, trong đó có 4 ca khúc chủ đề ("Black", "Who You?", "Crooked" và "Niliria"), được chia làm 3 phần với phần 1 ra mắt online vào ngày 2 tháng 9, phần 2 vào ngày 5 tháng 9 và phần cuối cùng sẽ nằm trong bản cứng của album, lên kệ vào ngày 13 tháng 9. Album có sự tham gia hợp tác của các nghệ sĩ và nhà sản xuất tên tuổi như Missy Elliott, Diplo, Baauer, Boys Noize, Sky Ferreira, Siriusmo, Zion.T, Lydia Paek và ca sĩ cùng hãng đĩa, Jennie Kim. G-Dragon và Missy Elliott biểu diễn ca khúc "Niliria" tại lễ hội âm nhạc KCON 2013 ở Los Angeles. Các ca khúc trong Coup D'Etat liên tục đứng đầu trên các bản xếp hạng âm nhạc trong nước. Tổng số bảy ca khúc trong album lần lượt đứng từ vị trí thứ nhất tới thứ bảy trên các bảng xếp hạng của Mnet ngay sau khi ra mắt,[47] trong khi sáu bài hát trong Coup D'Etat cũng có mặt trong top 10 bảng xếp hạng đĩa đơn của Gaon với "Who You?" ở vị trí số một.[48] Album cũng đứng đầu các bảng xếp hạng của iTunes ở một số quốc gia.[49][50] Video âm nhạc cho bài hát "Coup D'Etat" được tải lên YouTube vào ngày 1 tháng 9 trong khi video của "Crooked" cũng ra mắt không lâu sau đó vào ngày 4 tháng 9. Thành công của Coup D'état giúp cho G-Dragon nhận tổng cộng bốn giải thưởng tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 15: "Nghệ sĩ nam xuất sắc nhất", "Video âm nhạc hay nhất" cho "Coup D'etat", "Màn trình diễn nhảy xuất sắc nhất" cho "Crooked" và giải thưởng quan trọng nhất, "Nghệ sĩ của năm".[51] Anh sau đó tiếp tục mang về cho mình giải thưởng World's Best Entertainer và World's Best Album tại World Music Awards 2014.[52]

2014–nay: Lưu diễn, GD X TAEYANG và hội họa hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

G-Dragon cùng Big Bang bắt đầu một chuyến đi vòng quanh châu Á, đi qua Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia và Trung Quốc.[53][54] Anh cũng tham gia chuyến lưu diễn "YG Power Tour" của YG Entertainment thu hút trên 400.000 khán giả tại bảy thành phố tại châu Á.[55][56]

Vào ngày 17 tháng 11 năm 2014 anh được thông báo sẽ góp mặt trong dự án hip hop của YG Entertainment. Vào ngày 21 tháng 11, anh chính thức cùng Taeyang hợp tác phát hành đĩa đơn "Good Boy" và đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard, giúp họ trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thứ ba làm được điều này sau PSY2NE1.[57] Tại Hàn Quốc hơn 1,1 triệu bản của bài hát được tiêu thụ. Vào ngày 15 tháng 12 năm 2014 anh cũng hợp tác với Skrillex trong ca khúc "Dirty Vibe" cho album Recess.[58]

Vào tháng 9 năm 2014, G-Dragon kết hợp với nhà chế tác đá quý Chow Tai Fook (周大福) và khai trương bộ sưu tập do chính anh thiết kế.[59][60] Vào hè năm 2015 G-Dragon khai trương một buổi triển lãm nghệ thuật mang tên PEACEMINUSONE: Beyond the Stage.[61] Buổi triển lãm trưng bày trên 200 sản phẩm nghệ thuật của 12 nghệ sĩ trong và ngoài Hàn Quốc như Michael Scoggins, Sophie Clements và James Clar.[62] G-Dragon nói rằng anh chuẩn bị cho buổi triển lãm này trong hơn một năm, với mục đích kết hợp hội họa hiện đại và và văn hóa pop với nhau. Anh nói rằng "Tôi muốn là cầu nối đưa các họa sĩ trong nước tới với công chúng, những người chưa biết nhiều về hội họa hay cảm thấy hội họa khó tiếp cận".[63] Buổi triển lãm được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc từ ngày 6 tháng 6 cho tới 23 tháng 8 và cũng sẽ dừng chân tại Thượng HảiSingapore.[64]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

"Người ta không thể tạo ra một thứ âm nhạc chuẩn mực một khi người nghệ sĩ cảm thấy rằng âm nhạc là công việc. Khi người ta làm việc cùng âm nhạc, [dù là] biểu diễn hay chỉ đơn thuần tận hưởng nó, ... điều đó vẫn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thứ âm nhạc đó ... Càng làm việc nhiều, tôi càng cảm thấy tôi đang cùng một lúc học hỏi và hoàn thiện bản thân hơn." —G-Dragon[65][66]

Lấy cảm hứng âm nhạc từ Wu-Tang Clan, G-Dragon tham gia vào album hip hop Flex vào năm 2001 khi mới 12 tuổi, bắt đầu sự nghiệp nghệ sĩ của mình.[3] Trong những ngày đầu của Big Bang, ban nhạc được biết đến chủ yếu với thể lọai nhạc hip hop, dù sau đó họ bắt đầu chuyển hướng sang nhạc điện tử và tạo ra một xu hướng âm nhạc mới tại Hàn Quốc.[68] Nhờ tiếp xúc nhiều thể loại khi hoạt động cùng với Big Bang, G-Dragon kết hợp các thể loại dance, hip hop, và R&B và trong abum Heartbreaker.[69] Trong quá trình sản xuất album GD & TOP, G-Dragon lựa chọn sử dụng âm nhạc nhiều tính hip hop hơn, mặc dù anh cũng thừa nhận rằng R&B, acoustic, và nhạc điện tử cũng có ảnh hưởng không hề nhỏ.[28]

Trước khi bắt đầu sự nghiệp solo, anh tham gia nhiều vào các album của Big Bang khi viết và soạn nhạc cho phần lớn các ca khúc.[70] Kể từ khi trở thành nghệ sĩ solo, G-Dragon duy trì một sự kiểm soát chặt chẽ lên âm nhạc của mình và nhận xét rằng "mỗi một cảm xúc [khi sáng tạo âm nhạc] đều rất khác nhau",[66] Trong nỗ lực trở nên khác biệt so với các các nghệ sĩ khác, G-Dragon đã "tìm tòi, khám phá mọi góc cạnh và tạo nên những câu chuyện khác nhau" với mỗi phần trong âm nhạc của anh.[66] Anh thừa nhận rằng mặc dù phần lời có lẽ là phần lôi cuốn nhất trong các bài hát của anh, anh vẫn muốn mọi khía cạnh trong các bài hát đó được mọi người ghi nhớ.[66]

Đóng góp của G-Dragon vào âm nhạc của anh nhận được nhiều lời khen cũng những ý kiến phê bình. Tờ Korea Times gọi anh là "ca sĩ nhạc sĩ thiên tài" bởi lời bài hát anh sáng tác "giống như một câu chuyện thực sự vậy".[70] Mặc dù vậy anh cũng bày tỏ rằng anh không thỏai mái với danh hiệu mà mọi người đặt cho mình.[71] Nhưngx nỗ lực tạo ra giai điệu mới cho âm nhạc của anh giúp anh được coi là một trong những người sáng tác nhạc hay nhất năm 2008.[70] Lời rap cũng đưa anh tới vị trí số bốn trong cuộc bình chọn xem ai là rapper "thần thánh nhất" ("Most God-like") tại Nhật.[72] Anh cũng đứng đầu danh sách "Thần tượng hoạt động tích cực nhất" của Forbes Hàn Quốc[73] cũng như có mặt trong danh sách "Korea 2030 Power Leaders."[74][73] Ca sĩ Lee Seung-Cheol cũng coi G-Dragon là một trong những nghệ sĩ trẻ mà anh trông đợi.[75]

Hình ảnh trước công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

G-Dragon trong bộ đồ diễn khi lưu diễn cùng Big Bang tại Alive tour năm 2012

Được coi là thành viên "ăn mặc thời trang nhất" nhóm,[76] vai trò của G-Dragon trong việc ảnh hưởng lên các xu hướng thời trang tại Hàn Quốc mang về cho anh các giải thưởng như "Biểu tượng phong cách của năm 2008"[76] và giải thưởng cho "Những người đàn ông có ảnh hưởng nhất năm 2008" do tạp chí Arena tài trợ.[77] Biểu tượng thời trang Kang Dong Won cũng thừa nhận những ảnh hưởng nhất định của G-Dragon và gọi anh là một "fashionista" (chuyên gia về thời trang).[78] Vào năm 2013, G-Dragon có mặt trong Style Icon Top 10 và sau đó giành giải Style Icon of the Year Award 2013. Anh là ca sĩ đâu tiên nhận được giải thưởng này một cách trọn vẹn.[79] Nhân vật truyền hình nổi tiếng Kim Jun Hee, khi nói tại “Follow Me Season 2" của Fashion N, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của cô dành cho G-Dragon, nói rằng "G-Dragon không chỉ có thị hiếu về thời trang, mà còn có thể sáng tác nhạc như một thiên tài vậy.”[80]

Khi quảng bá cho Heartbreaker, việc đổi kiểu tóc và nhuộm vàng rât được lòng của người hâm mộ và trở thành một trong những kiểu tóc nổi bật của năm 2009.[81] Mặc dù vậy G-Dragon cũng thừa nhận rằng cá nhân anh phải tỉnh táo trong vai trò một người làm âm nhạc, nhấn mạnh rằng "tôi đã thay đổi nhiều trong đó có cả giọng hát bởi tôi ý thức rõ về công việc của mình khi phải đứng trước người khác."[65] Nhờ ý thức được rằng hình ảnh trước công chúng là rất quan trọng khi quảng bá âm nhạc của mình, G-Dragon cho rằng "điều mà công chúng nhìn nhận [về ngoại hình của tôi] phụ thuộc vào tôi nên đó sẽ là lỗi của tôi nếu tôi biểu lộ nhầm ý muốn của mình."[65] Mặc dù thành công cả khi solo cũng như trong vai trò trưởng nhóm của Big Bang, G-Dragon thừa nhận rằng anh không biết mình nổi tiếng đến mức nào cho tới khi anh tham gia chuyến lưu diễn thế giới của Big Bang.[82] Anh cũng hết sức phản đối việc các ca sĩ trở thành "sản phẩm" của nền công nghiệp giải trí.[83] Anh sau đó được góp mặt trong danh sách "50 lý do vì sao Seoul là thành phố tốt nhất" của CNN.[28]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

G-Dragon bị Sony Music cáo buộc đạo nhạc khi ca khúc "Heartbreaker" và "Butterfly" được cho là giống với "Right Round" của Flo Rida và "She's Electric" của nhóm Oasis[84][70]. Tuy nhiên, EMI, đơn vị giữ quyền đối với "Right Round" cho rằng giữa hai ca khúc không có điểm nào giống nhau.[85] Sony Hàn Quốc đã không cho phép G-Dragon tiếp tục quảng bá những ca khúc này khi chưa có hành động bồi thường thiệt hại. Ngày 21 tháng 9 năm 2009, tạp chí Sisa, một chương trình mới của đài MBC, dẫn nguồn tin từ những quan chức của Sony rằng họ đã gửi cho YG Entertainment thư cảnh cáo về việc vi phạm tác quyền này. Người đại diện pháp lí của Sony cũng cho biết: "Thật khó để có quyết định chính xác đối với những tranh cãi trong âm nhạc". Tuy nhiên, họ đã quyết định rằng giữa các ca khúc có sự giống nhau và tiếp sau đó họ đã gửi thư cảnh cáo đến đơn vị sản xuất và các nhạc sĩ hòa âm. Họ cũng không cho phép YG Entertainment quảng bá những ca khúc này. Cả Big Bang lẫn đồng nghiệp cùng công ty là 2NE1 đều bị đặt dưới những cáo buộc vi phạm tương tự[86]. Tuy nhiên, YG Entertainment cho rằng không có bất kì quyết định nào có tính pháp lí được đưa ra và rằng "lá thư" mà YG nhận được từ Sony không được xem là một hành động có tính pháp lý; công ty này cũng thông báo họ vẫn chưa nhận được bất cứ sự phản hồi trực tiếp nào từ những nhà sản xuất tại Mĩ về vấn đề này[87].

Vào ngày 6 tháng 3 năm 2010, YG Entertainment thông báo rằng họ đã đích thân liên hệ với người đại diện của Flo Rida để mời anh góp mặt trong album live của G-Dragon, Shine a LightFlo Rida đã đồng ý.[88] Sự việc được xem như kết thúc khi bản song ca Heartbreaker của G-Dragon và Flo Rida chính thức được phát hành. Không bao lâu sau G-Dragon được mời tham gia vào show của Flo Rida và nhận được nhiều lời khen từ rapper da màu này.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu tiếng Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 34. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ Julie Jackson (2 tháng 4 năm 2013). “G-Dragon to release debut Japanese solo album”. The Korea Herald. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ a ă â b c d đ “新스타고백 지드래곤③연습생시절, 1년간 죽어라 청소만” (bằng tiếng Hàn). Yahoo Korean News. 1 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ a ă “'준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). 7 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ a ă “Big Bang Profile”. KBS World. Truy cập 15 tháng 1, 2010. 
  6. ^ (tiếng Triều Tiên) “Album Sales For The Month of tháng 2 năm 2007”. Hiệp hội công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  7. ^ Arirang TV. On Location: Big Bang's Showcase & First Fan Meeting. Truy cập 21 tháng 2 năm 2008.
  8. ^ (tiếng Triều Tiên) “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입”. Newsen (bằng tiếng Triều Tiên). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập 1 tháng 2 năm 2008. 
  9. ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks” (bằng tiếng Anh). KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. 
  10. ^ (tiếng Triều Tiên) 2008년을 빛낸 가요 작곡가 '8+1'인은? 스타뉴스. 18 tháng 11 năm 2008. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
  11. ^ (tiếng Triều Tiên) 지드래곤, 2008 'A-어워즈' 스타일 부문 수상 연합뉴스. 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009.
  12. ^ (tiếng Triều Tiên) “'빅뱅' 지드래곤, 日그룹 '윈즈' 앨범 참여..뮤비도 출연”. Thể thao Triều Tiên. 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập 12 tháng 1, 2010. 
  13. ^ (tiếng Trung) “G-Dragon与W-inds合作日本同台演出获好评” (bằng tiếng Trung). Sina. 19 tháng 5 năm 2009. Truy cập 12 tháng 1, 2010. 
  14. ^ (tiếng Anh) Kim, Lynn. G-Dragon Vol. 1 - Heartbreaker Yes Asia. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010.
  15. ^ (tiếng Anh) G-Dragon nhóm Big Bang phát hành album solo KBS World. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010.
  16. ^ (tiếng Anh) Seo Tai-ji Tops Album Sales. The Korea Times 18 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
  17. ^ Han Sang, Hee (22 tháng 11 năm 2009). “Music Awards Has Fresh Yet Disappointing Start”. Thời báo Hàn Quốc. Truy cập 13 tháng 12 năm 2009. 
  18. ^ Han Sang, Hee (28 tháng 10 năm 2009). “G-Dragon Shines on First Album”. Korean Times. Truy cập 5 tháng 11 năm 2009. 
  19. ^ (tiếng Anh) Kim, Lynn. G-Dragon chinh phục bảng xếp hạng âm nhạc Hàn Quốc Asiae. 7 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
  20. ^ a ă “Singer G-Dragon Faces Obscenity Probe”. The Chosun Ilbo. 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009. 
  21. ^ Han Sang, Hee (13 tháng 10 năm 2009). “G-Dragon to Hold 1st Solo Concert”. The Korea Times. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009. 
  22. ^ “G-Dragon’s Suggestive Concert Creates Stir”. Korea Times. 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập 27 tháng 12 năm 2009. 
  23. ^ Hicap, Jonathan M. (19 tháng 12 năm 2009). “Fans defend G-Dragon against concert controversy” (bằng tiếng Anh). Manila Bulletin Publishing Corporation. Truy cập tháng 1, 15, 2010. 
  24. ^ Hicap, Jonathan M. (8 tháng 1 năm 2010). “G-Dragon fans file petition over concert fiasco”. Manila Bulletin Publishing Corporation. Truy cập 15 tháng 1, 2010. 
  25. ^ Lee, Jae-hoon (15 tháng 4 năm 2010). “'선정성 재판' G드래곤 콘서트, 영화도 12세可” (bằng tiếng Hàn). Nate.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  26. ^ “G-Dragon and Top to Release Duet Album in December”. KBS World. 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  27. ^ Kim, Jessica (15 tháng 12 năm 2010). “Big Bang T.O.P, G-Dragon pose at album showcase”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ a ă â Yoon, Hee-Seong (15 tháng 12 năm 2010). “G-Dragon and T.O.P hold world premiere showcase for duo unit”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  29. ^ Hong, Lucia (24 tháng 12 năm 2010). “Big Bang unit G-Dragon and T.O.P release third title track”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  30. ^ “Big Bang duo on TV today”. The Korea JoongAng Daily. 13 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  31. ^ Kim, Heidi (6 tháng 1 năm 2011). “IU "Good Day" stays atop Gaon chart for 4th week”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  32. ^ Kim, Heidi (4 tháng 1 năm 2011). “IU's "Good Day" takes charge of Mnet chart for 4th week”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  33. ^ “Gaon Chart Search: GD & TOP” (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  34. ^ “'발매 D-2' GD·탑 유닛 첫앨범, 선주문만 '20만장' (GD&TOP's album receives 200,000 pre-orders)” (bằng tiếng Hàn). Daum. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  35. ^ JONATHAN M. HICAP. “YG Entertainment affected by G-Dragon's marijuana scandal”. mb.com.ph. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  36. ^ October 13, 2011 (13 tháng 10 năm 2011). “Japanese Public Opinion Criticizes G-Dragon”. Soompi. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  37. ^ “YG Entertainment in state of emergency [NEWS”. bigbangupdates. 5 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ Vitalsign. “G-Dragon's solo comeback scheduled for August”. Allkpop.com. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  39. ^ leesa86. “GD&TOP to feature in English singer Pixie Lott's new Japanese release”. Allkpop.com. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  40. ^ “G-Dragon releases MV for "One of A Kind"”. allkpop. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  41. ^ “G-Dragon achieves a perfect all-kill with "That XX"”. Allkpop. 31 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  42. ^ “G-Dragon - First Mini Album Tracklist”. YG Life. 3 tháng 9 năm 2012. 
  43. ^ “G-Dragon Enters the Billboard 200 and Places First on the Billboard World Album Chart - M NET”. Global.mnet.com. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  44. ^ “Big Bang G-Dragon to Make Solo Comeback this August, 'Missy Elliot to Feature'”. KpopStarz. 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  45. ^ “Twitter / MissyElliott: @IFIWereMagneto it was 2 records...”. Twitter. 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  46. ^ “Twitter / MissyElliott: @TracyCozette funny I did a...”. Twitter. 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  47. ^ “G-DRAGON’S NEW SONG "SWEEPING THE CHART" UPON BEING RELEASED”. yg-life.com. YG Entertainment. 5 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  48. ^ “GAON Weekly Single Chart”. 
  49. ^ “G-DRAGON TOPPING 8 COUNTRIES’ ITUNES CHARTS… BEGINNING TV APPEARANCE AT "SKETCHBOOK"”. yg-life.com. YG Entertainment. 4 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  50. ^ “Big Bang G-Dragon Tops 7 Countries iTunes Charts with New Album, 'COUP D'ETAT'”. KpopStarz. KpopStarz.com. 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  51. ^ “Winners from the '2013 MAMA'!”. Allkpop. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013. 
  52. ^ “G-Dragon wins 'World's Best Entertainer' and 'World's Best Album' awards”. AllKpop. 18 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014. 
  53. ^ “G-Dragon, Taeyang and Seungri fan meeting in Taiwan”. http://hanryu-iace.jp. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  54. ^ “Big Bang G-Dragon, Taeyang and Seungri To Hold First Fan Meeting 'Thinking Of You' in Malaysia”. kpopstarz. 21 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  55. ^ “YG Entertainment to Step Up Its Game”. Kpop Starz. 17 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  56. ^ “YG Family successfully completes their “2014 Galaxy Tour” in Taiwan!”. Koreaboo. 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  57. ^ Benjamin, Jeff (1 tháng 12 năm 2014). “G-Dragon & Taeyang's 'Good Boy' Debuts at No. 1 on World Digital Songs”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  58. ^ “DJ Skrillex's New Album Featuring G-Dragon And CL Ranks 4th On U.S. Billboard Chart”. Kpopstarz. 28 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014. 
  59. ^ “Chow Tai Fook x G-Dragon Jewellery Collection”. http://senatus.net. 9 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  60. ^ “G-Dragon collaborates with HK jeweller to produce limited edition collection”. Asia One. 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  61. ^ “G-Dragon Unveils 'PEACEMINUSONE' Exhibit In Seoul”. Kpop Starz. 30 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  62. ^ “G-Dragon to hold art exhibition”. Asia One. 26 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  63. ^ “Big Bang's G-Dragon Says He Curated Seoul Museum Of Art Exhibition For People 'Unfamiliar With Art Or Who Find Art Unapproachable'”. Kpop Starz. 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  64. ^ “G-Dragon art exhibition opens in Seoul”. Channel News Asia. 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  65. ^ a ă â Kang, Myoung-Seok. “Big Bang G-Dragon Pt. 1”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  66. ^ a ă â b Kang, Myoung-Seok. “Big Bang G-Dragon Pt. 2”. 10Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  67. ^ “Big Bang unveils Japanese version of 'Haru Haru'”. Allkpop. 30 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  68. ^ Kim, Wong-Yeon (28 tháng 2 năm 2008). “Big Bang, Brown Eyed Girls, Jewelry... The trend of J-pop 'Electronica'” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 
  69. ^ “新스타고백 지드래곤⑫"솔로앨범, 저한테는 도박이었죠"” (bằng tiếng Hàn). 10Asiae. 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010. 
  70. ^ a ă â b Lee, Sung-moo (28 tháng 10 năm 2009). “Is Plagiarism a New Genre?”. The Korea Times. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2009. 
  71. ^ “‘빅뱅’ G드래곤 "내가 천재라고? 천만에"” (bằng tiếng Hàn). The Kyunghyang Shinmum. 8 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  72. ^ Kim, Hyun (30 tháng 1 năm 2011). “지드래곤, 日 `신이라 생각하는 래퍼` 4위 에미넴도 제쳐” (bằng tiếng Hàn). Daily News. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  73. ^ a ă Jonathan M. Hicap. “G-Dragon tops Forbes Korea’s ranking of most hardworking idols”. mb.com.ph. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  74. ^ “G-Dragon chosen by Forbes Korea as one of the TOP 40 Korea 2030 Power Leaders”. 
  75. ^ “Lee Seung Chul Praises G-Dragon ‘I Think He’s the Best’”. 
  76. ^ a ă Kang, Jiyong (27 tháng 11 năm 2007). “빅뱅 G드래곤 "의상 전공에 욕심있다"” (bằng tiếng Hàn). SSTV. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  77. ^ “지드래곤, 2008 'A-어워즈' 스타일 부문 수상” (bằng tiếng Hàn). Naver. 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009. 
  78. ^ “강동원 "보헤미안 스타일 올 가을 유행 예감"[포토엔]” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 19 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  79. ^ “G-Dragon Receives Grand Prize, First Such Case for Solo Singer”. OSEN via YG Life. 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014. 
  80. ^ “Kim Jun Hee Praises G-Dragon for His Fashion Taste and Musical Skills”. Soompi. 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  81. ^ “강동원 "보헤미안 스타일 올 가을 유행 예감"[포토엔]” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 21 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  82. ^ Sun, Rebecca (29 tháng 1 năm 2014). “K-Pop Star G-Dragon on His Growing Global Influence: 'I Didn't Realize How Famous I Was' (Q&A)]”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  83. ^ “GDㆍ탑이 밝힌 '불화설'과 '스캔들'” (bằng tiếng Hàn). Naver. 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  84. ^ (tiếng Anh) YG Hits Sony Over Plagiarism Allegations. The Korea Times. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
  85. ^ (tiếng Triều Tiên) 지드래곤, '표절이라 단정하기엔 섣부른 판단!'. 한경닷컴. 21 tháng 8 năm 2009. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
  86. ^ (tiếng Triều Tiên) 경고장 발송’ 소니, 오늘(21일) 지드래곤 표절관련 입장발표. Newsen. 21 tháng 9 năm 2009. Truy cập 21 tháng 9 năm 2009
  87. ^ (tiếng Triều Tiên) "표절 경고장 불쾌"…양현석 뿔났다. donga.com. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập 2 tháng 10 năm 2009
  88. ^ Heo, Minyoung (17 tháng 9 năm 2010). “지드래곤 "거 봐? 표절 아니지"” (bằng tiếng Hàn). DongA News. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010.