M.I.A. (rapper)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
M.I.A.
MIA front face.jpg
M.I.A. tại Gala Time 100thành phố New York vào 5 tháng 5 năm 2009
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Mathangi Arulpragasam
Sinh 18 tháng 7, 1975 (42 tuổi)
Hounslow, Luân Đôn, Anh
Nguyên quán Mitcham, Luân Đôn, Anh
Thể loại Nhạc điện tử, alternative dance, alternative hip hop, world, grime, indietronica, R&B
Nghề nghiệp Ca sĩ, rapper, nhạc sĩ sáng tác, nhà sản xuất, nghệ sĩ thị giác, nhà hoạt động, nhiếp ảnh gia, nhà thiết kế thời trang, người mẫu
Nhạc cụ Giọng, drum machine, bộ gõ
Năm hoạt động 2000–nay
Hãng đĩa Roc Nation, N.E.E.T., Mercury, XL, Interscope, Showbiz
Hợp tác với Jay-Z, Rye Rye, Madonna[1]
Website www.miauk.com

Mathangi "Maya" Arulpragasam (tiếng Tamilமாதங்கி 'மாயா' அருள்பிரகாசம், Mātaṅki 'Māyā' Aruḷpirakācam ?; sinh ngày 18 tháng 7 năm 1975[2]), được biết với nghệ danh M.I.A., là một ca sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, đạo diễn và nhà thiết kế thời trang người Anh. Biệt danh "M.I.A." dựa trên tên thật của cô, và cũng chỉ sự viết tắt của Missing in Action. Các tác phẩm của cô kết hợp những yếu tố của âm nhạc điện tử, dance, alternative, hip hopnhạc world. M.I.A. khởi đầu sự nghiệp từ năm 2000 trong vai trò một nghệ sĩ thị giác, nhà làm phim và nhà thiết kế tại Tây London trước khi bắt đầu sự nghiệp thu âm vào năm 2002. Cô nổi lên từ đầu năm 2004 với những đĩa đơn "Sunshowers" và "Galang", lọt vào bảng xếp hạng của Anh, Canada và số 11 trên Billboard Hot Dance Singles Sales ở Mỹ.

M.I.A. phát hành album đầu tay Arular vào năm 2005 và album thứ hai Kala năm 2007, cả hai đều nhận được sự khen ngợi của giới phê bình. Arular leo lên bảng xếp hạng ở Na Uy, Bỉ, Thụy Điển, Nhật Bản và Mỹ, nơi mà album đạt được vị trí số 11 trên bảng xếp hạng Billboard Independent Albums và số 3 trên Dance/Electronic Albums. Kala nhận được chứng nhận bạc tại United Kingdom, và vàng tại CanadaHoa Kỳ, và leo lên đứng đầu bảng xếp hạng Dance/Electronic Albums tại đây. Album cũng lọt vào bảng xếp hạng ở một số nước ở châu Âu, cùng Nhật Bản và Úc. Đĩa đơn đầu của album, "Boyz" leo lên tốp 10 tại CanadaBillboard Hot Dance Singles Sales năm 2007, trở thành đĩa đơn tốp 10 đầu tiên của cô. Đĩa đơn "Paper Planes" cũng đạt được vị trí trong tốp 20 toàn thế giới và thứ tư trên Billboard Hot 100. "Paper Planes" nhận được chứng nhận vàng ở New Zealand và ba lần bạch kim tại Canada và Mỹ. Nó là đĩa đơn bán chạy số 7 của một nghệ sĩ người Anh tại Hoa Kỳ trong kỷ nguyên kĩ thuật số tính đến tháng 11 năm 2011, và là đĩa đơn bán chạy thứ hai của XL Recordings từ trước tới nay. Album thứ ba của M.I.A., Maya được ra mắt năm 2010 ngay sau bộ phim ngắn gây tranh cãi của ca khúc "Born Free". Đây là album có thứ hạng cao nhất của cô tại Anh và Mỹ, đạt được vị trí số 9 trên Billboard 200, đứng đầu Dance/Electronic Albums và nằm trong tốp 10 của Phần Lan, Na Uy, Hy Lạp và Canada. Đĩa đơn "XXXO" cũng nằm trong tốp 40 của Bỉ, Tây Ban Nha và Anh. M.I.A. đã thực hiện bốn tour diễn trên toàn cầu; cô cũng là người sáng lập ra hãng truyền thông riêng của cô, N.E.E.T..

Những nhạc phẩm thời kỳ đầu của M.I.A. chủ yếu được dựa trên nhạc cụ điện tử sequencer kiêm drum machine Roland MC-505, trong khi những tác phẩm sau đánh dấu sự phát triển về âm thanh của cô, với cấu trúc đa lớp gồm nhiều nhạc cụ, điện tử và mẫu âm thanh bất thường để tạo nên phong cách âm nhạc avant-garde khác biệt và nổi tiếng của cô. Với ca từ kết hợp những ẩn dụ về chính trị, xã hội, triết học và văn hóa mà bất chấp những quy ước của nhạc pop hiện có, M.I.A. là một trong những nghệ sĩ đầu tiên nhận được sự đón nhận của công chúng qua Internet, sau khi đăng nhiều bài hát và video của cô từ 2002 trở đi lên các trang như MySpace trước khi có sự tồn tại của YouTube.

Bên cạnh sự nghiệp âm nhạc, M.I.A. cũng là nhà từ thiện và nhà hoạt động nhân đạo. Năm 2009, People muốn đưa cô vào danh sách người đẹp nhất thế giới thường niên của họ, nhưng cô là người đầu tiên từ chối trong lịch sử của tạp chí và nói "Mẹ Teresa chưa bao giờ ở trong danh sách." Năm 2001, cô nhận một đề cử của giải Alternative Turner cho các tác phẩm thị giác của cô. Cô cũng từng được đề cử cho một giải Oscar, hai giải Grammy, Giải Mercurygiải Brit. Trong hai năm 2005 và 2008, M.I.A. là Nghệ sĩ của năm do SpinURB bình chọn và M.I.A. cũng được ghi nhận là một trong những nghệ sĩ của thập niê 2000 trong danh sách của Rolling Stone vào tháng 12 năm 2009. Tạp chí Esquire xếp M.I.A. vào vị trí số 75 trong danh sách những người có ảnh hưởng nhất thế kỷ 21 vào tháng 1 năm 2010, và cùng lúc đó Time cũng đưa tên cô vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kennedy, Gerrick D. (ngày 24 tháng 5 năm 2012). “M.I.A. signs deal with Jay-Z's Roc Nation”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012. 
  2. ^ “MIA's baby's name revealed”. Ngày 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012. 

Danh mục sách đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]