Big Bang (ban nhạc Hàn Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Big Bang (빅뱅)
BIGBANG Extraordinary 20's.JPG
(từ trái qua phải) G-Dragon, T.O.P, Seung Ri, TaeyangDaesung
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Hàn Quốc Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên, MC
Thể loại K-pop, Hip hop, rock, dance, electronic, R&B[1][2]
Năm hoạt động 2006–nay
Hãng đĩa YG Entertainment (Hàn Quốc)
Universal Music Japan (Nhật Bản)
Hợp tác với GD & TOP, YG Family, 2NE1, PSY
Website www.ygbigbang.com
Thành viên hiện tại
G-Dragon, T.O.P, Taeyang, Seungri, Daesung

Big Bang (Tiếng Triều Tiên: 빅뱅, Romaja: bikbaeng), thường được viết là BIGBANG, là một nhóm nhạc nam của Hàn Quốc với 5 thành viên thuộc YG Entertainment. Big Bang được biết đến lần đầu tiên qua những tập phim tài liệu ghi lại quá trình hình thành của họ được chiếu trên TV với tựa đề The Big Bang Documentary từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2006. Những tập phim này cũng được phát lại trên GomTV và MTV Hàn Quốc[3]. Thời điểm này nhóm có 6 thành viên, sau đó một thành viên đã phải rời khỏi nhóm (SO-1, Jang Hyun Seung) trong lúc các tập tài liệu đang phát sóng trước khi nhóm chính thức ra mắt[4], để cuối cùng trở thành đội hình 5 thành viên như hiện nay gồm: G-Dragon, T.O.P, Taeyang, DaesungSeungri.

Dưới sự dẫn dắt của YG Entertainment, Big Bang liên tiếp phát hành những chuỗi single và EP nhưng chỉ đạt được những thành công khá khiêm tốn. Nhóm chỉ thật sự đột phá với EP Always ("Luôn luôn") được phát hành vào năm 2007, làm tiền đề cho single số một của họ là "Lies" (Tiếng Triều Tiên: 거짓말; Âm đọc: Geojitmal, Nghĩa: dối trá). Những EP tiếp theo của họ là Hot IssueStand Up tiếp tục khẳng định vị trí của họ trong số những nhóm nhạc hip-hop hàng đầu tại Hàn Quốc[5]. Sau khi được trao giải "Nghệ sĩ của năm" của chương trình Mnet KM Music Festival và giải thưởng "Seoul Gayo Daesang", nhóm mở rộng hoạt động sang thị trường Nhật Bản bằng việc phát hành một số mini album và single được phát sóng trên các kênh truyền thông. Tuy nhiên, những sản phẩm này không có được bất kỳ sự quảng bá nào cho đến khi single thật sự đầu tiên tại Nhật Bản của họ là My Heaven ("Thiên đường của tôi") chính thức ra mắt vào năm kế tiếp.

Cuối năm 2009, Big Bang trở thành tên tuổi nghệ sĩ được tìm kiếm nhiều nhất tại Hàn Quốc[6]. Họ cũng trở thành nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên tại Nhật Bản nhận được giải thưởng của Truyền hình cáp Nhật Bản với hạng mục "Nghệ sĩ mới"[7]. Trong thời gian quảng bá tại Nhật, các thành viên của nhóm bắt đầu dành thời gian cho những hoạt động cá nhân: Taeyang và G-Dragon phát hành các album solo; G-Dragon và T.O.P kết hợp tạo nên GD & TOP; T.O.P, Daesung và Seungri bắt đầu sự nghiệp diễn xuất.

Sau hai năm vắng bóng tại Hàn Quốc, Big Bang trở lại vào năm 2011 với album Tonight. Tuy nhiên các hoạt động quảng bá bất ngờ bị gián đoạn bởi những rắc rối liên quan đến pháp luật của các thành viên. Tháng 11 năm 2011 tại Belfast, Bắc Ailen, Big Bang đại diện cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương tham dự giải thưởng âm nhạc MTV Europe Music Awards 2011 và giành chiến thắng ở hạng mục Best Worldwide Act nhờ 58 triệu lượt phiếu bầu của người hâm mộ.[8] Ba tháng sau chiến thắng tại châu Âu, Big Bang ra mắt album thành công nhất của mình, Alive, album tiếng Hàn đầu tiên được xếp hạng trên Billboard 200,[9] trước khi bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên.


Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

2005-2006: Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Big Bang chính thức ra mắt, mỗi thành viên đều đã có những thành công và sự nổi tiếng nhất định trong ngành công nghệ giải trí. Nhóm trưởng G-Dragon và giọng hát chính Taeyang được đào tạo tại YG Entertainment từ khi cả hai chỉ mới 12 tuổi với nghệ danh là GD và YB. Thành viên T.O.P được biết nhiều qua nghệ danh "T.E.M.P.O" với tư cách là một rapper tiếng tăm trong giới ngầm (underground). Một trong những bài hát nổi tiếng nhất của anh là "Buckwild" hợp tác với NBK Gray. Sau khi G-Dragon được YG Entertainment nhắm đến để trở thành thành viên của một nhóm nhạc nam, G-Dragon liên lạc với T.O.P và đưa anh tới thử giọng.[10] Seungri xuất hiện lần đầu trong series truyền hình thực tế Let's Cokeplay: Mnet Battle Shinhwa, trong đó nhóm nhạc thần tượng Shinhwa tìm kiếm thành viên cho "Shinhwa thế hệ thứ hai." Đội hình ban đầu của Big Bang gồm 6 thành viên: những người vừa đề cập ở trên cùng Daesung và So-1. Việc hình thành nhóm được phát trên TV dưới dạng phim tài liệu.[3] Trước khi nhóm chính thức ra mắt, So-1 bị loại khỏi đội hình.[4]

Big Bang chính thức ra mắt trong chương trình hòa nhạc kỉ niệm 10 năm YG Family, diễn ra tại sân vận động tại Seoul Olympic Park vào ngày 19 tháng 8 năm 2006.[11] Vào ngày 23 tháng 9 năm 2006, nhóm lần đầu xuất hiện trên sóng truyền hình. Trước khi phát hành album đầu tay, Big Bang đã thực hiện một chiến lược rất đặc biệt, phát hành 3 đĩa đơn trong thời gian vài tháng. Đĩa đơn đầu tiên mang tên BIGBANG bao gồm các ca khúc "We Belong Together", hợp tác với nữ ca sĩ của YG Park Bom; "A Fool's Only Tears" (Tiếng Triều Tiên: 눈물뿐인 바보; phiên âm: Nunmulppunin Babo); "This Love", ca khúc được G-Dragon viết và hát lại từ bản gốc của nhóm nhạc Hoa Kỳ Maroon 5[12]. Đĩa đơn vừa ra mắt đã bán được 17.000 bản trong tháng 8[13] và sau đó hơn 40.000 bản tiếp tục được tiêu thụ nhanh chóng[14]. Đĩa đơn thứ hai Bigbang is V.I.P được phát hành sau đó 1 tháng đạt được doanh số 32.000 bản[14]. Đĩa đơn thứ ba và là đĩa đơn cuối cùng B I G B A N G 03 tiếp nối sự thành công của hai đĩa đơn trước với doanh số là 40.000 bản[14] Cuối tháng 12 năm 2006, Big Bang tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên mang tên The Real. Tháng tiếp theo, album đầu tay Since 2007, tổng hợp những ca khúc trong những single trước đó được phát hành; cuối tháng 2 năm 2007, album đạt được doanh số 48.000 bản[14]

2007-2008: Đột phá và khởi đầu tại Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Big Bang tại Thái Lan

Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Big Bang phát hành album trích từ buổi hòa nhạc The First / Real Live Concert, bán được 30.000 bản tính đến thời điểm cuối năm 2007[15]. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2007, nhóm tổ chức tour diễn vòng quanh Hàn Quốc với tên Want You, đi qua 5 thành phố: Incheon, Daegu, Changwon, JeonjuBusan[16].

Tháng 8, nhóm tổ chức một buổi họp fan để quảng bá cho những hoạt động tiếp theo, và một trong số đó là phát hành mini album đầu tiên Always. G-Dragon đã tham gia sáng tác và sản xuất các ca khúc cho Big Bang từ những ngày đầu debut, album này cũng không ngoại lệ. Mini album sau khi phát hành đã nhận được phản hồi tích cực từ fan và giới phê bình, đặc biệt cho ca khúc "Lies"[17]. "Lies" (Tiếng Triều Tiên: 거짓말; Phiên âm: Geojitmal) trở thành ca khúc hit đột phá đầu tiên của nhóm, vươn đến vị trí số 1 của các bảng xếp hạng Hit Songs của đài SBS, tiếp đến là Music Core của đài MBC, Music Bank của đài KBSM Countdown của kênh Mnet bên cạnh vô số những bảng xếp hạng online và offline trong 8 tuần liên tiếp.

Mini album cũng thu về cho Big Bang rất nhiều giải thưởng vào cuối năm 2007, bao gồm "Nhóm nhạc nam hay nhất" và "Ca khúc của năm" của giải thưởng MNET KM Music Festival 2007[18]. Cũng trong năm 2008, Big Bang đoạt luôn giải thưởng "Daesang" danh tiếng trong lễ trao giải Seoul Music lần thứ 17[19]. Cú hít "Lies" đã đưa Big Bang lên một trong những nhóm nhạc số 1 Hàn Quốc.

Mini album thứ hai Hot Issue được phát hành vài tháng sau mang lại cho nhóm một hit lớn khác là "Last Farewell" ("마지막 인사"; Phiên âm: Majimak Insa). Ca khúc phản ánh được sức thành công của "Lies", đứng đầu trên các bảng xếp hạng, và thắng giải "Ca khúc của tháng" trong giải thưởng "Digital Music Award" của đài Cyworld, qua mặt các đối thủ rất mạnh như Wonder GirlsF.T. Island. Ca khúc cũng đứng đầu bảng xếp hạng của Juke-On trong 8 tuần liên tiếp[20]. Sau đó nhóm tiếp tục tổ chức buổi hòa nhạc thứ hai từ 28 đến 30 tháng 12 năm 2007 mang tên Big Bang Is Great. Vé của chương trình này được bán sạch chỉ sau 10 phút[21], bất kể sự hạn chế trong khâu quảng bá do các thành viên của nhóm phải nhập viện vì bệnh và chấn thương trong biểu diễn và vì kiệt sức[22]. Sau đó, đại diện của YG Entertainment thông báo rằng Big Bang sẽ biểu diễn trong MBC Music Festival vào ngày 31, nhưng tất cả những buổi biểu diễn khác trong tuần đầu tiên của năm sau sẽ bị hủy bỏ. Cũng trong năm này, những album và single của Big Bang đều được yêu cầu rất cao, vì lý do đó, công ty quản lý đã phải tái bản tất cả[23].

Sau khi thành công rực rỡ tại Hàn Quốc, Big Bang nhắm đến thị trường ngoài nước, cụ thể là Nhật Bản. Đầu năm 2008, album tiếng Nhật đầu tiên của họ For the World gồm những single tiếng Hàn trước đó và ca khúc tiếng Nhật "How Gee" (phiên bản remix mới của "How Gee" được trình diễn trước đó bởi nhóm nhạc Nhật Bản Black Machine).[25] For The World ngay khi phát hành đã chiếm lấy hạng 14 trong bảng xếp hạng Oricon và cuối cùng leo lên được vị trí thứ 10, dù không hề có chương trình quảng bá nào[26]. Ngày 28 và 29 tháng 3, Big Bang tổ chức hòa nhạc tại JCB Hall, Tokyo Dome City. Nhóm cũng phát hành một mini album bằng tiếng Nhật vào cuối tháng 5 mang tên With U, cùng với một single cùng tên.

Big Bang trở lại Hàn Quốc vào giữa năm 2008 sau khi kết thúc hoạt động của họ tại Nhật. Dù hoạt động của nhóm phải bị dời lại nhiều lần do các hoạt động solo của các thành viên, cuối cùng Big Bang cũng phát hành mini album thứ 3 Stand Up - kết hợp với DJ Daishi Dance, và nhóm nhạc rock Hàn Quốc No Brain trong single punk rock "Oh My Friend". Ca khúc đầu tiên của album được phát hành là "Day By Day" (Tiếng Triều Tiên: 하루하루"; Phiên âm: Haru Haru). Tương tự những album trước, trưởng nhóm G-Dragon tham gia phần lớn trong việc sản xuất album bằng việc hòa âm và viết phần lớn ca khúc trong album ngoại trừ "A Good Man", được viết bởi T.O.P. Mini album tiếp tục gặt hái thành công với doanh số đạt 100.000 bản và tạo ra một vài trong số những single hay hất của nhóm, với ca khúc chủ đạo "Day By Day" đứng đầu nhiều bảng xếp hạng online và giữ vị trí số một trong 6 tuần liên tiếp.[24][27] Bên cạnh đó, một số ca khúc của họ cũng lọt vào top 20 của bảng xếp hạng như "Heaven" ở hạng 2, "Oh My Friend" hạng 9, "A Good Man" hạng 12 và "Lady" hạng 16 - cả 5 ca khúc của một nhóm nhạc trong top 20.[28]

Cùng thời điểm, Big Bang cũng phát hành ca khúc tiếng Nhật "Number 1" trong album cùng tên và giới thiệu ca khúc này trên một số chương trình radio và TV của Nhật. Album đã đạt được hạng 3 trong bảng xếp hạng album hằng ngày Oricon. Cuối năm 2008, Big Bang phát hành album tiếp theo Remember, với ca khúc "Sunset Glow" (Tiếng Triều Tiên: 붉은노을; Phiên âm: Byulkeun Noeul) giữ hạng nhất trên rất nhiều bảng xếp hạng tại Hàn Quốc. "Strong Baby" do Seungri thể hiện được phát hành làm single thứ hai trong album. Album sau đó bán được trên 200.000 bản.[28] Cuối năm 2008, Big Bang lần thứ 2 giành được giải "Nghệ sĩ của năm" tại lễ trao giải MNET KM Music Festival Awards 2008[29]. Cuối năm 2008, doanh thu của Big Bang vào khoảng 36 tỉ won (tương đương 24,5 triệu đô la Mỹ).[30]

2009-2011: Các hoạt động solo, hoạt động tại Nhật và Tonight[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2009, Big Bang tạm ngừng hoạt động để các thành viên dành thời gian cho các hoạt động solo. Trong thời gian này, nhóm hợp tác trong ca khúc "Lollipop" với 2NE1, nhóm nhạc nữ mới của cùng công ty YG Entertainment cũng được biết với tên gọi "Big Bang nữ".[31] Cả 2 nhóm đã cùng nhau thực hiện video clip cho ca khúc này. Dù chỉ là một ca khúc được dùng trong mẩu quảng cáo điện thoại di động, nhưng nó đã leo lên hạng nhất của nhiều bảng xếp hạng online[32][33].Thậm chí bài hát còn đạt được vị trí thứ 3 trong chương trình KBS Music Bank, điều mà chưa một bài hát quảng cáo nào làm được trước đó. Big Bang cũng ra mắt ca khúc quảng cáo "So Fresh, So Cool" cho hãng bia "Hite"; mặc dù vậy Seungri không được phép xuất hiện trong ca khúc này vì chưa đủ tuổi được phép uống bia.[34]

Sau thành công với "Lollipop", Big Bang phát hành single tiếng Nhật đầu tiên "My Heaven" vào tháng 5 năm 2009, được xem như sự ra mắt chính thức tại Nhật. Ca khúc là bản dịch tiếng Nhật từ ca khúc "Heaven" (Tiếng Triều Tiên: 천국; Phiên âm: Cheonguk) trong EP Stand Up của họ, được sáng tác bởi Daishi Dance. Nhờ vào chiến lược quảng bá thú vị khi Big Bang được trình diễn trong một số chương trình tin tức buổi sáng mà single ngay khi ra mắt đã đạt được vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Oricon một cách bất ngờ.[35] Ngày 8 tháng 7 năm 2009, Big Bang phát hành single tiếng Nhật thứ hai mang tên "ガラガラ GO!!" (Gara Gara Go!) đạt được vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng Oricon.[36]. "Gara Gara Go!" đánh dấu những màn biểu diễn đầu tiên của Big Bang trên sân khấu Nhật như Hey!Hey!Hey! Music Champ và Music Station. Trước sự thành công của hai single tiếng Nhật, Big Bang phát hành album tiếng Nhật đầu tiên Big Bang dưới sự hỗ trợ của Universal Music, đưa Big Bang vào bảng xếp hạng ở vị trí thứ 3.[37]

Gần như ngay sau khi phát hành album, Big Bang trở về Hàn Quốc và bắt tay vào các hoạt động cá nhân. Vào ngày 18 tháng 8, G-Dragon phát hành album solo mang tên Heartbreaker. Album sau đó giành giải "Album của năm" tại Mnet Asian Music Awards 2009 cũng như tiêu thụ được trên 210.000 bản.[38] Taeyang phát hành hai đĩa đơn, "Where U At?" và "Wedding Dress" để quảng bá cho album thứ hai chuẩn bị ra mắt vào năm 2010.[39] T.O.P gia nhập dàn diễn viên của bộ phim truyền hình Hàn Quốc Iris trong vai sát thủ Vick.[40] Daesung và Seungri tìm niềm cảm cho riêng mình trong các lĩnh vực đóng kịch và dẫn chương trình. Ngày 15 tháng 10 năm 2009, Big Bang công bố sự tái hợp đầu tiên của cả nhóm trong ca khúc chính của một bộ phim truyền hình Nhật Ohitorisama (おひとりさま, Một người) mang tên "Koe wo Kikasete" (声をきかせて, Let Me Hear Your Voice, Hãy để tôi nghe giọng nói của em)[16][41][42]. Sau đó ngày 4 tháng 11 năm 2009, Big Bang chính thức phát hành ca khúc này dưới dạng single và đạt được vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Oricon[43].

Những ngày đầu tiên của tháng 1 năm 2010, Big Bang tổ chức liveconcert Big Show 2010[44] tại Sân vận động Olympic Seoul[45]. Tháng kế tiếp, Big Bang bắt tay vào tour diễn Electric Love tại Nhật[46]. Trở lại vào tháng 2, Big Bang phát hành "Lollipop 2", phần tiếp theo của single "Lollipop" đầu tiên hát cùng 2NE1. Cả 2 ca khúc này đều có mục đích giống nhau là quảng cáo cho dòng điện thoại Lollipop của LG Cyon[47]. Ca khúc này cũng đã đứng đầu một số bảng xếp hạng online[48]. Đĩa dơn tiếp theo của nhóm, "Tell Me Goodbye", được thu âm cho đợt phát hành lại của phim truyền hình Iris tại Nhật Bản.[49] Bài hát trở nên nổi tiếng và nhận nhiều phản hồi và đánh giá tích cực,[49] cũng như giành giải "Bài hát của năm" tại lễ trao giải Japan Record Awards.[50] Thêm vào đó để cổ động cho đội tuyển Hàn Quốc tại World Cup 2010, nhóm phát hành ca khúc "Shout of the Reds" với sự góp mặt của nhóm nhạc rock Transfixion và vận động viên trượt băng nghệ thuật Kim Yuna.[51]

Trong phần còn lại của năm 2010 nhóm chủ yếu tập trung vào các hoạt động cá nhân,[52] bao gồm sự ra mắt của bộ đôi GD & TOP cùng album hợp tác đầu tay cũng như EP đầu tiên của Seungri mang tên VVIP.[53] Big Bang cũng giành được một số giải thưởng đáng chú ý trong đó có giải "5 Nghệ sĩ mới xuất săc nhất" và "Nghệ sĩ mới xuất nhất" tại lễ trao giải Japan Gold Disc Awards lần thứ 24[54][55]. Gần cuối tháng 5 năm 2010, nhóm nhận giải "Video Pop xuất sắc nhất" and "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" tại MTV Video Music Awards Japan 2010.[56] Nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật cuối cùng mang tên "Beautiful Hangover" vào ngày 25 tháng 8 năm 2010.[57]

Sau hai không hoạt động cùng nhau tại Hàn Quốc, Big Bang trở lại đây với concert Big Show 2011[58] và trình diễn các ca khúc mới trong EP sắp ra mắt sau đó mang tên Tonight.[59] Album có lượng đặt trước lên tới 10.000 bản trên in Cyworld, đánh bại kỉ lục 6.500 bản của TVXQ năm 2008,[60] và bán được trên 100.000 bản trong tuần đầu tiên.[61] Album nhận được nhiều phản hồi tích cực khi Choi Jun của Asiae khen ngợi hướng đi mới trong âm nhạc của nhóm, cho rằng sau hai năm vắng bóng, "phong cách và khả năng cảm thụ âm nhạc [của nhóm] đã trở nên sâu sắc hơn."[62] Bảy ngày sau khi EP ra mắt, Big Bang đã kiếm về cho mình 7 tỉ won (tương đương 6,6 triệu đô la Mỹ).[63] Singe chủ đạo "Tonight" giành vị trí số một trên Gaon Chart.[64] Sau khi đợt quảng bá cho Tonight kết thúc, Big Bang phát hành album phiên bản đặc biệt với hai track mới: "Love Song" và "Stupid Liar". Video âm nhạc của "Love Song" trên YouTube đạt 2 triệu lượt xem chỉ trong hai ngày.[65] Nhóm cung bắt đầu chuyến lưu diễn Love & Hope Tour vào tháng 5 năm 2011.[66]

Big Bang giành giải "Best Worldwide Act" tại MTV EMA 2011 với tư cách là đại diện của châu Á-Thái Bình Dương nhờ nhận được trên 58 lượt bầu chọn.[67] Họ cũng giành giải "Video âm nhạc xuất sắc nhất" với "Love Song" tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards 2011. Nhóm tham gia vào chuyến lưu diễn YG Family Concert Tour 2011 kỉ niệm 15 năm thành lập YG Entertainment. Sau đó vào ngày 14 tháng 12, nhóm tiếp tục phát hành album tổng hợp các ca khúc hay nhất bằng tiếng Nhật có tên The Best of Big Bang, trong đó đáng chú ý là phiên bản tiếng Nhật của bản hit số một "Haru Haru". Album thống trị ở ngôi vị số một trên bảng xếp hạng Oricon Daily ngay trong ngày đầu phát hành và bán ra được 14.000 bản trong tuần đầu tiên và chứng tỏ sức hút không đổi của họ. Các báo cáo cho biết Big Bang kiếm được 88 tỉ won (84,5 triệu đô la) vào năm 2011 dù chỉ quảng bá trong nửa năm. Khoản thu trên bao gồm cả doanh thu từ Big Bang Show trên kênh SBS, Big Show Concert 2011 và Love and Hope Tour ở Nhật Bản.

2012–2014: Alive, chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên và các hoạt động solo[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ 20 tháng 1 năm 2012, YG Entertainment tung ra các teaser cho EP thứ 5 của Big Bang Alive. EP được chính thức ra mắt vào ngày 29 tháng 2 năm 2012 dưới định dạng số và đĩa CD.[68] Lượng đặt trước cho Alive đạt mốc 260.000 bản trong hai tuần.[69] Đĩa đơn chủ đạo "Blue" được phát hành một tuần trước khi album ra mắt và đạt vị trí số một trên tất cả các bảng xếp hạng trong nước. EP tỏ ra rất thành công trên lĩnh vưc thương mại, bán ra trên 200.000 bản trong tháng đầu lên kệ.[70] Big Bang giành được 5 vị trí trong Top 10 bảng xếp hạng Billboard K-pop's Hot 100 và đạt vị trí thứ 150 trên Billboard 200, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên với một album tiếng Hàn làm được điều này.[71] Sự nổi tiếng của nhóm còn đưa họ tới với vị trí thứ 24 trên BXH Billboard Social 50. Nhóm sau đó cũng đạt được sự công nhận từ các trang mạng như tạp chí Time,[72] và có mặt trong một bức ảnh trên trang chủ giải Grammy.[73]

Trung với thời điểm ra mắt album, Big Show 2012 được tổ chức tại sân vận động Seoul Olympic Park từ 2–4 tháng 3 và đạt tổng số vé bán được lên đến 40.000.[74] Ba buổi diễn này cũng chính thức khởi động chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên Big Bang Alive Galaxy Tour 2012 hợp tác với Live Nation.[75] Tour diễn được đạo diễn bởi biên đạo Laurieann Gibson và đưa nhóm nhạc Hàn Quốc tới với 21 thành phố tại 13 quốc gia.[74] Những hình ảnh tại Big Show được phát sóng tại 160 quốc gia thông qua MTV World Stage, góp phần quảng bá chuyến lưu diễn và hình ảnh của Big Bang tới toàn thế giới. Vào ngày 6 tháng 3 năm 2012, video âm nhạc của "Fantastic Baby" dược đăng tải trên YouTube và trở thành video đạt dược nhiều lượt xem nhất của Big Bang với trên 150 lượt xem tính tới tháng 7 năm 2015.[76]

Phiên bản tiếng Nhật của Alive được ra mắt vào ngày 28 tháng 3 năm 2012 cùng với hai bài hát tiếng Nhật mới. Phiên bản đĩa cứng của album bao gồm thêm cả phiên bản tiếng Nhật của Haru Haru.[77] Album bán ra trên 23.000 bản vào ngày đầu ra mắt và đạt đỉnh ở vị trí số 2 trên bảng xếp hạng Oricon.[78] Album cuối cùng bán được tất cả trên 200.000 bản[79] và được chứng nhận vàng bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Nhật Bản.[78] Các hoạt động quảng bá tại Nhật bắt đầu bằng màn trình diễn tại Springroove Festival 2012 cùng các nghệ sĩ hip hop hàng đầu của Hoa Kỳ và Nhật Bản. Big Bang cùng 2NE1 là những nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên được mời tới lễ hội âm nhạc này.[80] Sau sự trở lại hết sức thành công, Big Bang phát hành album phiên bản đặc biệt mang tên Still Alive vào ngày 3 tháng 6 năm 2012. Album bao gồm hai ca khúc mới trong đó có bài hát chủ đề "Monster", cũng như phiên bản tiếng Hàn của hai track trong Alive. Album bán được trên 100.000 bản trong tháng đầu tiên phát hành.[79] Phiên bản Monster của album tiếng Nhật Alive cũng ra mắt vào ngày 20 tháng 6 năm 2012.

Big Bang biểu diễn trong Alive Tour

Thành công của phiên bản đặc biệt cũng giúp họ có được thêm sự công nhận trên toàn thế giới, đưa nhóm tới vị trí số #11 trên bảng xếp hạng Billboard Social 50.[81] Nhóm tập trung phần còn lại của năm 2012 vào tour diễn tại các quốc gia: Nhật Bản (tháng 5 tới tháng 6), Trung Quốc (tháng 7 tới tháng 8), Đông Nam Á (tháng 9 tới tháng 10), châu Mỹ (tháng 11). Sau châu Mỹ, nhóm trở lại Nhật để tham gia "Special Final in Dome Tour", dừng chân tại một số sân vận động lớn tại Nhật trong đó có Osaka Dome, Tokyo Dome và Fukuoka Dome. Big Bang cũng biểu diễn tại Hong Kong và Anh vào tháng 12 năm 2012. Ban đầu chỉ có một buổi diễn ở Luân Đôn nhưng vì nhu cầu gia tăng nên một buổi diễn nữa đã được tổ chức. Nhóm kết thúc chuyến lưu diễn tại Osaka vào giữa tháng 1 năm 2013 cũng như ba buổi biểu diễn tại Olympic Gymnastics Arena ở Seoul sau đó một tháng. Vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, Big Bang nhận tổng cộng ba giải tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 14, trong đó có Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất và Nghệ sĩ của năm. G-Dragon cũng mang về cho riêng mình giải Nam nghệ sĩ solo xuất sắc nhất.[82] Họ cũng giành giải ở hạng mục Best Fan tại TRL Awards của Ý.[83]

Trong hai năm 2013 và 2014 các thành viên dừng các hoạt động nhóm để tập trung vào các hoạt động cá nhân, bao gồm album đầu tiên của Daesung, D'scover; EP thứ hai của Seungri, Let's Talk About Love, album phòng thu thứ hai của G-Dragon, Coup D'Etat và album thứ hai của Taeyang, Rise. T.O.P tham gia vào bộ phim điện ảnh The Commitment cũng như phát hành ca khúc "Doom Dada".

2015: MADE[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng tư năm 2015 YG Entertainment ra thông báo về sự trở lại của Big Bang với album tiếp theo mang tên Made sẽ được phát hành vào ngày 1 tháng 9 năm 2015. Trước đó, các "đĩa đơn dự án" trong album sẽ được phát hành vào ngày đầu tiên của mỗi tháng bắt đầu từ 1 tháng 5 với "M" và sau đó là "A", "D" và "E".[84]

Vào ngày 1 tháng 5, nhóm phát hành các đĩa đơn "Loser" và "Bae Bae" trong album đĩa đơn M. "Loser" xếp ở vị trí số 1 và "Bae Bae" xếp ngay sau ở vị trí số 2 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[85] Video âm nhạc cho "Loser" thu hút được 4,3 triệu lượt xem trong ngày đầu đăng tải, con số cao nhất từng có cho một video âm nhạc K-pop. M đứng ở vị trí số một trên BXH “Top 100 Album bán chạy nhất” của Gaon trong tuần cuối cùng của tháng tư (2 tháng 5).

Vào ngày 1 tháng 6, album đĩa đơn thứ hai A được phát hành bao gồm hai ca khúc “BANG BANG BANG” và “WE LIKE 2 PARTY”. Theo Billboard, 11 tháng 6, “BANG BANG BANG” and “WE LIKE 2 PARTY” tiếp tục giành vị trí số một và hai trên bảng xếp hạng World Digital Songs.[86] 4 bài hát mới của Big Bang cũng chiếm cổng âm nhạc trực tuyến lớn nhất Trung Quốc, QQ Music. “BANG BANG BANG” và “WE LIKE 2 PARTY” ra mắt tại Trung Quốc lần lượt ở vị trí thứ 1 và thứ 2. “Loser” ra mắt vào tháng 5 đứng ở vị trí thứ 3. QQ Music, “BANG BANG BANG” và “WE LIKE 2 PARTY” đứng ở vị trí thứ 1 và thứ 2 trong khi “Loser” và “Bae Bae” ở ở vị trí thứ 3 và thứ 6.[87] Vào ngày 25/6, các video đã ra mắt đạt tổng lượt xem vượt mốc 100 triệu trên YouTube.[88] Ngoài ra, "BANG BANG BANG" cũng đã vượt qua "Love Me Right" của EXO tại M Countdown để giành vị trí số 1.

Vào ngày 1 tháng 7, album đĩa đơn thứ ba D được phát hành bao gồm hai bài hát "If You" và "Sober". Trên bảng xếp hạng video của QQ Music, "Sober" chiếm lấy vị trí số một của "BANG BANG BANG".[89]

Vào ngày 1 tháng 8, album đĩa đơn thứ bốn E được phát hành bao gồm 2 bài hát "Let's Not Fall In Love" và "Zutter" (GD&TOP). Trong chương trình Music Core, mặc dù không biểu diễn vì bận lưu diễn nhưng Big Bang vẫn xuất sắc vượt qua ShinEEWonder Girls để giành giải quán quân.

Phong cách và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách âm nhạc của Big Bang những ngày đầu phần lớn là hip hop, kèm theo một ít ảnh hưởng của R&B. Một cây viết của trang Yahoo! Nhật Bản từng so sánh các bài hát thời kì đầu của họ với các nghệ sĩ hip-hop như The Black Eyed Peas và bình luận rằng chất liệu âm nhạc của họ bao gồm "giọng hát lôi cuốn, [...] rap và cá tính".[90] Always được coi là bước thay đổi về phong cách âm nhạc khi hướng đến những thử nghiệm với dòng nhạc điện tử và đặt nền móng để dòng nhạc này trở thành xu hướng mới tại Hàn Quốc.[91] G-Dragon sau đó khẳng định họ muốn "thu hút nhiều người hâm mộ hơn" với hướng đi mới.[92] Vào năm 2008, "Oh My Friend", một ca khúc nhạc rock hợp tác với nhóm nhạc rock Hàn Quốc No Brain.[93] Trong một cuộc phỏng vấn, nhóm cũng bày tỏ mong muốn thử sức với dòng nhạc trot.[94] Alive thậm chí còn mang tính "thử nghiệm" hơn các sản phẩm âm nhạc trước,[95] với "Bad Boy" được miêu tả là "đầy hoài niệm".[96] EP này cũng được khen ngợi nhờ phô diễn được chất giọng của nhóm thay vì sử dụng autotune như thường lệ.[95]

Các thành viên của nhóm cũng tìm cho riêng họ những phong cách khác nhau khi hoạt động solo vì vậy mà nhóm được miêu tả la "đa dạng" đối với người hâm mộ.[90] EP của Taeyang, Hot, là một tuyển tập các ca khúc R&B và anh cũng cho rằng đây là thể loại mà anh quan tâm chủ yếu.[97] Đĩa đơn kĩ thuật số đầu tiên của Daesung, "Look at Me, GwiSoon" (Tiếng Triều Tiên: 날 봐, 귀순, phiên âm: Nal Bwa Gwisun), là một bài hát nhạc trot, đã thu hút nhiều ý kiến phê bình bởi nó không giống với hình ảnh "những nghệ sĩ hip-hop" thường thấy của Big Bang.[98] Đối với album Heartbreaker, G-Dragon hoà trộn giữa dance, hip-hop, và R&B.[99] Justin McCurry của tờ The Guardian nhận xét rằng "mỗi thành viên có một vẻ riêng, và phạm vi âm nhạc của họ đa dạng như nhau, bao gồm R&B, hip-hop, house, electro và pop."[100] Nhà sản xuất và rapper Cho PD đánh giá cao cách "các ca sĩ thần tượng như Big Bang sở hữu khả năng trở thành những nghệ sĩ thực thụ." Anh đặc biệt thích G-Dragon, nói về việc "bằng nhiều cách Big Bang thoát khỏi cái bóng thần tượng với những khả năng nghệ sĩ mà họ có", chỉ ra rằng "G-Dragon có thể coi là đại diện điển hình cho điều này".[101][102]

Nhóm còn được biết đến với việc kiếm soát tốt sự nghiệp của mình và tự mình đóng góp vào quá trình sản xuất âm nhạc.[95] G-Dragon bắt đầu tham gia viết lời và nhạc cho các bài hát "Lies", "Last Farewell", và "Day by Day". Chính G-Dragon miêu tả Big Bang là "một nhóm nhạc thần tượng ra đời không phải vì tài năng mà nhờ nỗ lực".[103] Yahoo! Nhật Bản khen ngợi nhóm vì sự đóng góp của họ vào sản phẩm âm nhạc của chính mình và "có lẽ nhờ việc [mỗi thành viên] đóng góp vào chất liệu âm nhạc của họ nên nhóm không chỉ trở nên vô cùng ăn ý với nhau, mà mỗi cá nhân còn trở nên nổi bật hơn."[90]

Big Bang biểu diễn vào năm 2011

Sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Big Bang được biết đến với sự dàn dựng sân khấu hoành tráng cộng với vũ đạo, trang phục và đạo cụ hỗ trợ sân khấu. Trước đây họ từng dựa chủ yếu vào các điệu nhảy đường phố nhưng giờ đây Big Bang đã chuyển mình và trình diễn những vũ đạo chuyên nghiệp hơn. Các điệu nhảy của nhóm được giới trẻ học theo và bắt chước lại ví dụ điệu nhảy vén áo để lộ phần bụng[104] hay điệu nhảy "nhảy dây" cũng gây sự chú ý lớn.[105]

Jon Caramanica của The New York Times miêu tả buổi biểu Big Bang tại New Jersey là "trái tim hoang dại đích thực của K-pop", nhấn mạnh trang phục sáng màu, vũ đạo và màn trình diễn sân khấu của họ.[106] Buổi biểu diễn của họ xếp số 1 trong top 3 buổi biểu diễn tại Mall of Asia Arena của Philippines năm 2012.[107] So với các nghệ sĩ như Justin BieberOne Direction, khả năng trình diễn của Big Bang được đánh giá là có "những góc cạnh [...] sinh động hơn, âm thanh sôi động hơn, vũ đạo sắc nét hơn."[108] Buổi diễn của nhóm tại Prudential Center, Newark được New York Times xếp thứ ba trong danh sách các buổi biểu diễn hay nhât năm 2012.[109] Vào tháng 3 năm 2012, Krista Mahr, phóng viên khu vực Nam Á của Time miêu tả nhóm như "những vị thần K-pop" nhờ sự hiện diện của họ trên sân khấu Olympic Gymnastics Arena ở Seoul.[72]

Hình ảnh và sự ảnh hưởng văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Big Bang nhận được cả những lời khen ngợi lẫn những lời phê bình. Khi tấn công vào thị trường Nhật Bản, Time đánh giá họ là một trong số các nghệ sĩ Hàn Quốc hứa hẹn tiến sâu được vào đất nước này,[16] trong khi tờ Korea Times gọi họ là những "biểu tượng [nhạc] pop Hàn Quốc".[110] Năm 2011, BBC cho rằng "các ban nhạc K-pop, trong đó có Big Bang, đang trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới", đánh giá cao đóng góp của nhóm vào doanh thu và lợi nhuận của YG Entertainment.[111]

Trong khi tờ The Vancouver Sun miêu tả nhóm là "nhóm nhạc nam gồm năm mảnh ghép cực kì cá tính tới từ Hàn Quốc",[112] hãng thông tấn tài chính Hoa Kỳ CNBC lại đánh giá họ "nhóm nhạc được chọn lựa cẩn thận, đào tạo bài bản", và là những người có cách sử dụng "âm điệu pop tổng hợp, những bộ trang phục hào nhoáng và cách làm video nghệ thuật" đang góp phần đưa K-pop tới gần hơn với nền âm nhạc toàn cầu.[113] Sau khi nhóm giành chiến thắng tại MTV Europe Music Award cho hạng mục "Best Worldwide Act",[114] Google thông báo YouTube sẽ có riêng một kênh K-pop để tôn vinh sự thành công của K-pop.[115] Tờ báo hàng ngày của Anh The Guardian cũng cho ra một bài viết nói về tầm quan trọng của chiến thắng này và nhận xét nó đã "chiếu ánh sáng soi đường cho sự đi lên của âm nhạc Hàn Quốc tại châu Âu."[116] Nhóm cũng thu hút sự chú ý của các nghệ sĩ như Jill Scott,[117] Pixie Lott,[118] A*M*E,[119] Dakota Fanning,[120] Nelly Furtado,[121] và Grimes. Grimes nói rằng K-pop ảnh hưởng đên âm nhạc của cô "rõ ràng hơn bất kỳ điều gì",[122] đặc biệt là G-Dragon.[122][123]

Nhóm từng nhắc tới Shinhwa, ban nhạc tồn tại lâu nhất tại Hàn Quốc, là những người được coi là hình mẫu và có ảnh hưởng lớn tới phong cách của mình.[124] Tuy nhiên ảnh hưởng của riêng Big Bang vượt ra ngoài nền công nghiệp âm nhạc, tạo ra những xu hướng lớn trong ngành thời trang.[5] Phong cách của họ, được biết đến với tên gọi "thời trang Big Bang", được quan tâm trên toàn châu Á.[125] Nhóm chọn hình ảnh "hip-hop" làm chủ đề cho màn ra mắt. Việc ra mắt EP Always năm 2007 đi cùng sự thay đổi về hình ảnh khi nhóm hướng về một phong cách preppy-punk hơn, bao gồm quần jeans bó với những đôi Converse hay giày sneaker cao cổ, những thứ vẫn thịnh hành tại Hàn Quốc. Taeyang cũng chuyển từ mái tóc bím sát da đầu sang kiểu tóc mohawk.[126] Ngoài thường mặc các trang phục của các nhãn hiệu như Bape, 10 deep, Louis Vuitton, Jeremy Scott và Phenomenon, Big Bang cũng hay mặc nhữn chiếc áo hoody trong các buổi biểu diễn và các video âm nhạc.[125] Họ cũng được biết đến nhờ đưa thời trang "ngày xưa" trở về với trào lưu đại chúng như những đôi giày high-top của NikeReebok.[127] Được coi là "thời trang nhất" trong số các thành viên của nhóm,[128] G-Dragon nổi tiếng với khăn quàng cổ tam giác, thứ sau được đó đặt tên là "khăn quàng Big Bang".[125] T.O.P cũng gây chú ý nhờ iệc đeo những chiếc kính râm khi biểu diễn.[125] Trang phục mà các thành viên mặc trên sân khấu cũng trở thành mốt trong cộng đòng người hâm mộ và được bán tại các cửa hàng tại Dong Dae Mun.[30] Vào năm 2011, Big Bang hợp tác với thương hiệu thời trang Nhật Bản Uniqlo thiết kế ra những chiếc áo t-shirt để quảng bá cho màn trở lại Nhật của họ. Các sản phẩm "được bán hết chỉ trong 15 phút kể từ lúc cửa hàng mở cửa."[129] Mặc dù nhóm, đặc biệt là G-Dragon, đựoc coi là biểu tượng thời trang khi thu hút sự quan tâm của các nhà thiết kế phương Tây,[130][131][132] họ cũng bị chỉ trích vì lạm dụng văn hóa hip-hop, đặc biệt về cách lựa chọn quần áo, phối màu và các kiểu tóc những ngày đầu sự nghiệp.[133]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật: Kwon Ji Yong Sinh ngày: 18/8/1988 Vị trí: Trưởng nhóm, Hát, Rapper chính, Phát ngôn của nhóm

Tên thật: Dong Young Bae Sinh ngày: 18/5/1988 Vị trí: Hát, nhảy chính.

Tên thật: Choi Seung Hyun Sinh ngày: 4/11/1987 Vị trí: Rapper chính.

Tên thật: Kang Dae Sung Sinh ngày: 26/4/1989 Vị trí: Hát chính

Tên thật: Lee Seung Hyun Sinh ngày: 12/12/1990 Vị trí: Hát, nhảy

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Big Bang đạt được nhiều thành tựu và giải thưởng, thiết lập nhiều kỉ lục tại Hàn Quốc.Thành công đầu tiên của họ đến với "Lies", ca khúc giữ vị trí trên bảng xếp hạng Melon trog hơn 54 tuần, và sau đó là "Last Farewell", ca khúc đứng đầu nhiều bảng xếp hạng như Juke-On (trong 8 tuần liên tiếp).[20] "Day by Day", ca khúc trứ danh của nhóm, đứng đầu nhiều bảng xếp hạng trong 6 tuần liên tục.[134] Họ giành giải "Nghệ sĩ của năm" tại Seoul Music Awards lần thứ 17 vào năm 2007.[19] Thành công của họ tại Hàn Quốc được tiếp tục lặp lại tại Nhật Bản khi nhóm giành nhiều giải "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" trong những ngày đầu tại sự đây.[50][54][56]

Album Tonight trở thành album K-pop đầu tiên lọt vào Top 10 trên bảng xếp hạng iTunes Hoa Kỳ là album duy nhất không phải album tiếng Anh trong Top 100.[135] Với lượng đặt trước 10.000 bản trên Cyworld, Big Bang đánh bại kỉ lục của 6,500 bản TVXQ năm 2008.[60] Nhờ việc giành chiến thắng giải "Best Worldwide Act" tại MTV EMA 2011, Big Bang trở thành một biểu tượng toàn cầu.[67] Thêm vào đó buổi biểu diễn năm 2012 cũng đạt kỉ lục về số lượng bán vé tại Đài Loan.[136] Vào năm 2014, họ đứng thứ 2 trong Top 10 người nổi tiếng của Forbes Hàn Quốc năm 2014.[137]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Big Bang to Perform 'Alive Galaxy Tour' in New Jersey, 'Most Potential to Succeed in the U.S.'”. KpopStarz. 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ Fujimori, Sachi (8 tháng 11 năm 2012). “Leading up to its Newark shows, is Big Bang ready to bring K-pop to the U.S.?”. NorthJersey. The Record. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă “Big Bang”. KBS World. Truy cập 15 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ a ă (tiếng Triều Tiên) “'준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고”. Sports Chosun. 7 tháng 7 năm 2006. Truy cập 15 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ a ă Han, Sang-hee (3 tháng 1 năm 2008). “Big Bang Will Knock on Japan”. The Korea Times. Truy cập 27 tháng 1 năm 2008. 
  6. ^ (tiếng Triều Tiên) “빅뱅, 올해 최고의 인기 검색어 1위” (bằng tiếng Triều Tiên). Sports Chosun. 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập 17 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ “Korean boy bands taking Japan by storm”. Korea.net. 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập 17 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ Frost, Caroline (11 tháng 7 năm 2011). “MTV EMA Awards: Britney Spears Loses Out To BIGBANG, Lady Gaga, Justin Bieber, Bruno Mars, Eminem All Winners”. The Huffington Post. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ “Big Bang's 'Alive' charts on the Billboard 200”. Allkpop. 9 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ Park, So-youn (2 tháng 2 năm 2010). “[新스타고백]지드래곤⑤아이돌그룹 활동, 망설였다 - 아시아경제”. Asiae. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  11. ^ “올 최고 기대주 빅뱅, 9월 중순부터 본격 활동 개시” (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ “Big Bang”. KBS WORLD. 26 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008. 
  13. ^ “Doanh số album trong tháng 8 năm 2006”. Recording Industry Association Of Korea (bằng Tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  14. ^ a ă â b “Doanh số album trong tháng 2 năm 2007”. Industry Association Of Korea (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  15. ^ “2007 Year-end Album Sales”. Recording Industry Association Korea (bằng Tiếng Triều Tiên). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2008. 
  16. ^ a ă â “How to Crack Japan: The Big Bang Theory”. Time. 9 tháng 11 năm 2009. Truy cập 13 tháng 1 năm 2010. 
  17. ^ Arirang TV. On Location: Big Bang's Showcase & First Fan Meeting. Truy cập 21 tháng 2 năm 2008
  18. ^ (tiếng Triều Tiên)Nate.com News. 빅뱅 '올해의 노래'-슈주 '올해의 가수'...MKMF '아이돌 천하'(종합) ("Big Bang 'Song of the Year', Super Junior 'Artist of the Year', MKMF 'Idol Reign' (Updated)"). 17 tháng 11 năm 2007. Truy cập 21 tháng 2 năm 2008
  19. ^ a ă “Big Bang Wins Pop Music Award”. KBS GLOBAL. 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  20. ^ a ă “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입”. Newsen (bằng tiếng Triều Tiên). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  21. ^ “빅뱅, 단독콘서트 티켓 또 10분 만에 매진”. YTNStar (bằng tiếng Triều Tiên). 20 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008. 
  22. ^ “빅뱅, 멤버들 줄부상에 일시 활동중단 (Big Bang, String of Member Injuries Cause Break in Schedule)”. StarNews (bằng tiếng Triều Tiên). 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2008. 
  23. ^ “Big Bang's Albums in Short Supply”. KBS World. 26 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  24. ^ a ă “Big Bang Signs Modeling Contract with FILA Korea”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  25. ^ Kim, Hyung Woo (5 tháng 2 năm 2008). “빅뱅 일본진출 멤버 이름 바꿔 활동” (bằng tiếng Hàn). IS Plus. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010. 
  26. ^ “Big Bang, putting their name up on 'Oricon Chart'” (bằng tiếng Hàn). SportsHankook. 14 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  27. ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-POP Charts for Four Weeks”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ a ă Park Seoyoung (4 tháng 11 năm 2008). “빅뱅 정규2집 ‘리멤버’ 선주문 20만장 넘었다! 8일 본격 활동개시” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  29. ^ (tiếng Triều Tiên) “2008 Mnet KM Music Festival”. MKMF. 8 tháng 9 năm 2008. 
  30. ^ a ă (tiếng Triều Tiên) “빅뱅 올 360억원 대박 쳤다”. Nate.com (bằng tiếng Triều Tiên). 11 tháng 11 năm 2008. Truy cập 22 tháng 1 năm 2010. 
  31. ^ Cho, Jihyun (15 tháng 12 năm 2009). “2NE1 Picked Artist of the Year by Mnet”. The Korea Times. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  32. ^ Kim, Hyung Woo (28 tháng 4 năm 2009). “빅뱅-2NE1 ‘롤리팝’ 엠넷차트 4주연속 1위 기염 (Big Bang-2NE1 "Lollipop" M-Net 4-Week #1)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009. 
  33. ^ (tiếng Triều Tiên)Kim, Hyeong-woo. 빅뱅-2NE1 ‘롤리팝’ 엠넷차트 4주연속 1위 기염 (Big Bang-2NE1 "Lollipop" M-Net 4-Week #1). Joins.com/Newsen. 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập 6 tháng 5 năm 2009
  34. ^ “So Fresh, So Cool”. generasia. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  35. ^ “Big Bang Releases - Oricon Style Music”. Oricon. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2009. 
  36. ^ “Big Bang Releases - Oricon Style Music”. Oricon. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2009. 
  37. ^ “Big Bang Releases - Oricon Style Music”. Oricon. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2009. 
  38. ^ Kim, Lynn (7 tháng 9 năm 2009). “G-Dragon conquers Korean music charts”. 10asiae. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2009. 
  39. ^ “Tae Yang new single Wedding Dress”. Korean Top News. 7 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  40. ^ Han, Sang-hee (24 tháng 5 năm 2009). “'Iris' to Bring Spy Story to Small Screen”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  41. ^ “Big Bang does Ohitorisama”. Tokyograph. Truy cập 15 tháng 10 năm 2009. 
  42. ^ Han, Sang-hee (16 tháng 10 năm 2009). “Big Bang Will Sing Opening Theme for Japanese Drama”. Korea Times. Truy cập 11 tháng 1 năm 2010. 
  43. ^ = mydaily “BBig Bang's JDorama OST Debut” (bằng tiếng Hàn). mydaily. 16 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2009. 
  44. ^ Han, Sang-hee (16 tháng 12 năm 2009). = mydaily “Big Bang to Hold Big Show in January”. Korea Times. Truy cập 11 tháng 1 năm 2010. 
  45. ^ Han, Sang-hee (5 tháng 1 năm 2010). “Idol Group Big Bang to Offer 'Big Show'”. Korea Times. Truy cập 11 tháng 1 năm 2010. 
  46. ^ “日언론 "‘2관왕’ 빅뱅, 동방신기 따라잡을 기세"” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 30 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  47. ^ “빅뱅의 도발적인 유혹, ‘롤리팝 2’ 음원-TV CF 공개”. YTN. 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập 21 tháng 2 năm 2010. 
  48. ^ “빅뱅 신곡 '롤리팝Pt.2' 공개해보니”. KW News. 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập 21 tháng 2 năm 2010. 
  49. ^ a ă “유인나, 한솥밥 YG 빅뱅 뮤비 ‘텔미 굿바이’ 출연” (bằng tiếng Hàn). Joins. 20 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  50. ^ a ă Hong, Lucia (22 tháng 11 năm 2010). “Big Bang to receive honor at Japan Record Awards”. 10asiae. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  51. ^ Cho, Sangwon (16 tháng 5 năm 2010). “ko:빅뱅-김연아-트랜스픽션 월드컵 응원가 ‘승리의 함성’ 공개” (bằng tiếng Hàn). KW News. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  52. ^ Kim, Hyung Woo (21 tháng 1 năm 2010). “탑, 빅뱅 단독공연서 솔로곡 깜짝 발표” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  53. ^ “G-Dragon and Top to Release Duet Album in December”. KBS World. 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  54. ^ a ă “ビッグバン・東方神起、日本ゴールドディスク賞受賞 (Gods of the Rising East win Japanese Gold Disc Award)” (bằng tiếng Nhật). Japan Joins. 25 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010. 
  55. ^ “Korean boom hits the Japan Record Awards with Big Bang”. Japan Today. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  56. ^ a ă “빅뱅'MTV 뮤직 어워드 재팬'3관왕” (bằng tiếng Hàn). iTimes. 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 
  57. ^ Kim, Hyung Woo (25 tháng 8 năm 2010). “빅뱅 25일 日 5번째 싱글 발표 ‘韓 아이돌 열풍 이끄나’” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. 
  58. ^ Kim, Sunny (6 tháng 12 năm 2010). “Big Bang's Concert 2011 Big Show To Be Held In February!”. MTV Korea. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. [liên kết hỏng]
  59. ^ Lee, Soo-yeon (26 tháng 2 năm 2011). “컴백 빅뱅, 엠넷 ‘빅뱅TV 라이브’ 전격 방송 ‘6곡 최초 공개’”. Newsen. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  60. ^ a ă Kim, Sung (22 tháng 2 năm 2011). “빅뱅, 예약 판매 서태지 넘었다 (Big Bang sells 10,000 albums in pre-sales, doubles Seo Taiji and TVXQ’s records)” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011. 
  61. ^ Cho, Euna-young (1 tháng 3 năm 2011). “빅뱅, 오늘 음반판매 10만장 돌파..음원도 돌풍” (bằng tiếng Hàn). Daum. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011. 
  62. ^ Choi, Jun (28 tháng 2 năm 2011). “'더빅뱅쇼' 빅뱅, 2년 3개월만에 공중파 첫 선··'강렬+파격'” (bằng tiếng Hàn). 10asiae. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  63. ^ Kil, Hyeseung (2 tháng 3 năm 2011). “'첫방도 안한' 빅뱅, 컴백 6일만에 매출 '70억' (Big Bang totals 7 billion won in sales prior to official promotions)” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011. 
  64. ^ “Big Bang on the Gaon Chart”. Korea Music Content Industry Association. 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011. 
  65. ^ Lee, Eunji (16 tháng 4 năm 2011). “빅뱅 '러브송' MV, 전세계 유튜브 점령…이틀만에 100만 클릭 (Big Bang’s ‘LOVE SONG’ M/V over two million views in two days)” (bằng tiếng Hàn). My Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011. 
  66. ^ “BIGBANG presents LOVE&HOPE (Bigbang 'LOVE&HOPE'tour to mobilize over 90,000 fans)” (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. 2 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  67. ^ a ă Mukasa, Edwina (15 tháng 12 năm 2011). “Bored by Cowell pop? Try K-pop”. London: Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012. 
  68. ^ YG-Life gives reminder of Big Bang’s looming comeback
  69. ^ “빅뱅 새앨범 선주문 26만장” (bằng tiếng Hàn). Nate. 27 tháng 2 năm 2012. 
  70. ^ "This links to current week - select the week from drop down menu" Gaon Charts. Truy cập 2012-03-01
  71. ^ “K-Pop Hot 100: BIGBANG Is Unstoppable”. Billboard. 13 tháng 3 năm 2012. 
  72. ^ a ă Mahr, Krista (7 tháng 3 năm 2012). “South Korea’s Greatest Export: How K-Pop’s Rocking the World”. Time. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  73. ^ “K-Pop Explosion”. GRAMMY.com. 28 tháng 9 năm 2012. 
  74. ^ a ă “Big Bang ‘Fantastic,’ Drove 40,000 Fans Wild”. KpopStarz. 28 tháng 9 năm 2012. 
  75. ^ “YG Entertainment and Live Nation proudly announce the BIGBANG ALIVE TOUR 2012!”. BIGBANG's Facebook. 29 tháng 9 năm 2012. 
  76. ^ BIGBANG - Fantastic Baby
  77. ^ “BIGBANG is BACK!全世界待望、2012年完全復活のニュー・アルバム3月28日リリース!!” (bằng tiếng Nhật). YGEX. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  78. ^ a ă “Big Bang's "Alive" Japan Version Gets RIAJ Gold Certification – Over 100,000 Copies Sold”. Recording Industry Association of Japan (RIAJ). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  79. ^ a ă “Big Bang 2012 Album King in Sales with 400,000 Copies Sold”. Kpop Starz. 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  80. ^ “SPRINGROOVE 2012 - LINEUP”. Creativeman Productions. 22 tháng 11 năm 2012. 
  81. ^ Gruger, William (7 tháng 6 năm 2012). “Big Bang's 'Alive' and Well on Billboard's Social 50 Chart”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  82. ^ “Winners from the ’2012 Mnet Asian Music Awards’”. Mnet. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  83. ^ “Big Bang Wins 'Best Fan' MTV TRL Award In Italy”. MTV. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  84. ^ “Big Bang Unveils Plan of ′Made′ Series for Upcoming Album”. MWAVE. 24 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  85. ^ Big Bang's 'Loser' & 'Bae Bae' debut at #1 & 2 on Billboard's 'World Digital Songs' chart
  86. ^ BIGBANG Claims Top 2 Spots on Billboard’s World Digital Songs Chart
  87. ^ BIGBANG’s 4 New Tracks Huge Hit in China!!
  88. ^ “Big Bang’s ‘MADE’ album exceeds 100m views on YouTube”. KpopHerald. 25 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015. 
  89. ^ “Big Bang top China's 'QQ Charts' in song, album, and MV categories!”. allKPop. 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015. 
  90. ^ a ă â “筆頭はあらゆる表現を駆使するBIGBANG!” (bằng tiếng Nhật). Yahoo! Japan. 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  91. ^ Kim, Wong Young (28 tháng 2 năm 2008). “빅뱅·BEG·쥬얼리…가요계 대세는 '일렉트로니카'” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 
  92. ^ “빅뱅 "이젠 소년 아닌 남자!"(일문일답)”. Star News. 19 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2010. 
  93. ^ Kim Mi-youngshin (8 tháng 8 năm 2008). “빅뱅, 3집 컴백과 동시에 타이틀곡 `하루하루`와 M/V 화제!” (bằng tiếng Hàn). HanKyung News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  94. ^ Lee Jihyun (26 tháng 11 năm 2007). “빅뱅, "하고 싶어지면 트로트도 도전")” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  95. ^ a ă â Rivera, Nicole (29 tháng 2 năm 2012). “BIG BANG - "ALIVE"”. Pop Reviews Now. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  96. ^ Staff, Fuse. “The 40 Best Songs of 2012: Fuse Staff Picks”. FUSE. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013. 
  97. ^ Kim Jung-hwa (13 tháng 6 năm 2008). “동영배를 들어라, 빅뱅 '태양'” (bằng tiếng Hàn). DC News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  98. ^ Han, Sang-hee (28 tháng 4 năm 2009). “Young Singers Jumping Into Trot Genre”. The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  99. ^ “新스타고백 지드래곤⑫"솔로앨범, 저한테는 도박이었죠"” (bằng tiếng Hàn). 10asiae. 11 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  100. ^ Mccurry, Justin (28 tháng 9 năm 2012). “K-pop stars: the lowdown on South Korean pop”. The Guardian (London). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  101. ^ “조PD, '디스'했던 GD 인정.."뮤지션역량 갖췄다"”. Daum. 16 tháng 3 năm 2011. 
  102. ^ “조PD "아이돌 가수도 빅뱅처럼 역량 갖춰야" 쓴소리”. Daum. 16 tháng 3 năm 2011. 
  103. ^ Chung, Ah-young (13 tháng 2 năm 2009). “Big Bang Reveals Self-Fulfilment Strategies”. The Korea Times. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  104. ^ “탑 복근, 빅뱅 멤버 복근 중 제일 보기 힘들다?” (bằng tiếng Hàn). JK News. 3 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  105. ^ Kim, Wong Young (8 tháng 12 năm 2007). “빅뱅, '줄넘기춤'으로 국민댄스 도전” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  106. ^ CARAMANICA, JON (9 tháng 11 năm 2012). “BigBang Performs at the Prudential Center”. The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  107. ^ “#MCSAwards 2012 Results”. Manila Concert. 3 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  108. ^ Sullivan, Caroline (16 tháng 12 năm 2012). “Big Bang – review”. The Guardian. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  109. ^ Pareles, Jon (26 tháng 12 năm 2012). “Pop’s Big Nights: The Best Concerts of 2012, as Seen by Times Critics”. The New York's Time. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  110. ^ Lee, Sung-moo (28 tháng 10 năm 2009). “Is Plagiarism a New Genre?” (bằng tiếng Hàn). The Korea Times. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2009. 
  111. ^ “Korean pop firm YG Entertainment rallies on trade debut”. BBC. 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  112. ^ “K-pop sensation Big Bang's latest video is fantastic baby”. The Vancouver Sun. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  113. ^ Naidu-Ghelani, Rajeshni. “Move Over Bieber — Korean Pop Music Goes Global”. CNBC. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  114. ^ Frost, Caroline. “MTV EMA Awards: Britney Spears Loses Out To BIGBANG, Lady Gaga, Justin Bieber, Bruno Mars, Eminem All Winners”. Huffington Post. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  115. ^ “YouTube to Launch Exclusive K-Pop Channel”. The Chosun Ilbo. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  116. ^ Mukasa, Edwina (15 tháng 12 năm 2011). “Bored by Cowell pop? Try K-pop”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  117. ^ “Jill Scott raves about Big Bang song”. Hancinema.net. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013. 
  118. ^ Rasul, Juliana June (26 tháng 4 năm 2012). “Pixie Lott is a K-pop fan”. Asia One. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  119. ^ “Sierra Leone's A*M*E Reps K-Pop to the Fullest”. MTV Iggy. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2013. 
  120. ^ Hyo-Won, Lee. “Dakota, Elle Fanning Create Media Frenzy in South Korea”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013. “Cô cũng nói trên báo chí rằng mình là một fan của G-Dragon, thành viên của ban nhạc pop Hàn Quốc Big Bang. Báo chí địa phương còn đưa tin rằng đại diện của Fanning cố gứng sắp đặt một cuộc gặp giữa hai người nhưng không thành vì vướng lịch diễn.” 
  121. ^ “Nelly Furtado's love for music is indestructible”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013. 
  122. ^ a ă Hadfield, James (20 tháng 8 năm 2012). “Summer Sonic: Grimes interview”. Time Out Tokyo. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  123. ^ “G-Dragon – K-pop's golden boy”. Dazed & Confused. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013. 
  124. ^ Lee, Hye-rin (1 tháng 1 năm 2008). “빅뱅, "우리의 롤모델은 신화" ("Big Bang, 'Hình mẫu của chúng tôi là Shinhwa'")”. Naver. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2011. 
  125. ^ a ă â b Sablan, Niño Mark (24 tháng 7 năm 2009). “Crazy for K-Pop”. Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  126. ^ Jang, Woo Cheol (24 tháng 7 năm 2009). “Taeyang Interview” (bằng tiếng Hàn). IB Times. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  127. ^ Park, Sang Suk (10 tháng 3 năm 2008). “Hot item of the trendiest Korean men” (bằng tiếng Hàn). Seoul News. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  128. ^ Kang, Jiyong (27 tháng 11 năm 2007). “빅뱅 G드래곤 "의상 전공에 욕심있다" (G-Dragon của Big Bang: Tôi hứng thú với việc theo đuổi ngành thời trang)” (bằng tiếng Hàn). SSTV. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  129. ^ Pang, Lauren (10 tháng 2 năm 2010). “Big Bang shirts sell out, set Uniqlo sales record”. Asia Pacific Arts. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  130. ^ “G-Dragon gets named in Singapore's Top 10 'Men of Style' list”. Allkpop. 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  131. ^ “G-Dragon Voted as This Era's 3rd Most Influential Person in Fashion”. Soompi. 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  132. ^ Bae, Hannah (6 tháng 1 năm 2012). “Fashion is essential to tourism”. CNNGo. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012. 
  133. ^ “K-Pop’s Disconnect With ‘Authentic’ Hip Hop Culture”. Seoul Beats. 8 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  134. ^ “Big Bang's "Lies" lingered in Melon chart for 54 weeks!”. Daily Kpop News. 15 tháng 2 năm 2011. 
  135. ^ Mrkic, Mike (26 tháng 2 năm 2011). “Korean pop the next big thing?”. Star Observer. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  136. ^ “BIG BANG BREAKS RECORD FOR HIGHEST CONCERT TICKET SALES FOR KOREAN ARTIST IN TAIWAN”. EnKorea. 22 tháng 10 năm 2012. 
  137. ^ Shmavonian, Karl (11 tháng 4 năm 2014). “FORBES KOREA's Top 10 Celebrities, 2014”. Forbes. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  138. ^ Hong, Grace Danbi. “Big Bang to Hold 6-Dome Concert Tour in Japan Beginning November”. CJ E&M enewsworld. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]