EXO (ban nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ EXO)
Bước tới: menu, tìm kiếm
EXO
Exo, MAMA 2014.jpg
EXO tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 16 vào tháng 12 năm 2014
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động 2012 -nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Thành viên hiện tại
Xiumin
Suho
Lay
Baekhyun
Chen
Chanyeol
D.O.
Kai
Sehun
Thành viên cũ
Kris
Lu Han
Tao

EXO (phát /ˌɛks ˈəʊ/ eks-oh; tiếng Hàn: 엑소) là một nhóm nhạc nam Hàn-Trung Quốc được S.M. Entertainment thành lập vào năm 2011 và ra mắt công chúng vào năm 2012, ban đầu nhóm bao gồm 12 thành viên được chia thành hai nhóm nhỏ, EXO-KEXO-M, thu âm và biểu diễn các bài hát lần lượt bằng tiếng Hàntiếng Quan Thoại. EXO trở nên nổi tiếng với album phòng thu đầu tay XOXO (2013) và bài hát đột phá "Growl". XOXO giành chiến thắng ở hạng mục album của năm tại hai lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 15 và Golden Disk Awards lần thứ 28, trở thành album bán chạy nhất năm 2013 tại Hàn Quốc và là album đầu tiên bán được trên 1 triệu bản tại Hàn Quốc trong vòng 12 năm.

Tháng 5 năm 2014, Kris khởi kiện S.M. Entertainment và yêu cầu chấm dứt hợp đồng với công ty. Luhan tiếp tục làm điều tương tự vào tháng 10 năm 2014. Tháng 4 năm 2015, Tao chấm dứt hoạt động cùng nhóm và sau đó cũng khởi kiện công ty vào tháng 8 năm 2015. Sau sự ra đi của ba thành viên trên, EXO tiếp tục hoạt động với chín thành viên còn lại.

Ý nghĩa tên gọi, fanclub[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi EXO được đặt theo từ tiếng Anh "Exoplanet" (có nghĩa là ngôi sao ngoài hệ Mặt Trời). Hai nhóm nhỏ là EXO-KEXO-M, trong đó "K" và "M" lần lượt viết tắt cho "Korean" (tiếng Hàn) và "Mandarin" (tiếng Quan Thoại).

Ngày 5 tháng 8 năm 2014, SM Ent công bố tên fanclub chính thức của nhóm là EXO-L, "L" là viết tắt của chữ "Love" (Tình yêu). Bên cạnh đó, "L" còn là chữ cái đứng giữa "K" và "M" tương ứng với 2 phân nhóm của EXO. Điều này tạo nên sự kết nối K-L-M, tượng trưng cho sự kết nối của EXO và fan, cũng như câu khẩu hiệu của nhóm: "We Are One". Lightstick và bóng của nhóm là màu trắng bạc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2011: Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2011, tại một hội thảo kinh doanh về Hallyu được tổ chức tại trường Đại học Stanford, Lee Soo-man đã phát biểu về chiến lược thành lập một nhóm nhạc nam mới của mình, trong đó nhóm sẽ được chia thành hai nhóm nhỏ, hoạt động song song tại cả Hàn QuốcTrung Quốc bằng cách trình diễn các bài hát bằng tiếng Hàntiếng Quan Thoại.[1] Sau một vài thay đổi,[2] vào tháng 12 năm 2011, nhóm được đặt tên là EXO với hai nhóm nhỏ EXO-K và EXO-M. Ngày 29 tháng 12 năm 2011, các thành viên Luhan, Chen, TaoKai xuất hiện lần đầu tiên trên truyền hình trong một màn biểu diễn cùng với các nghệ sĩ khác của S.M. Entertainment tại sự kiện Gayo Daejun của đài SBS.[3]

2012: Ra mắt và MAMA[sửa | sửa mã nguồn]

EXO trong chuyến lưu diễn SM Town Live World Tour III tại Singapore vào tháng 11 năm 2012

Ngày 30 tháng 1 năm 2012, EXO-K và EXO-M phát hành đĩa đơn "What Is Love" tại cả Hàn Quốc và Trung Quốc.[4] Phiên bản tiếng Hàn của bài hát đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 88 trên bảng xếp hạng nhạc số của Gaon. Ngày 9 tháng 3, nhóm phát hành đĩa đơn tiếp theo "History".[5] Phiên bản tiếng Hàn và tiếng Trung của bài bát đạt thứ hạng cao nhất lần lượt ở vị trí thứ 68 trên bảng xếp hạng nhạc số của Gaon và vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng âm nhạc Sina.[6]

Ngày 31 tháng 3, EXO tổ chức một showcase tại sân vận động Olympic, Seoul, Hàn Quốc, với 3.000 khán giá được chọn ra từ 8.000 người đăng ký tham dự.[7] Sau đó nhóm tổ chức showcase thứ hai tại trường Đại học Kinh doanh và Kinh tế Quốc tế, Bắc Kinh, Trung Quốc, vào ngày 1 tháng 4.

EXO-K và EXO-M phát hành đĩa đơn ra mắt chính thức "MAMA" vào ngày 8 tháng 4[8]mini-album cùng tên vào ngày 9 tháng 4. Ngày 8 tháng 4, cả hai nhóm nhỏ biểu diễn bài hát lần đầu tiên trên truyền hình lần lượt ở chương trình âm nhạc Hàn Quốc Inkigayo và lễ trao giải Top Chinese Music Awards lần thứ 5.[9] Phiên bản tiếng Hàn và tiếng Trung của bài bát đạt thứ hạng cao nhất lần lượt ở vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng nhạc số của Gaon và vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng âm nhạc Sina.[10] Cuối tháng 4, EXO-M xuất hiện với tư cách khách mời trong chuyến lưu diễn Super Show 4 của nghệ sĩ cùng công ty Super Junior tại Jakarta, Indonesia.

Tháng 11 năm 2013, EXO trở thành nhóm nhạc châu Á mới xuất sắc nhất tại các lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 14.[11] Sau đó EXO-M giành chiến thắng ở các hạng mục nhóm nhạc xuất sắc nhất và nhóm nhạc được yêu thích nhất tại lễ trao giải Top Chinese Music Awards lần thứ 6 vào tháng 12.[12] EXO-K cũng giành chiến thắng ở hạng mục nghệ sĩ mới tại lễ trao giải Golden Disk Awards lần thứ 27.[13]

2013: XOXOMiracles in December[sửa | sửa mã nguồn]

EXO cùng với tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye tại concert Hữu nghị Hàn-Trung vào 28 tháng 6 năm 2013

EXO phát hành album phòng thu đầu tay, XOXO, vào tháng 6 năm 2013 với hai phiên bản "Kiss" bằng tiếng Hàn và "Hug" bằng tiếng Trung. Khác với các đợt quảng bá trước, tất cả các thành viên tiến hành quảng bá cho album và bài hát chủ đề "Wolf" cùng nhau và chủ yếu tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, ngoài "Wolf", các bài hát trong album vẫn được thu âm riêng. EXO giành chiến thắng lần đầu tiên trên một chương trình âm nhạc với "Wolf" vào ngày 14 tháng 6 tại Music Bank.[14] Sau đó bài hát giành thêm ba chiến thắng nữa trên Show Champion, Music CoreInkigayo. XOXO cũng đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album tháng 6 của Gaon.[15]

Phiên bản repackage của XOXO, Growl, được phát hành vào ngày 5 tháng 8 với ba bài hát mới. Bài hát chủ đề cùng tên giành chiến thắng 10 lần trên các chương trình âm nhạc còn album thì đứng đầu bảng xếp hạng album tháng 8 của Gaon.[16]

Tháng 11 năm 2013, EXO trở thành nhân vật chính trong chương trình truyền hình thực tế EXO's Showtime trên kênh truyền hình cáp MBC every1, bắt đầu phát sóng từ ngày 28 tháng 11. EXO phát hành album đặc biệt mùa đông Miracles in December vào ngày 9 tháng 12.[17] Các thành viên Baekhyun, ChenD.O. biểu diễn bài hát chủ đề cùng tên lần đầu tiên trên chương trình âm nhạc M! Countdown vào ngày 5 tháng 12, sau đó LuhanLay tham gia biểu diễn trên các chương trình âm nhạc khác.

Kết thúc năm 2013, EXO có 6 album nằm trong top 10 bảng xếp hạng album cuối năm của Gaon, bao gồm cả phiên bản tiếng Hàn và tiếng Trung của XOXO, Miracles in December và mini-album đầu tay MAMA.[18] Với XOXO, album bán chạy nhất năm 2013 tại Hàn Quốc, EXO trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có một album bán được trên 1 triệu bản trong vòng 12 năm,[19] cũng như giành chiến thắng ở hạng mục album của năm tại nhiều giải thưởng âm nhạc như Mnet Asian Music Awards, Golden Disk AwardsSeoul Music Awards.[20][21][22]

2014: Overdose, vụ kiện của Kris và Luhan, chuyến lưu diễn độc lập đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

EXO trong chuyến lưu diễn SM Town Live World Tour IV tại Seoul vào tháng 8 năm 2014

EXO phát hành mini-album thứ ba, Overdose, vào ngày 7 tháng 5 năm 2014.[23] Ngày phát hành của album được lùi lại từ ngày 21 tháng 4 do vụ lật phà Sewol xảy ra vào ngày 16 tháng 4.[24] Overdose được đặt trước trên 660.000 bản, lập kỷ lục mini-album được đặt trước nhiều nhất trong lịch sử,[25] và sau đó trở thành album bán chạy nhất năm 2014 tại Hàn Quốc.[26] Bài hát chủ đề cùng tên cũng giành chiến thắng 10 lần trên các chương trình âm nhạc. EXO trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc bán được nhiều album nhất năm 2014 tại Nhật Bản.[27]

Tháng 4 năm 2014, EXO được công bố là sẽ bắt đầu chuyến lưu diễn độc lập đầu tiên của mình vào tháng 5 năm 2014.[28] Ngày 15 tháng 5, S.M. Entertainment xác nhận là thành viên Kris đã khởi kiện nhằm chấm dứt hợp đồng với công ty vì lý do vi phạm quyền con người.[29] Tuy nhiên EXO vẫn tổ chức chuyến lưu diễn của mình như kế hoạch với buổi diễn đầu tiên vào ngày 24 tháng 5 ở sân vận động Olympic Gymnastics tại Seoul, Hàn Quốc. Vé tham dự buổi diễn được bán hết trong vòng 0,47 giây.[30] Ngày 10 tháng 10, thành viên Luhan tiếp tục khởi kiện công ty vì lý do sức khỏe và sự phân biệt đối xử so với các thành viên người Hàn.[31][32] S.M. Entertainment thông báo rằng EXO sẽ tiếp tục hoạt động với 10 thành viên.

Overdose trở thành album bán chạy nhất năm 2014 tại Hàn Quốc,[33] đồng thời giúp EXO chiến thắng lần thứ hai liên tiếp ở hạng mục album của năm tại cả hai lễ trao giải Mnet Asian Music AwardsGolden Disk Awards.[34][35] EXO cũng lần đầu tiên trở thành nghệ sĩ của năm tại Mnet Asian Music Awards và Seoul Music Awards.[36][37]

2015: Exodus, vụ kiện của Tao, ra mắt tại Nhật Bản, hợp tác với Star WarsSing for You[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn độc lập thứ hai của EXO với tên gọi "EXOPLANET #2 - The EXO'luXion" được công bố vào tháng 1 năm 2015. Năm buổi diễn đầu tiên được tổ chức ở sân vận động Olympic tại Seoul, Hàn Quốc, bắt đầu từ ngày 7 tháng 3.[38][39] Ngày 4 tháng 2, S.M. Entertainment khởi kiện ngược lại KrisLuhan vì việc tiếp tục hoạt động tại Trung Quốc.[40] Đầu tháng 3, các thành viên của EXO được công bố là sẽ tham gia diễn xuất trong web drama EXO Next Door, trong đó Chanyeol, D.O., BaekhyunSehun đảm nhận các vai chính bên cạnh nữ diễn viên Moon Ga-young.[41] Phim gồm 16 tập được phát sóng từ ngày 9 tháng 4 đến ngày 28 tháng 5 và đã lập kỉ lục về lượt xem đối với web drama.[42]

EXO phát hành album phòng thu thứ hai, Exodus, vào ngày 30 tháng 3 với hai phiên bản tiếng Hàn và tiếng Trung.[43] Lượng đặt hàng trong nước của album đạt hơn 500.000 bản trong vòng 24 giờ, thiết lập một kỷ lục mới.[44] Bài hát chủ đề "Call Me Baby" được phát hành trước vào ngày 27 tháng 3 sau khi bị rò rỉ.[45] Sau đó 4 ngày, video âm nhạc của bài hát được ra mắt. Phiên bản tiếng Hàn và tiếng Trung lần lượt đạt hơn 4 triệu và hơn 2 triệu lượt xem trên YouTube trong vòng 24 giờ.[46] "Call Me Baby" giành chiến thắng 18 lần trên các chương trình âm nhạc và trở thành bài hát giành chiến thắng nhiều thứ hai trong lịch sử.[47] Exodus cũng đạt vị trí thứ nhất 4 tuần liên tiếp trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Gaon.[48]

Ngày 22 tháng 4, bố của thành viên Tao đăng tải một bức thư lên Weibo với nội dung thể hiện ý muốn anh rời khỏi EXO và trở về Trung Quốc vì lí do sức khỏe và sự thiếu quan tâm tới hoạt động cá nhân của Tao từ phía S.M. Entertainment.[49] Ngày 23 tháng 4, S.M. Entertainment cho biết công ty đang "tìm kiếm giải pháp" bằng việc đàm phán với Tao và bố của anh.[50] Sau đó Tao xác nhận là đã rời khỏi S.M. Entertainment và chính thức khởi kiện công ty vào ngày 24 tháng 8 sau khi đàm phán không thành công.[50][51][52][53]

Ngày 3 tháng 6, EXO phát hành Love Me Right, phiên bản repackage của Exodus, với 4 bài hát mới.[54] Album đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album tháng 6 của Gaon[55] và bài hát chủ đề cùng tên giành chiến thắng 11 lần trên các chương trình âm nhạc.[56] Ngày 4 tháng 11, EXO phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "Love Me Right ~romantic universe~", bao gồm phiên bản tiếng Nhật của "Love Me Right" và bài hát mới "Drop That". Đĩa đơn đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album hàng tuần của Oricon, đồng thời phá kỷ lục doanh số trong tuần đầu tiên của đĩa nhạc đầu tay bởi một nghệ sĩ Hàn Quốc với 147.000 bản.[57] Ngày 9 tháng 11, EXO phát hành đĩa đơn "Lightsaber" nhằm mục đích quảng bá cho bộ phim Star Wars: The Force Awakens, một phần của dự án hợp tác giữa S.M. Entertainment và Walt Disney.[58] Ngày 10 tháng 12, EXO phát hành album đặc biệt mùa đông thứ hai, Sing for You, với hai bài hát chủ đề "Sing for You" và "Unfair". Album đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album của iTunes tại nhiều quốc gia trên thế giới.[59]

Kết thúc năm 2015, EXO có năm album nằm trong top 10 bảng xếp hạng album cuối năm của Gaon bao gồm cả hai phiên bản của ExodusSing for You cũng như phiên bản tiếng Hàn của Love Me Right,[60] trong đó Exodus là album thứ hai bán được trên 1 triệu bản của nhóm.[61] EXO cũng trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử giành chiến thắng lần thứ ba liên tiếp ở hạng mục album của năm tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards và hạng mục nghệ sĩ của năm tại lễ trao giải Seoul Music Awards.[62][63]

2016: Lưu diễn tại Bắc Mỹ, Ex'Act, chuyến lưu diễn thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 2 năm 2016, chuyến lưu diễn The EXO'luXion bắt đầu được tổ chức tại Bắc Mỹ với năm buổi diễn ở các thành phố Dallas, Vancouver, Los Angeles, ChicagoNew York.[64] Cuối tháng 2, EXO được tạp chí Forbes bình chọn là nhân vật nổi tiếng quyền lực nhất năm 2015 tại Hàn Quốc.[65]

Đầu tháng 6 năm 2016, EXO phát hành album phòng thu thứ ba Ex'Act và quảng bá đồng thời hai đĩa đơn "Lucky One" và "Monster".[66] Ex'Act trở thành album bán chạy nhất trong tuần đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng doanh số album Hàn Quốc Hanteo.[67] EXO sẽ bắt đầu chuyến lưu diễn độc lập thứ ba của mình với tên gọi Exo Planet #3 - The Exo'rdium vào cuối tháng 7 năm 2016.[68]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên thật Ngày sinh Quốc tịch Vị trí
Latinh Hangul Hanja Latinh Hangul Hanja Tên Hán-Việt
Xiumin 시우민 秀敏 Kim Min-seok 김민석 金珉硕 Kim Mân Thạc 26 tháng 3, 1990 (26 tuổi) Cờ Hàn Quốc Hàn Quốc Hát dẫn, Nhảy dẫn, Visual
Suho 수호 守護 Kim Jun-myeon 김준면 金俊勉 Kim Tuấn Miễn 22 tháng 5, 1991 (25 tuổi) Trưởng nhóm, Hát dẫn, Visual
Lay 레이 N/A Zhang Yixing N/A 张艺兴 Trương Nghệ Hưng 7 tháng 10, 1991 (24 tuổi) Cờ Trung Quốc Trung Quốc Nhảy chính, Hát phụ, Visual
Baekhyun 백현 伯賢 Byun Baek-hyeon 변백현 邊伯賢 Biện Bạch Hiền 6 tháng 5, 1992 (24 tuổi) Cờ Hàn Quốc Hàn Quốc Hát chính, Visual
Chen Kim Jong-dae 김종대 金鐘大 Kim Chung Đại 21 tháng 9, 1992 (23 tuổi) Hát chính , Visual
Chanyeol 찬열 燦烈 Park Chan-yeol 박찬열 朴燦烈 Phác Xán Liệt 27 tháng 11, 1992 (23 tuổi) Rap chính, Hát phụ , Visual
D.O. 디오 N/A Do Kyung-soo 도경수 都暻秀 Đô Cảnh Tú 12 tháng 1, 1993 (23 tuổi) Hát chính, Visual
Kai 카이 Kim Jong-in 김종인 金鍾仁 Kim Chung Nhân 14 tháng 1, 1994 (22 tuổi) Nhảy chính, Rap phụ, Hát phụ, Visual
Sehun 세훈 世勳 Oh Se-hoon 오세훈 吳世勳 Ngô Thế Huân 12 tháng 4, 1994 (22 tuổi) Nhảy thứ chính, Rap dẫn, Hát phụ, Maknae, Visual

Thành viên cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên thật Ngày sinh Quốc tịch Vị trí
Latinh Hangul Hanja Latinh Hanja Tên Hán-Việt
Kris 크리스 N/A Wu Yifan 吴亦凡 Ngô Diệc Phàm 6 tháng 11, 1990 (25 tuổi) Cờ Trung Quốc Trung Quốc Trưởng nhóm (EXO-M), Rap chính, Hát phụ
Luhan 루한 鹿晗 Lu Han 鹿晗 Lộc Hàm 20 tháng 4, 1990 (26 tuổi) Hát chính, Nhảy dẫn, Gương mặt đại diện
Tao 타오 Huang Zitao 黃子韬 Hoàng Tử Thao 2 tháng 5, 1993 (23 tuổi) Rap dẫn, Hát phụ

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách video[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Ngày phát hành Lượt xem (YouTube)
Phiên bản
tiếng Hàn
Phiên bản
tiếng Trung
2012
"What Is Love" 29 tháng 1, 2012 21.000.000+ 6.000.000+
"History" 8 tháng 3, 2012 51.000.000+ 12.000.000+
"MAMA" 7 tháng 4, 2012 43.000.000+ 15.000.000+
2013
"Wolf" 30 tháng 5, 2013 73.000.000+ 9.000.000+
"Growl" 31 tháng 7, 2013 103.000.000+ 10.000.000+
"Miracles in December" 4 tháng 12, 2013 27.000.000+ 5.000.000+
2014
"Overdose" 6 tháng 5, 2014 105.000.000+ 18.000.000+
2015
"Call Me Baby" 30 tháng 3, 2015 91.000.000+ 16.000.000+
"Love Me Right" 2 tháng 6, 2015 50.000.000+ 6.000.000+
"Sing for You" 9 tháng 12, 2015 16.000.000+ 1.000.000+
2016
"Lucky One" 9 tháng 6, 2016 10.000.000+ 2.000.000+
"Monster" 9 tháng 6, 2016 25.000.000+ 2.000.000+

Chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

EXO đã nhận được nhiều giải thưởng ở cả Hàn Quốc và Trung Quốc, bao gồm tổng cộng 80 lần chiến thắng trên các chương trình truyền hình âm nhạc Hàn Quốc. EXO là nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử giành chiến thắng ba lần liên tiếp ở hạng mục album của năm tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards và hạng mục nghệ sĩ của năm tại lễ trao giải Seoul Music Awards.[62][63]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “SM's Lee Soo-man announces new boy band”. Nate (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ “S.M. Entertainment's chairman Lee Soo-man discusses culture industry secrets and slave contracts”. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ “S.M.'s rookie group EXO made debut in the SBS Gayo Daejun”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2012. 
  4. ^ “SM 새 그룹 Exo, 30일 프롤로그 싱글 공개” [Exo releases first single]. Nate.com (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ “The Prologue Single II ‘HISTORY’ of SM’s New Groups, EXO-K and EXO-M, will be Released on the 9th at 00:00 a.m.!” (Thông cáo báo chí). S.M. Entertainment. 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012. 
  6. ^ 新歌飙升榜 [Sina Music Charts]. Sina.com (bằng tiếng Trung). 12 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012. 
  7. ^ “Exo debuts in front of 3000 fans”. Korea.net. 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ “The First Mini Album Title Song ‘MAMA’ of Exo-K and Exo-M will be Released Worldwide on the 8th at 00:00!” (Thông cáo báo chí). S.M. Entertainment. 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012. 
  9. ^ “Exo-K and Exo-M will Make Their Debut on April 8th both in Korea and China!” (Thông cáo báo chí). S.M. Entertainment. 3 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  10. ^ “<Exo-K>차트 검색결과” [Exo-K Chart Positions] (bằng tiếng Hàn). Gaon. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2012. 
  11. ^ “Winners from the '2012 Mnet Asian Music Awards'. allkpop (bằng tiếng Anh). 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  12. ^ “EXO-M win awards for 'Best Group' and 'Most Popular Group' at 6th Top Chinese Music Billboard Newcomers Awards”. allkpop (bằng tiếng Anh). 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  13. ^ “Winners from the 27th Golden Disk Awards (Day 1)”. allkpop (bằng tiếng Anh). 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  14. ^ “KBS Music Bank 06.14.13 – EXO’s First Win with “Wolf””. Soompi (bằng tiếng Anh). 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  15. ^ “2013년 06월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  16. ^ “2013년 08월 Album Chart”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  17. ^ “EXO gifts fans with 'Miracle In December'. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015. 
  18. ^ “Gaon Chart releases Yearly Physical Albums Chart for 2013”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  19. ^ “EXO Breaks 12-Year Drought, “XOXO” Becomes Million Seller”. Soompi (bằng tiếng Anh). 26 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  20. ^ “[2013 MAMA] G-Dragon Wins Artist of the Year, EXO Takes Album of the Year and Full List of Winners”. Mwave (bằng tiếng Anh). 22 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  21. ^ “EXO and PSY Take Home Daesangs! Complete List of Winners of the 28th Golden Disk Awards”. Soompi (bằng tiếng Anh). 16 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  22. ^ “EXO win Daesang + Winners from the '23rd Seoul Music Awards'!”. allkpop (bằng tiếng Anh). 23 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  23. ^ Overdose by Exo”. iTunes JP. Apple. 7 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014. 
  24. ^ “EXO Delays Comeback Due to Ferry Tragedy”. Soompi (bằng tiếng Anh). 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  25. ^ Jeon Su Mi (13 tháng 5 năm 2014). “EXO ‘Overdoses’ Asia by Topping Various Weekly Charts”. Mwave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ “Gaon Chart Releases Overview Summary of 2014”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015. 
  27. ^ “EXO named 2014′s bestselling K-pop artist in Japan”. Venture Capital Post (bằng tiếng Anh). 2 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  28. ^ “EXO to kick off their first solo concert in Seoul next month”. allkpop (bằng tiếng Anh). 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  29. ^ Jackson, Julie (16 tháng 5 năm 2014). “EXO-M’s Kris wants out, files suit against SM”. The Korea Herald. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  30. ^ “Tickets for EXO's first concert sold out in less than 2 seconds”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2015. 
  31. ^ Sung So-young (11 tháng 10 năm 2014). “Luhan plans to leave Exo”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  32. ^ Chung Joo-won (10 tháng 10 năm 2014). “EXO Luhan sues S.M. to end exclusive contract”. The Korea Herald. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  33. ^ “2014년 Album Chart”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  34. ^ “[2014 MAMA] EXO Takes Home ′UnionPay Asian Artist of the Year in Asia′ Award at 2014 MAMA”. Mwave (bằng tiếng Anh). 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  35. ^ “Winners from the '29th Golden Disk Awards' (Day 2)!”. allkpop (bằng tiếng Anh). 15 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  36. ^ “[2014 MAMA] EXO Takes Home ′UnionPay Asian Artist of the Year in Asia′ Award at 2014 MAMA”. Mwave (bằng tiếng Anh). 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  37. ^ “Winners of the 24th Seoul Music Awards Announced, EXO Wins Grand Prize”. allkpop (bằng tiếng Anh). 22 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2015. 
  38. ^ “EXO adds another Seoul Concert date”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2015. 
  39. ^ “1.2 million ExoluXion ticket buyers crash ticketing site”. Koreaboo. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2015. 
  40. ^ “SM Entertainment to take action against Luhan & Kris for illegally continuing promotions in China”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  41. ^ “EXO’s Web Drama “EXO Next Door” to Air First Episode on April 9”. Soompi (bằng tiếng Anh). 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  42. ^ “Views for EXO's web drama series 'EXO NEXT DOOR' breaks records”. allkpop (bằng tiếng Anh). 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  43. ^ “EXO bring on the 'EXODUS' with 2nd album release”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  44. ^ “EXO's album 'EXODUS' already hits 500k in pre-sale and tops iTunes charts worldwide”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  45. ^ “EXO say 'Call Me Baby' in early released title track for 'EXODUS' album!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  46. ^ “EXO's MV for 'Call Me Baby' sees success with over 2 million views”. allkpop (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  47. ^ “EXO Gets 18th Music Show Win for “Call Me Baby” on “Music Core””. Soompi. 2 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  48. ^ “EXO's "EXODUS" rules Gaon Chart for four consecutive weeks”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  49. ^ “Tao's father posts emotional plea to SM Entertainment; rumors of lawsuit spread”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  50. ^ a ă “SM "타오父 글 안타까워…발전적 방향 모색할 것" 공식입장”. 네이트뉴스 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  51. ^ “SM Entertainment Confirms 'Ongoing Negotiations' Regarding EXO's Tao”. KpopStarz. 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  52. ^ “[단독] 타오, SM에 전속계약 소송 제기…루한·크리스와 같은 변호사”. Kukmin Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  53. ^ “엑소 이탈 타오, 오늘(24일) SM 상대로 전속계약 소송 제기”. TV Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  54. ^ “EXO drops "Love Me Right" MV for repackaged album”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015. 
  55. ^ “EXO Tops Gaon Weekly Album Chart and More with “Love Me Right””. Soompi (bằng tiếng Anh). 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  56. ^ “EXO Gets 11th Win With”Love Me Right” on “Music Core” + Comeback Stages by BTS, SISTAR, AOA, Teen Top, and More”. Soompi (bằng tiếng Anh). 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  57. ^ “EXO Breaks Jang Geun Suk’s Record With Japanese Debut Single”. Soompi (bằng tiếng Anh). 9 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  58. ^ “EXO Gets You Hyped for “Star Wars” With “Lightsaber””. Soompi (bằng tiếng Anh). 8 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  59. ^ “EXO Slays On iTunes Charts Across the Globe”. Soompi (bằng tiếng Anh). 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  60. ^ “2015년 Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  61. ^ “EXO Sells Over Million Copies of Second Album with Release of Repackaged Album”. Soompi (bằng tiếng Anh). 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  62. ^ a ă “[2015 MAMA/FULL WINNERS LIST] Big Bang and EXO Win Big at 2015 MAMA”. mwave (bằng tiếng Anh). 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  63. ^ a ă “EXO get Daesang + Winners from the '25th Seoul Music Awards'!”. allkpop (bằng tiếng Anh). 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  64. ^ “EXO Change Dates For North American Tour, Will Perform Without Lay”. KpopStarz (bằng tiếng Anh). 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016. 
  65. ^ “Forbes Korea Reveals Top 40 “Power Celebrities” of 2016, EXO Keeps Top Spot”. Soompi (bằng tiếng Anh). 25 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016. 
  66. ^ “엑소 "이번엔 더블 타이틀곡" …‘Monster’ ‘Lucky One’으로 매력 어필”. DongA (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016. 
  67. ^ Lee Da-hye (12 tháng 6 năm 2016). ““엑소, 엑소를 넘었다” 정규 3집 앨범 ‘이그잭트’, 발매 3일만의 역대 초동 1위 기록”. Asia Today (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2016. 
  68. ^ “엑소, 7월 단독 콘서트 개최”. Seoul Today (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]