Lay (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lay
Lay Zhang at 24th Seoul Music Awards 03.jpg
Lay tại lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 24 vào tháng 1 năm 2015
Sinh Trương Nghệ Hưng
7 tháng 10, 1991 (26 tuổi)
Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc
Nghề nghiệp
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Năm hoạt động 2012 (2012)–nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment (Hàn Quốc)
Avex Trax (Nhật Bản)
Hợp tác với
Tên tiếng Trung
Phồn thể 張藝興
Giản thể 张艺兴

Trương Nghệ Hưng (sinh ngày 7 tháng 10 năm 1991), thường được biết đến với nghệ danh Lay, là một ca sĩ và diễn viên người Trung Quốc, thành viên nhóm nhạc nam Hàn-Trung Quốc EXO do S.M. Entertainment thành lập và quản lý. Anh trở nên nổi tiếng sau khi tham gia vào các chương trình tài năng ở Trung Quốc Star Academy vào năm 2005. Tháng 1 năm 2015, Lay đã được Baidu xếp hạng thứ 5 trong "Top 10 người nổi tiếng nhất được yêu thích nhất năm 2014". Tháng 9 năm 2015, anh phát hành cuốn tự truyện của mình mang tên Standing Firm At 24, đã phá vỡ nhiều kỷ lục sách trực tuyến.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lay được sinh ra vào ngày 7 tháng 10 năm 1991 tại thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 2005, anh từng giành giải ba trong một cuộc thi hát do chương trình Star Academy tổ chức, đồng thời xuất hiện trong bộ phim truyền hình Yue Ce Yue Kai Xin và chương trình Na Ke Bu Yi Yang.

Thông qua hệ thống tuyển chọn toàn cầu của S.M. Entertainment, Lay trở thành thực tập sinh của công ty vào năm 2008 khi đang chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh cao đẳng và đại học.[1]

Trước khi ra mắt cùng với EXO, Lay từng biểu diễn vũ đạo thay cho Jonghyun, thành viên nhóm nhạc nam SHINee, trong chuyến lưu diễn SHINee World của nhóm.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2012–15: Ra mắt với EXO, studio cá nhân và khởi đầu sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: EXO (ban nhạc)

Lay được công bố là thành viên chính thức thứ năm của EXO vào ngày 17 tháng 1[2] và sau đó ra mắt cùng nhóm vào ngày 8 tháng 4 năm 2012. Năm 2014, anh tự sáng bài hát "I'm Lay" cho màn biểu diễn solo của mình trong chuyến lưu diễn độc lập đầu tiên The Lost Planet của EXO.[3] Năm 2015, anh cùng các thành viên trong nhóm ChanyeolChen sáng tác bài hát "Promise" nằm trong phiên bản phát hành lại Love Me Right của album phòng thu thứ hai Exodus của EXO.[4]

Tháng 4 năm 2015, S.M. Entertainment công bố là đã thành lập một studio riêng cho các hoạt động cá nhân của anh tại Trung Quốc vào ngày 31 tháng 3.[5] Tháng 5 năm 2015, Lay bắt đầu tham gia chương trình truyền hình Trung Quốc Go Fighting! được phát sóng trên kênh Dragon TV.[6] Ngày 18 tháng 9 năm 2015, Lay cho phép đặt trước phiên bản giới hạn của cuốn tự truyện Standing Firm At 24 với nội dung ghi lại 24 khoảnh khắc quan trọng trong cuộc đời của mình. Trong vòng 24 phút đã có 68.537 bản được đặt trước, trung bình 50 bản mỗi giây. Cuốn sách được phát hành chính thức vào ngày 7 tháng 10.[7][8] Cũng trong ngày 7 tháng 10, anh được công bố là sẽ thủ vai nam chính trong bộ phim điện ảnh Hàn-Trung Quốc Unexpected Love bên cạnh Krystal, thành viên nhóm nhạc nữ Hàn Quốc f(x).[9]

Tháng 11 năm 2015, Lay xuất hiện lần đầu tiên trên màn ảnh rộng với vai phụ Lý Tương Hách trong bộ phim điện ảnh Trung Quốc Ex Files 2: The Backup Strikes Back. Vai diễn này đã giúp anh giành chiến thắng ở hạng mục Diễn viên nam phụ xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Trung Quốc-Anh năm 2016. Anh cũng đã sáng tác và thể hiện bài hát "Alone" làm nhạc phim cho bộ phim.[10] Tháng 11 năm 2015, Lay thủ vai chính Lạc Ý trong bộ phim điện ảnh Trung Quốc Oh My God do Chương Tử Di sản xuất và Trần Chính Đạo đạo diễn.[11] Anh cũng cùng hai bạn diễn Khương Văn và Lý Tiểu Lộ thể hiện bài hát nhạc phim "Happy Youth".[12]

2016–nay: Hoạt động với tư cách ca sĩ solo[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2016, Lay cùng các thành viên của Go Fighting! tham gia bộ phim điện ảnh Trung Quốc Royal Treasure. Tháng 4 năm 2016, anh được trao giải Bài hát nhạc phim được yêu thích nhất và Nghệ sĩ mới được yêu thích nhất tại lễ trao giải Top Chinese Music Awards lần thứ 16. Tháng 5 năm 2016, Lay xuất hiện lần đầu tiên trên màn ảnh nhỏ với vai Thái Minh Tuấn trong bộ phim truyền hình Trung Quốc To Be A Better Man.[13] Anh cũng phát hành bài hát tiếng Trung "Monodrama" thuộc dự án âm nhạc Station của S.M. Entertainment. Sau đó Lay thủ vai chính Nhị Nguyệt Hồng trong bộ phim truyền hình Trung Quốc Lão Cửu Môn. Phim đã phá kỷ lục về lượt xem trực tuyến trong một ngày.

Tháng 10 năm 2016, Lay bắt đầu hoạt động với tư cách ca sĩ solo với bài hát "What U Need" nằm trong album đầu tay được phát hành trước vào đúng ngày sinh nhật anh 7/10. "What U Need" đậm chất Dance mang lại cảm giác vui tươi, sôi động.

Ngày 27/10, Mini Album "Lose Control" được phát hành gồm 5 bài "Lose Control, What U Need, Tonight, Relax, MYM". Đây là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của Lay. Bài hát chủ đề cùng tên đứng #1 trên các BXH nhạc số uy tín tại Trung Quốc như: Yinyuetai Chart, Alibaba Chart,.... Lượng album đặt trước 20.000 bản và số lượng bán ra hơn 50.000 bản đa đưa Lay trở thành ca sĩ Trung Quốc phá vỡ toàn bộ các kỷ lục của nghệ sĩ solo Hàn Quốc về doanh thu tiêu thụ ngày đầu tiên. Ngoài ra, Lay là ca sĩ Trung Quốc duy nhất lọt Top 200 trên BXH toàn cầu của Itunes và Spotify với "Lose Control".

Tháng 4 năm 2017 tại lễ trao giải Yinyuetai Lay đã nhận giải "Nghệ sĩ xuất sắc nhất" và "Album của năm". Ngày 17 tháng 4 bộ phim Cầu hôn đại tác chiến do anh đóng chính cùng với Trần Đô Linh dài 32 tập lên sóng đài Đông Phương.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Năm Thứ hạng cao nhất Album
TQ
Baidu

[14]
TQ
V Chart

[15]
Mỹ
World

[16]
"Happy Youth"
(với Khương Văn và Lý Tiểu Lộ)
2015 8 8 Đĩa đơn nhạc số
"One Person" 1 4 Đĩa đơn nhạc số
"Monodrama" 2016 1 5 Đĩa đơn nhạc số
"—" cho biết bài hát không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực này.
"Lose Control" 2016

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai Ghi chú
2015 SMTown The Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town
Ex Files 2: The Backup Strikes Back Lý Tương Hách Vai phụ
Oh My God Lạc Ý Vai chính
2016 Go Fighting the Movie: Royal Treasure Trương Nghệ Hưng Vai chính
Unexpected Love Vai chính
2017 Kung Fu Yoga Vai phụ

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Kênh Vai Ghi chú
2015 EXO Next Door Line TV Lay Vai phụ
2016 Lão Cửu Môn iQiyi Nhị Nguyệt Hồng Vai chính
To Be A Better Man Le TV Thái Minh Tuấn Vai phụ
2017 Cầu hôn đại tác chiến Đông Phương Nghiêm Tiểu Lại Vai chính

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Kênh Ghi chú
2012-14 Happy Camp HBS Khách mời cùng với EXO
2013 Dancing9 Mnet Khách mời cùng với Kai
2013-14 EXO's Showtime MBC every 1 Cùng với EXO
XOXO EXO Mnet Cùng với EXO
EXO 90:2014 Mnet Cùng với EXO
Weekly Idol MBC every1 Khách mời cùng với EXO; tập 103, 108
Running Man SBS Khách mời cùng với EXO; tập 171, 172
2014-15 Running Brothers Zhejiang Television Khách mời; tập 4- mùa 2
2015-16 Go Fighting! Dragon TV Thành viên chính

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ Ghi chú
2014 "Missing You" Lay Làm lại từ video âm nhạc của Fly to the Sky; cho chương trình EXO 90:2014
2015 "Happy Youth" Lay, Khương Văn và Lý Tiểu Lộ Nhạc phim Oh My God

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2015 The Wind of the East Ceremony Music Pioneer of the Year[17] Chính mình Đoạt giải
Asian Influence Awards Asia's Most Influential Artist Chính mình Đoạt giải
Cosmopolitan Beauty Awards China Beautiful Idol of The Year Chính mình Đoạt giải
2016 Qingting FM Awards Nghệ sĩ nam được yêu thích nhất Chính mình Đoạt giải
Top Chinese Music Awards lần thứ 16 Bài hát nhạc phim được yêu thích nhất "One Person" Đoạt giải
Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất Chính mình Đoạt giải
YinYueTai V-Chart Awards lần thứ 4 Nhạc phim của năm "One Person" Đoạt giải
Nghệ sĩ mới được yêu thích nhất Chính mình Đoạt giải
LeTV LeEco Night Most Popular All-Rounded Idol Chính mình Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “EXO-M, Dreamers who chase dreams”. Entertainment: Shanghai TV Magazine. Tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ “SM releases tenth Exo teaser, featuring Lay”. allkpop. Ngày 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ “EXO 首場個唱將加場”. kpopn (bằng tiếng Trung Quốc). Ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  4. ^ “EXO Reveals More Details on New Repackaged Album Ahead of Release”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015. 
  5. ^ “SM Entertainment establishes individual studio in China to support Lay of EXO-M”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  6. ^ “EXO Lay Becomes Regular Cast Member of Chinese Variety Show “Go Fighting””. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ “EXO’s Lay to release an autobiography photobook in October”. Koreaboo (bằng tiếng Anh). Ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  8. ^ “EXO’s Lay Breaks Record With Pre-Order of His Book”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 17 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ “EXO's Lay and f(x)'s Krystal confirmed to act together in film 'Biyeon'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 7 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  10. ^ “엑소 레이, 中 영화 특별출연&OST 참여 '노래, 연기 다 된다'. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  11. ^ “EXO′s Lay to Make Big Screen Debut with Zhang Ziyi-Produced Film in China”. mwave (bằng tiếng Anh). Ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  12. ^ “Zhang Yixing "Happy Youth": Film music playing happily together”. Netease Arts (bằng tiếng Anh). Ngày 1 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016. 
  13. ^ “엑소 레이, 특별출연으로 중국 드라마 데뷔” (bằng tiếng Triều Tiên). TVReport. 18 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  14. ^ “Baidu Weekly Music Charts”. Baidu (bằng tiếng Trung Quốc). 
  15. ^ “China V Chart”. Billboard (bằng tiếng Anh). 
  16. ^ “Billboard - Lay Chart History”. Billboard. Billboard. 
  17. ^ “EXO’S ZHANG YIXING RECEIVES MUSIC PIONEER OF THE YEAR AWARD: LAY ADMITS HE WAS ‘VERY NERVOUS’”. Movie News Guide (bằng tiếng Anh). Ngày 18 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]