Chân Tử Đan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chân Tử Đan
Donnieyen SHFF.jpg
Chân Tử Đan tại liên hoan phim quốc tế Thượng Hải, phim 2007
Sinh 27 tháng 7, 1963 (53 tuổi)
Quảng Châu, Quảng Đông,  Trung Quốc
Tên khác Donnie Yen
Công việc Diễn viên, võ sĩ, đạo diễn, nhà sản xuất
Năm hoạt động 1983 - nay
Quê quán Đài Sơn, Quảng Đông,  Trung Quốc
Vợ (chồng) Cissy Uông Thi Thi (kết hôn  2003–nay) «start: (2003)»"Hôn nhân: Cissy Uông Thi Thi đến Chân Tử Đan" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2n_T%E1%BB%AD_%C4%90an)
Giải thưởng Chỉ đạo hành động xuất sắc nhất
2006 Long Hổ môn
Chỉ đạo hành động xuất sắc nhất
2003 Thiên cơ biến
2007 Đảo hỏa tuyến
Chỉ đạo hành động xuất sắc nhất
2003 Thiên cơ biến
2005 Sát phá lang
2008 Đảo hỏa tuyến
Kim tượng
Diễn viên xuất sắc nhất 2009 (Diệp Vấn)
Chân Tử Đan
Phồn thể 甄子丹
Giản thể 甄子丹

Chân Tử Đan (sinh ngày 27 tháng 7 năm 1963) là nam diễn viên người Trung Quốc, ngoài ra anh còn là một đạo diễn, nhà chỉ đạo võ thuật và nhà sản xuất điện ảnh.[1] Anh nổi tiếng trên màn ảnh truyền hìnhmàn ảnh rộng qua những vai diễn có sử dụng võ thuật như một trong những ngôi sao võ thuật hàng đầu châu Á.[2] Về diễn xuất, Chân Tử Đan từng hai lần nhận được đề cử giải Kim Tượng. Anh được coi là người trẻ nhất trong số những nhà chỉ đạo võ thuật xuất sắc nhất thế giới,[3] từng nhiều lần được trao giải thưởng về chỉ đạo võ thuật tại các liên hoan phim Hồng Kôngchâu Á.[4]

Tại Việt Nam tên anh thường bị phiên âm sai thành Chung Tử Đơn, tên này được sử dụng phổ biến trên báo chí,[5][6] áp phích, bìa đĩa, cũng như trong giới hâm mộ.

Thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan sinh ở Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc, là con của nữ danh sư Thái cực quyền Mạch Bảo Thiền (麥寶嬋) và ông Chân Vân Long (甄雲龍), một nhà biên tập báo.[7]

Năm hơn 1 tuổi, anh theo ba tới Hồng Kông, trong khi mẹ ở lại Quảng Đông vì lý do thủ tục. Đến năm 9 tuổi mẹ anh mới sang được Hồng Kông, gia đình lại chuyển sang Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, nơi mẹ anh sẽ mở viện nghiên cứu võ thuật Trung Hoa.[1] Bấy giờ anh rất tích cực học võ và đàn dương cầm cổ điển. Người em gái của anh, cô Chân Tử Tinh (甄子菁) cũng có học võ, sau này cũng trở thành diễn viên, sau khi tham gia bộ phim Adventures of Johnny Tao: Rock Around the Dragon.

Từ nhỏ anh rất thích học và nghiên cứu võ thuật, từng là đệ tử của nhiều phái võ khác nhau như Thái Cực Đạo, Wushu. Thần tượng của anh lúc này là Lý Tiểu Long, anh hâm mộ đến mức bắt chước cột một dải lụa ở ống chân để giắt cây côn nhị khúc.[1] Sự say mê võ thuật khiến anh lơ là, chán nản việc học. Anh bỏ học, gia nhập băng đảng và thường tham gia những cuộc đánh lộn, có khi băng đảng của anh đã gây ra án mạng.[1] Điều đó khiến cha mẹ anh lo sợ, họ đưa anh trở về Quảng Đông.

Trở về quê nhà, anh đi theo con đường cũa một võ sĩ Wushu. Anh đến Bắc Kinh để luyện tập trong đội tuyển Wushu Trung Quốc. Thời gian đầu anh đến Quảng Châu tập luyện với võ sư Lý. Ông Lý là người đã làm cho Chân Tử Đan bỏ đi phong cách Híp-pi lập dị kiểu Mĩ. Thời gian này anh còn học võ với sư phụ Ngô Bân, người từng dạy võ cho Lý Liên Kiệt.[8][9][10]

Năm 1983, khi sắp trở về Mĩ, Chân Tử Đan làm một chuyến du lịch ở Hồng Kông. Lúc này đạo diễn Viên Hoà Bình đang quay phim Tiếu Thái Cực, ông đã tìm rất lâu nhưng không ra một nam diễn viên phù hợp cho vai chính. Chị của Viên Hòa Bình, người từng theo học võ của mẹ Chân Tử Đan, đã giới thiệu "con trai của Mạch sư phụ" cho họ Viên, và Viên Hoà Bình đã mời anh thử đóng bộ phim Thiên sư chàng tà của ông, trong vai trò một người đóng thế.

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Tử Đan trong bộ phim đầu tay Tiếu Thái Cực (笑太極, tên tiếng Anh Drunken Tai Chi), lúc này cặp mí mắt và hàm răng của anh chưa được chỉnh sửa bởi viện thẩm mĩ

Bộ phim đầu tiên mà Yên Tử Đan thủ vai chính là Tiếu Thái Cực, sản xuất năm 1984 khi anh 21 tuổi. Phim này nói về môn võ Tuý quyền. Tiếu Thái Cực chưa phải là một thành công lớn tuy nhiên đã giới thiệu được tên tuổi của Chân đến với khán giả. Trong những ngày đầu đóng phim, Chân Tử Đan đã nhờ đến thẩm mĩ viện để chỉnh sửa lại cặp mắt một mí và hàm răng không mấy ngăn nắp của mình. Sự sửa đổi dung mạo này được thể hiện rõ trong giai đoạn tiếp theo, từ sau phim Lồng Hổ 1. Tuy vậy, từ đó đến năm 1989, anh chỉ được giao những vai phụ.

Năm 1989, bộ phim Tiêu diệt nhân chứng đưa tên tuổi Yên Tử Đan vào hàng ngũ những diễn viên võ thuật ăn khách. Hai năm sau, anh hợp tác với Quan Chí LâmNgô Đại Duy trong bộ phim về đề tài rửa tiền: Lồng Hổ 2. Tiếp theo đó là các phim Con gái quỷ Satan, Nộ hỏa uy long, tuy nhiên không được nhiều người chú ý.

Năm 1992, Yên mang đến một cái nhìn khác cho khán giả nhờ 2 vai phản diện trong Hoàng Phi Hồng 2: Nam nhi đương tự cườngTân Long Môn khách sạn. Nổi bật nhất là vai trong phim Hoàng Phi Hồng 2, đây là lần đầu Yên Tử Đan được hợp tác với các diễn viên gạo cội như Trương Thiết Lâm, Khương Đại Vệ, và diễn viên nổi tiếng thời đó là Lý Liên Kiệt. Trận đấu giữa Nạp Lan Nguyên Thuật (Yên Tử Đan đóng) với Hoàng Phi Hồng (Lý Liên Kiệt đóng), phối hợp vận dụng nhiều loại vũ khí như đao, côn... tạo nên những thế võ đẹp mắt, được liệt vào hàng kinh điển trong lịch sử phim võ thuật.[11] Về sau, Yên Tử Đan còn hợp tác với Lý Liên Kiệt ở phim Anh Hùng (2002), và cuộc giao đấu giữa Trường Không (Yên Tử Đan đóng) với Vô Danh (Lý Liên Kiệt đóng) đã được bầu chọn là một trong những màn đấu võ hay nhất trên màn ảnh từ trước tới nay. Với phim Hoàng Phi Hồng: Nam nhi đương tự cường, Chân Tử Đan được đề cử giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất ở liên hoan phim Hồng Kông.[1][4]

Phim Tân Long Môn khách sạn quy tụ khá nhiều ngôi sao ăn khách thời đó: Trương Mạn Ngọc, Lương Gia Huy, Lâm Thanh Hà. Yên Tử Đan đóng vai thái giám, vai phản diện chính với màn quyết đấu ác liệt cuối phim. Phim gặt hái được nhiều thành công lớn.

Diễn viên ăn khách[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu niên Hoàng Phi Hồng (Iron monkey), sản xuất năm 1993, bộ phim đưa Chân Tử Đan lên hàng ngôi sao

Năm 1993 đánh dấu mốc trong sự nghiệp của Yên Tử Đan, khi vai chính trong bộ phim Thiếu niên Hoàng Phi Hồng của Từ Khắc được hoan nghênh nhiệt liệt. Trong phim này, Chân đóng vai chính Hoàng Kì Anh, cha của Hoàng Phi Hồng. Vai chính còn lại do Du Vinh Quang thể hiện. Trận đấu kết thúc phim diễn ra trên biển lửa giữa Hoàng Kì Anh, Con Khỉ Sắt (Du Vinh Quang đóng) và Ác tăng đã để lại nhiều ấn tượng và trở thành đề tài cho nhiều phim nhái sau này. Thiếu niên Hoàng Phi Hồng là một thành công lớn nối tiếp loạt phim về nhân vật truyền kì Hoàng Phi Hồng, nhưng riêng với Chân Tử Đan, bộ phim đã đưa anh lên hàng những ngôi sao võ thuật trong điện ảnh Hồng Kông. Đến năm 2002, Thiếu niên Hoàng Phi Hồng được trình chiếu tại phương Tây và được hoan nghênh nhiệt liệt, góp phần đưa tên tuổi anh ra ngoài châu Á.

Trong năm này ngoài vai Hoàng Kì Anh, anh còn có một vai phản diện trong Hồ Điệp kiếm và vai Tô Khất Nhi múa tuý quyền trong Tô Khất Nhi.

Năm 1994, đạo diễn nổi tiếng Hollywood Steven Seagal mời Chân Tử Đan vào vai Lý Tiểu Long trong bộ phim Lý Tiểu Long truyền kì, tuy nhiên anh đã chối từ. Trong năm này anh tham gia 3 phim, trong đó có vai chính phim truyền hình Hồng Hi Quan, 2 phim điện ảnh còn lại là Mã Hí cuồng phongVịnh Xuân quyền. Trong Vịnh Xuân quyền, anh đóng vai người tình của Nghiêm Vịnh Xuân do Dương Tử Quỳnh đóng.

Năm 1995, phim Tinh Võ Môn của ATV ra đời, đã gây nên một cơn sốt mới ở các nước nói tiếng HoaĐông Nam Á. Phim dài 18 tập, lấy bối cảnh thời Dân quốc, kể về những giai đoạn quan trọng trong đời nhân vật huyền thoại Trần Chân. Nhân vật Trần Chân từng được thể hiện qua Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt, nay được thể hiện qua Chân Tử Đan và đã tạo nên được nhiều ấn tượng mới. Tại Việt Nam, người ta biết đến anh nhiều bởi vai này và nhiều người gọi anh là Trần Chân. Mặc dù bộ phim thành công, nhưng nhìn về lối trình diễn võ thuật lúc bấy giờ, anh cho thấy sự chịu ảnh hưởng nhiều bởi vai Trần Chân của Lý Tiểu Long, từ cách diễn tả trên nét mặt đến những pha múa võ có lẫn tiếng hét đặc trưng của họ Lý.

Trường Không trong phim Anh Hùng là một trong những vai diễn ấn tượng nhất của Chân Tử Đan, dù anh chỉ xuất hiện trong một cảnh quay

Năm 1997, anh thành lập hãng phim Bullet, đồng thời thử sức trong vai trò đạo diễn với phim Chiến lang truyền thuyết (Legend of the wolf). Trong phim này anh đóng vai chính Văn Hiến, ngoài ra còn có nữ diễn viên đang lên lúc đó là Lý Nhược Đồng. Bộ phim không đặc sắc về nội dung, tuy nhiên lại thành công lớn về mặt doanh thu, với rất nhiều những màn đánh lộn được diễn tả chân thực. Hãng phim tồn tại 2 năm, với các phim Nhật bản bản ('1999) và Nụ hôn sát nhân (1998). Phim Nụ hôn sát nhân có sự tham gia của người đẹp Ngô Thần Quân, do Chân Tử Đan đạo diễn và thủ vai chính, được trao giải "Phim xuất sắc nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý.

Năm 2002, anh tham gia siêu phẩm Anh hùng của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Bộ phim đã đưa tên tuổi của anh ra thế giới. Đạo diễn họ Trương vốn khắt khe, đã tỏ ra rất khâm phục khả năng biểu diễn võ thuật của Chân Tử Đan trong phim này. Vai của Chân Tử Đan chỉ xuất hiện trong một cảnh quay, đạo diễn họ Trương sử dụng như một phương pháp tô điểm. Anh đánh từ đầu tới cuối trong sự xuất hiện của mình, và cảnh quay phải mất tới 20 ngày.[12]

Thời gian này Chân Tử Đan còn nổi lên với vai trò người chỉ đạo, giàn dựng các pha đấu võ thuật. Các phim nổi tiếng nhất được anh chỉ đạo võ thuật là: Code name 2:Puma,[13] Thiên cơ biến III, Nụ hôn sát nhân...

Trong công việc, Chân nổi tiếng là người nghiêm túc và khá kén chọn, anh không phải là người sẵn sàng nắm bắt tất cả các cơ hội tiến thân tại Holywood. Từng từ chối đóng vai Lý Tiểu Long trong Truyện Lý Tiểu Long và sau đó là năm 2003, khi anh khước từ lời mời xuất hiện bên cạnh Angelina Jolie trong Tomb Raider II"tôi thích những gì mới mẻ và sáng tạo, còn vai diễn đó lại chẳng khác gì những vai trước đây của tôi". Chân được đạo diễn Guillermo del ToroHollywood mời đóng phim lần thứ ba: Blade I, và lần này anh đã nhận lời. Vai diễn người tuyết tuy chỉ là vai nhỏ, với màn võ thuật tô điểm, nhưng cũng đủ ấn tượng để anh được mời tiếp vào phim Highlander: End game của Douglas Aarniokoski (2000); tuy nhiên phim này không thành công. Vai diễn tiếp theo của Chân Tử Đan tại Hollywood là vai phản diện trong Hiệp sĩ Thượng Hải của Thành Long, vai này ban đầu được giao cho Robin Shou, bạn diễn của Chân trong phim Lồng Hổ 2, nhưng Shou mắc việc không nhận được và vai đã được giao cho Chân Tử Đan.

Một lúc làm nhiều vai trò, nhưng mỗi năm anh vẫn đều đặn đóng xong một bộ phim, các phim Thiên cơ biến 2, Love on the rocks,... cũng tạo nên một số ấn tượng nhất định.

Năm 2005, Chân Tử Đan vào vai Sở Chiêu Nam trong Thất kiếm của Từ Khắc, tuy nhiên bộ phim đã không có được thành công như mong đợi.

Hợp tác với Diệp Vĩ Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Vấn, bộ phim đầu tiên đưa Chân Tử Đan vào danh sách đề cử "nam chính xuất sắc" của giải Kim Tượng

Sau thất bại của Thất Kiếm, Chân Tử Đan đã gặp gỡ đạo diễn trẻ mới nổi Diệp Vĩ Tín. Sự gặp gỡ này đã đánh dấu mốc mới trong sự nghiệp của Chân Tử Đan. Tính cho tới nay, họ đã hợp tác với nhau 4 phim, tất cả đều nổi tiếng, đó là bộ ba Sát phá lang, Long Hổ Môn, Đạo hoả tuyến và gần đây nhất: phim Diệp Vấn.

Trong Sát Phá Lang, Chân Tử Đan vào vai cảnh sát Mã, lạnh lùng, có vẻ cô độc nhưng là một người có tình cảm. Vai diễn mang lại cho Chân nhiều chỗ diễn nội tâm. Trong phim, ấn tượng nhất có đoạn giao đấu đầy máu me, kịch tính giữa Chân Tử Đan - Ngô Kinh và trận đánh trong phòng khách giữa Chân Tử Đan - Hồng Kim Bảo. Tiếp theo thành công của Sát Phá Lang, Chân - Diệp tiếp tục hợp tác làm bộ Long Hổ Môn rồi Đạo Hỏa Tuyến. Những phim này đều nhận được nhiều đề cử và giải thưởng.

2008 là một năm thành công của Chân Tử Đan, khi anh liên tiếp xuất hiện trong các bộ phim "bom tấn": Giang sơn mĩ nhân, Họa bì, và Diệp vấn. Giang sơn mĩ nhân, tuy nhiên không thành công như hứa hẹn. Còn Họa Bì, một phim kinh dị cổ trang đã lập kỉ lục về doanh thu phòng vé, phim cũng nhận được nhiều giải thưởng cũng như đề cử. Tuy vậy, thành công và tạo nên nhiều ảnh hưởng hơn cả là Diệp Vấn.

Phim Diệp Vấn kể về một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của danh sư Diệp Vấn, trong phim này Chân Tử Đan đã trình diễn một phong cách khác trước, đó là không sử dụng những cú đá song phi nổi tiếng của mình mà phần lớn các pha võ thuật đều dùng tay - một nét độc đáo của Vịnh Xuân quyền. Để diễn được các pha võ này, anh đã luyện Vịnh Xuân 8 tháng, cũng như giảm 5 ký để phù hợp với vai Diệp Vấn. Về diễn xuất, vai diễn có chút hài hước và nhiều trường đoạn nội tâm hơn các phim trước đây anh tham gia. Ông Diệp Chuẩn, con trai của Diệp Vấn sau khi xem phim này đã khen ngợi Chân và cho rằng anh là người thích hợp nhất để đóng vai này.

Với vai Diệp Vấn, lần đầu tiên Chân Tử Đan được đề cử giải "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" tại liên hoan phim HKFA 2009, ngoài ra phim Diệp Vấn còn nhận được 11 đề cử khác, trong đó có giải "phim xuất sắc", "diễn viên phụ xuất sắc nhất" và "đạo diễn xuất sắc nhất".[14] Về doanh thu, phim đạt 100 triệu Nhân dân tệ và 25 triệu Đô la Hồng Kông sau 1 tuần khởi chiếu, trở thành phim võ thuật đoạt doanh thu cao nhất từ trước tới giờ.[15][16][17]

Trong thời gian quay bộ phim này, Chân Tử Đan từng bị đưa ra so sánh với ảnh đế Lương Triều Vĩ khi Lương cũng quay một phim mang tên Nhất đại tôn sư Diệp Vấn với Vương Gia Vệ, tuy nhiên sau khi phim công chiếu, Chân Tử Đan đã nhận được nhiều khen ngợi, trong đó có lời khen của Lương Triều Vĩ.[18]

Sau Diệp Vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Diệp Vấn, bộ đôi Diệp - Chân sẽ thực hiện tiếp phim Diệp Vấn II. Trong một bài phỏng vấn gần đây, Chân Tử Đan nói rằng anh đang cầm trong tay 5 kịch bản, và có thể sẽ phải quay liền 5 phim trong năm 2009.[19]

Năm 2009, Chân Tử Đan tham gia bộ phim Thập nguyệt vi thành (hay còn gọi với cái tên: Sát thủ và vệ sĩ ở Việt Nam) (十月围城) với vai chính là một tay đệ tử của "bác thằng bần", ngoài ra phim còn có sự tham gia của nhiều ngôi sao khác như Lương Gia Huy, Nhậm Đạt Hoa, Tăng Chí Vĩ, Lê Minh, Hồ Quân, Lê Cung..., cùng một vai nhỏ trong bộ phim Kiến quốc đại nghiệp. Sau đó, anh tham gia đóng vai chính trong bộ phim cổ trang Cẩm y vệ (14 Blades) của đạo diễn Lý Nhân Cảng, với sự tham gia của các diễn viên Triệu Vy, Ngô Tôn, Thích Ngọc Vũ, Từ Tử San, Hồng Kim Bảo.

Sắp tới vào ngày 1 tháng 10 năm 2010, Chân Tử Đan sẽ cho ra mắt 1 bộ phim mới Tinh Võ Phong Vân (Legend of the Fist: The Return of Chen Zhen) của đạo diễn Lưu Vĩ Cường, trong phim có sự góp mặt của nữ diễn viên Thư Kỳ. Hiện anh đang tiếp tục tham gia 2 dự án phim khác là Quan Vân Trường (The Lost Bladesman, đạo diễn Trang Văn Cường, Mạch Triệu Huy, Chân Tử Đan thủ vai chính Quan Vân Trường) và Độc tí đao (One Armed Swordsman, đạo diễn Trần Khả Tân, làm lại từ bộ phim cùng tên năm 1967). [20][21]

Công việc ngoài diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ đạo võ thuật, hành động[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài diễn xuất, Chân Tử Đan còn làm đạo diễn hành động và nhà chỉ đạo võ thuật. Đây là nghề tay trái của Chân nhưng lại mang lại cho anh bộ sưu tập giải thưởng đáng nể: 7 giải thưởng và 2 đề cử, trong đó có 3 Kim Tượng và 2 Kim Mã.[4] Anh làm công việc chỉ đạo võ thuật từ những năm đầu của sự nghiệp, với phim ăn khách Lồng Hổ 1. Những phim nổi tiếng nhất do anh chỉ đạo các pha hành động và đấu võ là: Lồng Hổ 2, Vịnh Xuân quyền, Chiến Lang truyền thuyết, Code name 2:Puma, Thiên cơ biến III, Nụ hôn sát nhân, Blade II, Sát phá lang, Long Hổ Môn,...

Năm 2008, khi làm phim Diệp Vấn, do đã đảm nhận nhiều công việc (tập võ, diễn xuất), vai trò đạo diễn võ thuật của Chân đã được giao lại cho Hồng Kim Bảo.

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Trở thành đạo diễn từ năm 34 tuổi với phim Chiến lang truyền thuyết (Legend of the wolf), cho đến nay, Chân Tử Đan đã đạo diễn 6 phim, trong đó cũng có những phim thành công. Phim Nụ hôn sát nhân năm 1997 đã được trao giải "một trong những phim hay nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý. Các phim Thiên cơ biến, Chiến lang truyền thuyết, Tân Đường Sơn đại huynh đều được xếp vào loại ăn khách.

Anh là ứng cử viên duy nhất (trong số 6 ứng cử viên) của Hồng Kông đạt được giải thưởng "Đạo diễn trẻ xuất sắc nhất" tại Liên hoan phim Yubari, Nhật Bản.

Nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan từng đóng vai trò nhà sản xuất và đồng sản xuất cho 5 phim: Họa bì, Đảo hỏa tuyến, Long Hổ Môn, Nụ hôn sát nhân, Chiến lang truyền thuyết. Năm 1997 anh từng mở hãng phim tên là Bullet nhưng nay đã giải tán.

Làm mẫu cho nhân vật trong game[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Chân Tử Đan lần đầu tham gia trong ngành công nghiệp Game, với game nổi tiếng Onimusha III của hãng Capcom. Anh giữ vai trò quan trọng trong game hành động nổi tiếng này, khi đảm nhận công việc chỉ đạo võ thuật và biểu diễn mẫu cho nhân vật. [2] Năm 2006, Game Long Hổ Môn ra đời dựa theo bộ phim anh thủ vai chính. Chân cũng làm mẫu cho chuyển động của nhân vật chính trong Game này.

Phong cách võ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan thường được coi là diễn viên có phong cách biểu diễn võ thuật đặc biệt. Jung Sang Kyo, một ký giả của tờ tạp chí võ thuật Mookas có lời nhận xét: "Lý Tiểu Long thuộc nhóm diễn viên chuyên dùng các thế võ hiện đại, Lý Liên Kiệt thuộc nhóm chuyên dùng võ thuật truyền thống Trung Hoa. Còn Chân Tử Đan thì thuộc nhóm của riêng anh."[22]

Với phong cách đánh võ độc đáo và đẹp mắt, Chân Tử Đan thường được mời vào các phim ở tư cách khách mời nhằm câu khách, như trong Thánh bài II, anh đóng vai cảnh sát và chỉ xuất hiện ở đoạn loạn đả cuối phim, ngoài ra có thể kể đến những màn trình diễn võ thuật ngắn ngủi trong Hiệp sĩ thượng hải, Anh hùng, Love on the Rocks, Thiên cơ biến II, gần đây (2009) thì có All's Well, Ends Well 2009.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan từng đính hôn với nữ diễn viên Vạn Ỷ Văn từng đóng cặp với anh trong Tinh Võ Môn (1995). Năm 2003, anh kết hôn với người mẫu Uông Thi Thi, hoa hậu Hoa kiều Toronto năm 2000, kém anh 19 tuổi.[23] Hôn lễ tổ chức tại Toronto, Canada. Đến nay họ đã có với nhau hai con, một gái tên là Jasmin và trai tên James. Chân Tử Đan có con riêng tên là Man Cheuk Yen.[24]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
1983 Thiên sư chàng tà
天師撞邪
đóng thế
1984 Tiếu Thái Cực
笑太極
Ching Do
1985 Tình phùng địch thủ
情逢敵手
Eddie
1988 Lồng Hổ 1
特警屠龍
Terry
đạo diễn võ thuật
1989 Tiêu diệt nhân chứng
皇家師姐IV直擊證人
Đội trưởng Donnie Yan
1990 Lồng Hổ 2
洗黑錢
Dragon Yau
đạo diễn võ thuật
1991 Con gái quỷ satan
魔唇劫
Shiang Chin-Fei
Nộ hỏa uy long
怒火威龍
Lương/Trần
1992 Liệp báo hành động
獵豹行動
Ronnie/ Roano
Hoàng phi hồng II: Nam nhi đương tự cường 黃飛鴻之二男兒當自強 Nạp Lan Nguyên Thuật
Tân Long Môn khách sạn
新龍門客棧
Ngụy Trung Hiền
1993 Thiếu niên Hoàng Phi Hồng
少年黃飛鴻之鐵馬騮
Hoàng Kỳ Anh
Tân lưu tinh hồ điệp kiếm 新流星蝴蝶劍 Yip Cheung
Túy quyền Tô Khất Nhi 蘇乞兒 Ăn mày Tô Sáng
1994 Vịnh Xuân quyền
詠春
Lương Bác Trù
đạo diễn võ thuật
Mã hí cuồng phong 馬戲小子 Danton Lee
1995 Con khỉ sắt II
街頭殺手
Thánh bài 2 賭聖2街頭賭聖 Lone Seven (cameo)
1996 Satan trở lại 666魔鬼復活 "Nam"
đạo diễn võ thuật
1997 Chiến Lang truyền thuyết 戰狼傳說 "Văn Hiến"
đạo diễn
nhà sản xuất
chỉ đạo võ thuật
đồng viết kịch bản
Cảnh sát Á châu 亞洲警察之高壓線 "Chiang Ho-Wa"
đạo diễn võ thuật
Black Rose 2
黑玫瑰義結金蘭
hiệu trưởng trường dạy võ
1998 Nụ hôn sát nhân
殺殺人、跳跳舞
Người mèo
đạo diễn
nhà sản xuất
chỉ đạo võ thuật
Tân Đường Sơn đại huynh 新唐山大兄 Đường Sơn
đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
Kho tàn vô nghĩa 黑色城市 "Ozone"
2000 Highlander: Endgame "Jin Ke"
chỉ đạo võ thuật
2001 The Princess Blade 修羅雪姫
2002 Blade II người tuyết
chỉ đạo hành động
Anh hùng
英雄
Trường Không
2003 Hiệp sĩ Thượng Hải Vũ Châu
Thiên cơ biến
千機變
đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
2004 Thiên cơ biến II
千機變II花都大戰
Protege de la Rose Noire
見習黑玫瑰
đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
Tình yêu trong Rock
戀情告急
ông Từ
2004 Hoa Đô Đại Chiến
2005 Sát Phá Lang
殺破狼
Cảnh sát Mã Quân
chỉ đạo hành động
Thất kiếm 七劍 Sở Chiêu Nam
2006 Stormbreaker
Long Hổ môn 龍虎門 Long
đạo diễn võ thuật
đồng sản xuất
2007 Đảo hỏa tuyến
導火線
Cảnh sát Mã
đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
nhà sản xuất
2008 Giang sơn mĩ nhân
江山美人
Mộ Dung Trạch Hổ
Họa bì
畫皮
Bàng Dũng
nhà sản xuất
Diệp Vấn 葉問 "Diệp Vấn"
2009 Nhà có chuyện vui 家有喜事2009 khách dự đám cưới
2009 Thập Nguyệt Vi Thành
Bodyguards And Assassins
2010 Huyền thoại Trần Chân 精武風雲:陳真 Trần Chân
2010 Diệp Vấn II: Tôn sư truyền kì Diệp Vấn
2010 Cẩm Y Vệ 錦衣衛 Thanh Long
2011 Võ hiệp 武俠 Tang Long
2011 Quan Vân Trường
The Lost Bladesman
Quan Vũ
2012 Bát tinh bão hỷ 八星抱喜
2013 Mãi bên nhau 在一起 Cảnh sát lạnh lùng
2013 Thân phận đặc biệt 特殊身份  Đại ca Trần Tử Long
2014 Băng Phong Hiệp 冰封俠 重生之門 Tướng quân Hạ Anh
2014 Sát Quyền Hạ Hầu Vũ
2014 Đại náo thiên cung Tôn Ngộ Không
2015 Diệp Vấn 3 葉問 Diệp Vấn
2016 Rogue One: A Star Wars Story Chirrut Imwe
2017 xXx: Sự trở lại của Xander Cage Hạng

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Kênh
1987 Hình cảnh bản sắc
刑警本色
Dick Kwan TVB
1988 Vô miện cấp tiên phong
無冕急先鋒
TVB
1989 Phi Hổ quần anh
飛虎群英
Trương Hạo Nam TVB
1991 Cuộc đời mới
命運迷宮
Jun TVB
Cán thám quần anh
幹探群英
Dan/Bomb TVB
1994 Hồng Hi Quan
洪熙官
Hồng Hy Quan ATV
1995 Tinh Võ Môn
精武門
Trần Chân ATV
1999-2000 Báo đen Đồng đạo diễn và chỉ đạo võ thuật RTL
2001 Tân Tinh Võ Môn Trần Chân ATV

[25] [26] [27] [28]

Game[sửa | sửa mã nguồn]

  • Onimusha III (2004)
  • Long Hổ Môn (2006)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Bài giới thiệu Chân Tử Đan - trên phimanh.net
  2. ^ Chân Tử Đan vẫn là ngôi sao võ thuật hàng đầu châu Á - thuonghieuviet.com
  3. ^ Chân Tử Đan: Phát huy tinh thần Lý Tiểu Long - báo Mực tím online
  4. ^ a ă â Imdb.com
  5. ^ Chung Tử Đơn vào vai đại tông sư Diệp Vấn của phái Vịnh Xuân-thethaovanhoa.vn
  6. ^ Phim mới của Chung Tử Đơn sắp ra mắt-baovietnam.vn
  7. ^ Donnie Yen Biography (1963-) - filmreference.com
  8. ^ Lý Liên Kiệt: Thuở chưa là ảnh đế - 60s.com.vn
  9. ^ Donnie Yen, Hong Kong action star
  10. ^ Ngô Bân cũng là sư phụ của Triệu Văn Trác và Ngô Kinh sau này [1]
  11. ^ Once Upon a Time in China II -lovehkfilm.com
  12. ^ Phỏng vấn Chân Tử Đan về phim "Anh Hùng"-moviesboom
  13. ^ Phim này từng được chiếu trên kênh HTV9Việt Nam với tên Báo đen
  14. ^ 28th Hong Kong Film Awards - donnieyen.com
  15. ^ Diệp Vấn trở thành phim võ thuật ăn khách nhất Trung Quốc - vtc.vn
  16. ^ China Box Office January 12-18, 2009- boxofficemojo.com
  17. ^ Hong Kong Box Office, December 18–21, 2008 - boxofficemojo.com
  18. ^ Củng Lợi kết đôi cùng Lương Triều Vĩ - thegioidienanh.vn
  19. ^ 13 tháng 1 năm 2009/004432547.shtml Phỏng vấn Chân Tử Đan-trên sina.com.cn
  20. ^ 23 tháng 3 năm 2009/16362434927.shtml 甄子丹谢霆锋黎明等聚集《十月围城》 - sina.com.cn
  21. ^ 九帝一后《十月围城》 超强阵容期待四亿票房 -xinhuanet.com
  22. ^ Welcome to The World of Donnie Yen's Martial Art - mookas.us
  23. ^ Chân Tử Đan bị vợ cắm sừng ? - vtc.vn
  24. ^ Chân Tử Đan có con thứ 3 - phimanh.vnexpress.net
  25. ^ “Chân Tử Đan trên Imdb”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  26. ^ “Chân Tử Đan (Donnie Yen Ji-Dan) trên HKMDb”. Hong Kong Movie Database. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  27. ^ “Chân Tử Đan trên Hong Kong Cinemagic”. Hong Kong Cinemagic. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  28. ^ “Chân Tử Đan - 甄子丹”. Cinemasie.com. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web, blog[sửa | sửa mã nguồn]