Capcom

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Capcom Co., Ltd.
Tên bản ngữ
株式会社カプコン
Tên phiên âm
Kabushiki-gaisha Kapukon
Loại hình
Public K.K.
Mã niêm yết TYO: 9697
Ngành nghề Video games
Thành lập 30 tháng 5, 1979; 39 năm trước[1]
Trụ sở chính Chūō-ku, Osaka, Japan
Nhân viên chủ chốt
Kenzo Tsujimoto
(Chairman and CEO)
Haruhiro Tsujimoto
(President and COO)
Sản phẩm Complete list of games
Doanh thu tăng 61 billion JP¥ / 555,1 million US$ (2017)[2][3]
tăng >87.1 billion JP¥ / >792,61 million US$ (March 2017)[2][3]
Số nhân viên
2,811 (2017)
Công ty con Capcom Pictures
Capcom U.S.A
Beeline Interactive
Capcom Mobile USA
Capcom Europe
Capcom Asia
Capcom Korea
Website www.capcom.com

Capcom Co., Ltd. (Nhật: 株式会社カプコン Hepburn: Kabushiki-gaisha Kapukon?) (Nhật: 株式会社カプコン Kabushiki-gaisha Kapukon?) là một công ty phát triển và phát hành trò chơi điện tử Nhật Bản[4] được biết đến với việc tạo ra rất nhiều thương hiệu game bán chạy, bao gồm Street Fighter, Mega Man, Resident Evil, Devil May Cry, Ace Attorney, Monster Hunter, Dead Rising, Breath of Fire, cũng như các trò chơi dựa trên hoạt hình của Disney. Thành lập năm 1979,[5] và đã trở thành một doanh nghiệp quốc tế với các công ty con ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Nam Á.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm của Capcom, tập đoàn I.R.M, được thành lập vào ngày 30 tháng 5 năm 1979 bởi Kenzo Tsujimoto. Tsujimoto vẫn là chủ tịch của Irem Corporation khi ông sáng lập ra IR.M. Tsujimoto làm việc đồng thời ở cả hai công ty cho đến khi rời khỏi công ty vào năm 1983.[7] 

Các công ty ban đầu đã sinh ra nhánh Nhật Bản của Capcom là I.R.M cũng như công ty con Japan Capsule Computers Co., Ltd., cả hai đều tập trung cho việc sản xuất và phân phối các máy trò chơi điện tử. Hai công ty đã được đổi tên thành Sambi Co., Ltd. vào tháng 9 năm 1981, trong khi Capcom Co., Ltd. lần đầu tiên được thành lập vào ngày 11 tháng 6 năm 1983 bởi Kenzo Tsujimoto, với mục đích tiếp quản bộ phận kinh doanh nội bộ. [8]

Vào tháng 1 năm 1989, công ty liên kết cũ Capcom Co., Ltd. sáp nhập với Sambi Co., Ltd, và kết quả là ra chi nhánh của Nhật Bản hiện tại. Cái tên Capcom là từ bị cắt bớt của "Capsule Computers", một thuật ngữ được công ty đưa ra để mô tả các máy game thùng sản xuất trong những năm đầu, được thiết kế để tách rời khỏi các máy tính cá nhân đang trở nên phổ biến tại thời điểm đó. Từ capsule từ ám chỉ cách Capcom so sánh phần mềm trò chơi của mình với "một viên nang gói trọn niềm vui chơi game", cũng như mong muốn bảo vệ tài sản trí tuệ của mình với vỏ ngoài cứng, ngăn chặn các bản sao bất hợp pháp và bắt chước kém.

Trong khi sản phẩm đầu tiên của Capcom là Little League hoạt động bằng xèng từ tháng 7 năm 1983, trò chơi video thực sự đầu tiên, tựa game thùng Vulgus, được phát hành vào tháng 5 năm 1984. Bắt đầu với việc đưa trò chơi 1942 lên Nintendo Entertainment System vào tháng 12 năm 1985, công ty tham gia vào thị trường trò chơi điện tử tại gia, và trở thành phân khúc kinh doanh chính vài năm sau đó. Capcom đã tạo ra 15 loạt game bán chạy lên đến triệu bản, thành công nhất trong số đó là Resident Evil.[9]

Capcom đã được ghi nhận là nhà phát hành lớn cuối cùng cam kết chỉ phát hành 2D, mặc dù điều này không hoàn toàn do họ lựa chọn. Cam kết của công ty đối với Super Nintendo Entertainment System khiến họ tụt hậu so với các nhà phát hành hàng đầu khác trong việc phát triển các bảng trò chơi 3D. Ngoài ra, đồ họa 2D theo phong cách phim hoạt hình được thấy trong các trò chơi như Darkstalkers: The Night WarriorsX-Men: Children of the Atom đã trở nên nổi tiếng, dẫn đến việc Capcom chấp nhận như một phong cách độc quyền và sử dụng nó trong nhiều trò chơi hơn.

Năm 1994, Capcom đã biến loạt game chiến đấu Street Fighter thành một bộ phim cùng tên. Trong khi thành công về mặt thương mại, công ty lại bị phê phán gay gắt. Năm 2002 phim dựa theo loạt Resident Evil phải đối mặt với những lời chỉ trích tương tự nhưng vẫn thành công tại các rạp. Công ty xem những bộ phim như một cách để tăng doanh thu cho các trò chơi video của mình. [10]

Capcom hợp tác với Nyu Media vào năm 2011 để phát hành và phân phối các trò chơi độc lập (dōjin soft) mà Nyu đã bản địa hóa sang tiếng Anh. Công ty làm việc với công ty địa phương của Ba Lan để đưa các trò chơi của Capcom lên các hệ máy khác, đặc biệt là phiên bản PC của DmC: Devil May CryPlayStation 4, Xbox One, phiên bản PC của Dragon's Dogma được phát hành vào tháng 1 năm 2016 và phiên bản Dead Rising trên PlayStation 4, Xbox One và PC được phát hành vào ngày 13 tháng 9 năm 2016. [11]

Vào ngày 27 tháng 8 năm 2014, Capcom đã đệ đơn kiện vi phạm bằng sáng chế chống lại Koei Tecmo Games tại Tòa án quận Osaka với thiệt hại 980 triệu yên. Capcom tuyên bố Koei Tecmo Games vi phạm một bằng sáng chế trong năm 2002 liên quan đến một tính năng chơi trong các trò chơi video.[12]

Cấu trúc tập đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Các xưởng phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vài năm đầu sau khi thành lập, chi nhánh Capcom của Nhật Bản có ba nhóm phát triển được gọi là "Planning Rooms", dẫn đầu là Tokuro Fujiwara, Takashi NishiyamaYoshiki Okamoto, tương ứng. Sau đó, các trò chơi được phát triển nội bộ để tạo ra bởi một số "Production Studios", mỗi cái được gán cho các trò chơi khác nhau[13][14] [15]Bắt đầu từ năm 2002, quá trình phát triển đã được cải thiện để chia sẻ công nghệ và chuyên môn tốt hơn, và tất cả các xưởng từng bước được tái cơ cấu thành các phòng ban lớn hơn chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ khác nhau. Trong khi vẫn có các bộ phận khép kín để tạo ra các trò chơi game thùng arcade, pachinko và pachislo, trực tuyến và di động. Consumer Games R&D Division thay vì là một sự pha trộn của các bộ phận phụ trách các giai đoạn phát triển trò chơi khác nhau.[16][17]

Capcom có ba bộ phận nội bộ để tạo ra trò chơi. Đó là Consumer games division 1 với Resident EvilDevil May Cry tập trung vào nhượng quyền thương mại trên toàn thế giới, Consumer games division 2 với Street Fighter, Marvel vs. Capcom và các trò chơi trực tuyến  khác và Consumer games division 1 với Ace Attorney, Monster HunterSengoku Basara với IP truyền thống hơn .[18]

Ngoài các đội nội bộ, Capcom trả nhận tiền hoa hồng cho các xưởng phát triển bên ngoài để đảm bảo đầu ra ổn định cho các tựa game. Tuy nhiên, sau khi bán được Dark VoidBionic Commando, quản lý của công ty đã quyết định hạn chế gia công phần mềm cho các phần tiếp theo và các phiên bản mới hơn trong các thương hiệu hiện có. Việc sản xuất trò chơi, ngân sách và hệ máy hỗ trợ được quyết định trong các cuộc họp phê duyệt phát triển, có sự tham dự của ban quản lý công ty và bộ phận tiếp thị, bán hàng và kiểm soát chất lượng.[19][20][21] 

Chi nhánh và công ty con[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài trụ sở chính và tòa nhà R & D của Capcom Co., Ltd., đều nằm ở Chuō-ku, Osaka, công ty mẹ Nhật Bản cũng có văn phòng chi nhánh tại Shinjuku Mitsui BuildingNishi-Shinjuku, Shinjuku, Tokyo. Nó cũng có Ueno Facility, một chi nhánh ở Iga, tỉnh Mie.[22]

Tập đoàn Capcom quốc tế bao gồm 15 công ty con tại Nhật Bản, Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Á. Các công ty liên kết bao gồm Koko Capcom Co., Ltd. tại Hàn Quốc, Street Fighter Film, LLC tại Mỹ và Dellgamadas Co., Ltd.

Phương tiện truyền thông liên quan đến trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài việc phát triển và xuất bản các trò chơi tại gia, trực tuyến, di động, game thùng, pachinkopachislo, công ty còn phát hành hướng dẫn chơi trò chơi, duy trì các trung tâm giải trí riêng ở Nhật Bản được gọi là Plaza Capcom và cấp phép nhượng quyền thương mại và đặc tính nhân vật của mình để sử dụng các sản phẩm, phim, phim truyền hình và các buổi biểu diễn sân khấu. [23]

Suleputer, nhãn hiệu tiếp thị và âm nhạc tại gia được thành lập với sự hợp tác của Sony Music Entertainment Intermedia năm 1998, phát hành đĩa CD, DVD và các phương tiện truyền thông khác dựa trên các trò chơi của Capcom. Hội nghị thượng đỉnh truyền thông tư nhân hàng năm có tên là Captivate, được đổi tên thành Gamers Day trong năm 2008, theo truyền thống được sử dụng làm nền tảng thông báo trò chơi và kinh doanh mới.[24] [25]

Trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Capcom bắt đầu nhượng quyền thương mại Street Fighter vào năm 1987. Loạt game chiến đấu là một trong những game phổ biến nhất trong thể loại. Đã bán được hơn 30 triệu bản, loạt game này đóng vai trò là thương hiệu hàng đầu của Capcom. Cùng năm đó, công ty đã giới thiệu dòng sản phẩm Mega Man, cũng bán được gần 30 triệu bản.

Công ty đã phát hành sản phẩm đầu tiên trong loạt kinh dị sống còn Resident Evil vào năm 1996. Loạt game đạt thành công về tài chính, bán được gần 50 triệu bản. Tiếp nước là phần hai trong loạt Resident Evil, Capcom bắt đầu làm Resident Evil cho PlayStation 2. Hoàn toàn khác với loạt hiện tại, Capcom đã quyết định biến ngoại truyện của trò chơi thành loạt game riêng, Devil May Cry. Trong khi phát hành hai phần dành riêng cho PlayStation 2, công ty đã đưa các phần thêm lên các máy chơi game không phải của Sony. Toàn loạt nói chung đem lại doanh thu hơn 10 triệu bản. Capcom đã bắt đầu loạt Monster Hunter vào năm 2004. Loạt này đã đạt doanh thu hơn 45 triệu bản trên một loạt các hệ máy.

Mặc dù công ty thường dựa vào các nhượng quyền thương mại hiện có, nó cũng đã phát hành và phát triển nhiều tựa game cho Xbox 360, PlayStation 3Wii, dựa trên tài sản trí tuệ ban đầu: Lost Planet: Extreme Condition, Dead Rising, Dragon Dogma, Asura's WrathZack and Wiki .[26] Trong thời gian này, Capcom cũng đã giúp phát hành một số tựa game từ các nhà phát triển phương Tây với các tựa như Remember Me, Dark VoidSpyborgs, các tựa game mà nhiều nhà phát hành khác không sẵn sàng thử.[27][28] Các tựa còn lại là Ōkami, ŌkamidenGhost Trick: Phantom Detective. Hiện tại, Capcom đang nghiên cứu tài sản trí tuệ mới nhất của mình, Deep Down, cho PlayStation 4.

Platinum Titles[sửa | sửa mã nguồn]

Capcom biên soạn một danh sách, được cập nhật hàng quý, gồm các trò chơi bán hơn một triệu bản, được gọi là "Platinum Titles". Danh sách này chứa hơn 80 trò chơi điện tử, dưới đây là mười tựa hàng đầu đã bán kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2018.[29]

Key
Including digital distribution Bao gồm các bản phân phối kỹ thuật số
Tựa Ngày phát hành Hệ máy Doanh số
Monster Hunter World Including digital distribution January 2018 PlayStation 4, Xbox One 8.3tr
Resident Evil 5 02009-03-01tháng 3 2009 March 2009 PlayStation 3, Xbox 360 7.4tr
Resident Evil 6 02012-10-01tháng 10 2012 October 2012 PlayStation 3, Xbox 360 7.1tr
Street Fighter II June 1992 Super Nintendo Entertainment System 6.3tr
Resident Evil 7: Biohazard 02017-01-01tháng 1 2017 January 2017 PlayStation 4, Xbox One, PC 5.4tr
Resident Evil 2 January 1998 PlayStation 4.96tr
Monster Hunter Portable 3rd 02010-12-01tháng 12 2010 December 2010 PlayStation Portable 4.9tr
Monster Hunter Generations 02015-11-01tháng 11 2015 November 2015 Nintendo 3DS 4.3tr
Monster Hunter 4 Ultimate 02014-10-01tháng 10 2014 October 2014 Nintendo 3DS 4.2tr
Monster Hunter 4 02013-09-01tháng 9 2013 September 2013 Nintendo 3DS 4.1tr

Phê bình và tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, Capcom bị chỉ trích vì các chiến thuật bán hàng gây tranh cãi, chẳng hạn như phải trả tiền cho các nội dung bổ sung đã có sẵn trong các tệp của trò chơi, đáng chú ý nhất là Street Fighter X Tekken. Capcom vẫn bảo vệ thói quen đó.[30] Công ty đã bị chỉ trích vì các quyết định kinh doanh khác, như không phát hành một số trò chơi bên ngoài Nhật Bản, không phát hành một số trò chơi nhất định ở thị trường phương Tây, đột ngột hủy bỏ dự án (đáng chú ý nhất là Mega Man Legends 3) và đóng cửa Clover Studio. Trong năm 2015, công ty đã ngưng phiên bản PlayStation 4 của Ultra Street Fighter IV từ Capcom Pro Tour do nhiều vấn đề kỹ thuật và lỗi trò chơi.[31] INăm 2016, Capcom phát hành Street Fighter V với nội dung chơi đơn rất hạn chế. Khi ra mắt, có những vấn đề về độ ổn định với mạng, tự khởi động người chơi giữa game ngay cả khi họ không chơi ở chế độ trực tuyến. Street Fighter V không đạt được mục tiêu doanh số 2 triệu vào tháng 3 năm 2016.[32] [33]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa[sửa | sửa mã nguồn]

Các công ty[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày thành lập Liên kết
Arika 1 November, 1995 Thành lập bởi Akira Nishitani lấy tên ARMtech.
Crafts & Meister 1 June, 2004 Thành lập bởi Noritaka Funamizu và Katsuhiro Sudo.
Game Republic 1 July, 2003 Thành lập bởi Yoshiki Okamoto.
Inti Creates 8 May, 1996 Thành lập bởi Takuya Aizu.
Level-5 Comcept 1 December, 2010 Thành lập bởi Keiji Inafune lấy tên Comcept.
PlatinumGames 1 October, 2007 Founded by Shinji Mikami, Atsushi Inaba, Hideki Kamiya và Tatsuya Minami.
Tango Gameworks 1 March, 2010 Thành lập bởi Shinji Mikami.
UTV Ignition Games 26 September, 2001 Takeyasu Sawaki tham gia vào Ignition Tokyo, là nhánh phụ của UTV Ignition Games.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “CAPCOM - Corporate Overview”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ a ă Graft, Kris (31 tháng 3 năm 2017). “Capcom Posts 73 Percent Profit Drop Amid Major Delays, Weak Sales”. Gamasutra. United Business Media. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ a ă “Sluggish Financial Results for ended March 31, 2017” (PDF). Capcom Co., Ltd. 31 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ “Corporate Information: Corporate Overview”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  5. ^ “Corporate Information: History”. Capcom Co., Ltd. 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ “Corporate Information: Capcom Group”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ Ocampo, Jason (11 tháng 6 năm 2008). “Capcom Marks 25th Anniversary”. IGN. IGN Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  8. ^ (bằng tiếng Japanese). Capcom Co., Ltd. 30 tháng 9 năm 2009 http://www.capcom.co.jp/ir/company/history.html. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
  9. ^ “Business Strategies & IR Data: Total Sales Units Data”. Capcom Co., Ltd. 31 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ Gaudiosi, John. "Capcom Seeks More Playtime in HWood." Hollywood Reporter 397 (2006): 4,4,29. ProQuest Research Library. Web. 30 May 2012.
  11. ^ “Dustforce Sweeping onto Xbox Live Arcade and PSN for PS3, Vita January 2014”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. 
  12. ^ Matulef, Jeffrey (27 tháng 8 năm 2014). “Capcom files lawsuit against Koei Tecmo for patent infringement”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016. 
  13. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  14. ^ Capcom Co., Ltd (7 tháng 3 năm 1989). Strider Hiryū. Capcom Co., Ltd. Cảnh: staff credits. 
  15. ^ Nix, Marc (23 tháng 3 năm 2007). “The Future of PSP – Capcom”. IGN. IGN Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  16. ^ “Developer Interview 2008”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  17. ^ “Annual Report 2007” (PDF). Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  18. ^ “Capcom's Resident Evil division "focusing" on VR”. gamesindustry.biz. 
  19. ^ “Developer Interview 2009: vol08.Keiji Inafune”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  20. ^ “Developer Interview 2010: vol01.Jun Takeuchi”. Capcom Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  21. ^ Orsini, Lauren (17 tháng 5 năm 2010). “Bionic Commando, Dark Void Last Straws For Capcom”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  22. ^ "Locations Error in webarchive template: Check |url= value. Empty. ." Capcom. Retrieved on August 12, 2011. "3-1-3 Uchihirano-machi, Chuo-ku, Osaka 540-0037, Japan" and "Shinjuku Mitsui Building 2-1-1 Nishi Shinjuku, Shinjuku-ku, Tokyo"
  23. ^ “Corporate Information: Business Segments”. Capcom Co., Ltd. 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  24. ^ “Annual Report 1998” (PDF). Capcom Co., Ltd. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  25. ^ Kramer, Chris (28 tháng 3 năm 2008). "Gamers Day" is dead, long live the CAPTIVATE08 Media Summit”. Capcom Entertainment, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  26. ^ "Lost Planet & Dead Rising; Capcom Brings New Blood to Xbox 360." EGM [i] 2006: 1-41. ProQuest Research Library. Web. 30 May 2012.
  27. ^ Douglass C. Perry (21 tháng 8 năm 2009). “How Airtight Games started a console game studio with just $24,000”. VentureBeat. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  28. ^ Stephany Nunneley (27 tháng 11 năm 2012). “Remember Me developer discusses amicable split with Sony, Capcom's enthusiasim”. VG247. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  29. ^ “Capcom, Platinum Titles”. Capcom. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018. 
  30. ^ Makuch, Eddie (2 tháng 4 năm 2012). “Capcom defends on-disc DLC - Report”. Eurogamer. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  31. ^ Wesley Yin-Poole (1 tháng 6 năm 2015). “Capcom pulls PS4 Ultra Street Fighter 4 from its own tournament”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  32. ^ “Capcom Responds to Street Fighter 5's Lack of Content Concerns”. GameSpot. 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  33. ^ “Street Fighter 5 Sales Miss Capcom Target By Huge Margin”. GameRant. 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “IG: 2011-12” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]