Bước tới nội dung

Lưu Vĩ Cường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lưu Vĩ Cường
Lưu Vĩ Cường vào năm 2017
Sinh4 tháng 4, 1960 (66 tuổi)
Tân Giới, Hồng Kông thuộc Anh
Quốc tịch Hồng Kông
Nghề nghiệp
Năm hoạt động1985–nay
Con cái4

Lưu Vĩ Cường (giản thể: 刘伟强; phồn thể: 劉偉強, tiếng Anh: Andrew Lau Wai-keung, sinh ngày 4 tháng 4 năm 1960) là một nam nhà làm phim người Hồng Kông. Khởi đầu sự nghiệp điện ảnh trong vai trò là nhà quay phim, ông từng đảm nhận vị trí quay phim chính trong nhiều tác phẩm của các nhà làm phim nổi tiếng gồm Lâm Lĩnh Đông, Vương TinhVương Gia Vệ. Kể từ thập niên 1990, Cường bắt đầu thử sức với vai trò đạo diễn và nhà sản xuất, bắt đầu được chú ý sau thành công của loạt phim Người trong giang hồ.

Là nhà làm phim có sở trường về phim hành động và phim xã hội đen, ông đã cho ra đời nhiều bộ phim, trong đó đáng chú ý nhất là Vô gian đạo, tác phẩm mà ông đạo diễn cùng Mạch Triệu Huy. Vô gian đạo đã đem lại cho ông giải Kim Tượng cho đạo diễn xuất sắc nhất.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Vĩ Cường sinh ngày 4 tháng 4 năm 1960 tại Tân Giới trong một gia đình có tới mười hai người con, bố của ông là một công nhân xây dựng.[1] Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Lưu bắt đầu vào làm tại hãng phim Thiệu Thị huynh đệ trong vai trò trợ lý quay phim. Tác phẩm điện ảnh đầu tiên mà ông tham gia là bộ phim của đạo diễn Lưu Gia Lương mang tên Thập bát ban vũ khí (1982).[2] Sau bộ phim này, ông dần khẳng định được danh tiếng trong vị trí quay phim với nhiều bộ phim hành động hoặc võ thuật của các đạo diễn lớn như Phú quý liệt xa (富貴列車, 1986) của Hồng Kim Bảo hay Long hổ phong vân (龍虎風雲, 1987) của đạo diễn Lâm Lĩnh Đông. Lưu Vĩ Cường cũng là quay phim cho Vượng Giác Tạp Môn (旺角卡門, 1988), bộ phim đầu tay của đạo diễn Vương Gia Vệ, ở một số phim sau này của Vương như A Phi chính truyện hay Trùng Khánh Sâm Lâm, ông cũng tham gia trợ giúp cho Christopher Doyle trong phần hình ảnh.

Đầu thập niên 1990, Lưu Vĩ Cường bắt đầu thử sức với vị trí đạo diễn bằng các bộ phim cấp III do Vương Tinh sản xuất như Hương Cảng kì án: Chi cường gian (香港奇案之強姦, 1993). Năm 1996, ông cho ra đời Người trong giang hồ (古惑仔之人在江湖, 1996), bộ phim mà ông đảm nhận cả hai vai trò đạo diễn và quay phim. Người trong giang hồ sau khi công chiếu đã được khán giả đón nhận nồng nhiệt với nội dung hấp dẫn về các băng đảng xã hội đen. Thành công của bộ phim đã giúp Lưu Vĩ Cường tạo dựng danh tiếng trong dòng phim tội phạm, ông tiếp tục cho ra đời 7 phần tiếp theo của tác phẩm này. Bên cạnh Người trong giang hồ, Lưu Vĩ Cường còn hợp tác với Vương Tinh để cho ra đời nhiều bộ phim có tính giải trí cao khác như Phong vân: Hùng bá thiên hạ (風雲之雄霸天下, 1998), một tác phẩm dựa trên bộ truyện tranh cùng tên, Trung Hoa anh hùng (中華英雄, 1999) hay Quyết chiến trên đỉnh Tử Cấm Thành (决战紫禁城之巅, 2000), cả ba đều có sự tham gia của Trịnh Y Kiện, người thủ vai chính trong loạt phim Người trong giang hồ.

Năm 2002, Lưu Vĩ Cường cho ra đời tác phẩm xuất sắc nhất của ông, Vô gian đạo (无间道), bộ phim mà ông vừa là quay phim, nhà sản xuất và đồng đạo diễn với Mạch Triệu Huy. Vô gian đạo là bộ phim ăn khách nhất ở Hồng Kông năm 2002 và cũng được giới phê bình đánh giá rất cao, bộ phim sau đó đã được đạo diễn Martin Scorsese làm lại với tựa đề Điệp vụ Boston, đây là tác phẩm đã giành giải Oscar cho phim hay nhất vào năm 2006. Sau thành công của Vô gian đạo, bộ đôi Lưu Vĩ Cường và Mạch Triệu Huy còn đồng đào diễn một loạt phim ăn khách khác là Vô gian đạo II, Vô gian đạo III (2003), Initial D (頭文字D, 2005), và Thương thành (伤城, 2006). Cũng trong năm 2006, ông còn nhận đạo diễn cho một bộ phim Hàn QuốcHoa cúc dại (데이지) với vai chính được giao cho nữ diễn viên Jun Ji-hyun. Năm 2007, ông đạo diễn bộ phim tiếng Anh đầu tiên của ông là The Flock với hai ngôi sao Richard GereClaire Danes. Đến năm 2014, ông làm thêm một bộ phim tiếng Anh nữa là Rồng xanh báo thù. Từ sau năm 2014, ông đã cho ra mắt những bộ phim ăn khách tại thị trường Hồng Kông và cả châu Á.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Andrew Lau Wai-Keung | HK-magazine.com". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2009.
  2. Andrew Lau Wai-Keung

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]