Đỗ Kỳ Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
杜琪峰
(Đỗ Kỳ Phong)
Johnnie To à la Cinémathèque française.jpg
Đỗ Kỳ Phong năm 2008
Sinh 22 tháng 4, 1955 (58 tuổi)
Flag of Hong Kong.svg Hồng Kông
Tên khác Johnnie To

Đỗ Kỳ Phong (Hoa phồn thể: 杜琪峰, bính âm: Dù Qífēng, tiếng Anh: Johnnie To, đôi khi được viết là Johnny To[1][2]) (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1955) là một đạo diễn, biên kịchnhà sản xuất phim nổi tiếng của điện ảnh Hồng Kông. Bắt đầu sự nghiệp đạo diễn với các bộ phim truyền hình, Đỗ Kỳ Phong đã nhanh chóng thành công trong vai trò đạo diễn phim điện ảnh, ông đang giữ kỷ lục về số lần được đề cử giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1973 sau khi tốt nghiệp phổ thông, Đỗ Kỳ Phong tham gia lớp đào tạo diễn viên của hãng truyền hình TVB. Hoàn thành khóa học, Đỗ bắt đầu tham gia các công đoạn sản xuất phim truyền hình của TVB, từ trợ lý sản xuất, đạo diễn đến nhà sản xuất.

Năm 1980, Đỗ Kỳ Phong được giao đạo diễn bộ phim điện ảnh đầu tiên, Bích thủy hàn sơn đoạt mệnh kim (碧水寒山奪命金). Phải chờ gần 10 năm sau tài năng của ông mới thực sự được công nhận sau khi Đỗ đạo diễn bộ phim cực kì ăn khách A Lang đích cố sự (阿郎的故事) với sự tham gia của ngôi sao hàng đầu của điện ảnh Hồng Kông lúc bấy giờ là Chu Nhuận Phát. Với bộ phim này, Đỗ Kỳ Phong lần đầu tiên được đề cử giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông. Năm 1993 Đỗ Kỳ Phong đạo diễn một bộ phim ăn khách khác là Đông phương tam hiệp (東方三俠) với sự tham gia của ba ngôi sao nữ Mai Diễm Phương, Trương Mạn NgọcDương Tử Quỳnh.

Năm 1996, cùng với người cộng tác lâu năm Vi Gia Huy, Đỗ Kỳ Phong thành lập hãng phim riêng Ngân Hà đồ tượng (銀河圖像) và tập trung làm đạo diễn và sản xuất cho các bộ phim của công ty này. Đỗ Kỳ Phong nổi tiếng là người làm việc năng suất và có phong cách đạo diễn đa dạng, không chỉ thành công với những bộ phim hài ăn khách như Cô nam quả nữ (孤男寡女, 2000) hay Sấu thân nam nữ (瘦身男女, 2001) (cả hai phim đều do Lưu Đức HoaTrịnh Tú Văn thủ vai chính), Đỗ còn có thể thực hiện những bộ phim hình sự được đánh giá cao như Ám chiến (暗戰, 1999) hay Sinh hỏa (鎗火, 1999). Sinh hỏa cũng giúp Đỗ Kỳ Phong giành giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần đầu tiên.

Đại hòa thượng (大只佬, 2003) là bộ phim đột phá của Đỗ Kỳ Phong khi ông thử nghiệm lần đầu đề tài mang tính triết lí cao và ít yếu tố hành động hoặc hài hước thường thấy trong các tác phẩm trước đó của Đỗ. Thử nghiệm đầu tiên của đạo diễn đã thành công khi bộ phim vừa trở thành tác phẩm ăn khách, vừa thắng lớn tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông khi giành cả giải Phim hay nhất, Vai nam chính xuất sắc nhất (cho Lưu Đức Hoa), Vai nữ chính xuất sắc nhất (cho Trương Bá Chi) và giải Đạo diễn xuất sắc nhất thứ hai cho Đỗ Kỳ Phong. Cũng trong năm 2003, Đỗ còn đạo diễn Rẽ phải, rẽ trái (向左走·向右走, tiếng Anh: Turn Left, Turn Right), một bộ phim tình cảm của NgaSingapore.

Trong những năm gần đây đạo diễn lại trở về đề tài hình sự và "xã hội đen" quen thuộc của điện ảnh Hồng Kông với ba bộ phim Hắc xã hội (黑社會, 2005), Hắc xã hội: Dĩ hòa vi quý (黑社會以和為貴, 2006) và Phóng trục (放逐, 2006). Tuy đề tài không mới nhưng với cách thực hiện khác lạ, ba bộ phim "xã hội đen" này của Đỗ Kỳ Phong đều thành công về mặt doanh thu và được giới phê bình đánh giá cao. Trong số đó Hắc xã hội đã đem lại cho Đỗ giải Đạo diễn xuất sắc nhất thứ ba tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông. Hiện nay Đỗ Kỳ Phong và Phương Dục Bình đang là hai người có nhiều chiến thắng nhất tại hạng mục này với mỗi người 3 lần đăng quang.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
1980 Bích thủy hàn sơn đoạt mệnh kim
(碧水寒山奪命金)
Đạo diễn
1986 Khai tâm quỷ chàng quỷ III
(開心鬼撞鬼III)
Đạo diễn
1987 Thất niên chi dưỡng
(七年之癢)
Đạo diễn
1988 Thành thị đặc cảnh
(城市特警)
Đạo diễn
Bát tinh báo hỉ
(八星報喜)
Đạo diễn
1989 A Lang đích cố sự
(阿郎的故事)
Đạo diễn
1990 Thiên nhược hữu tình
(天若有情)
Nhà sản xuất
Cát tinh củng chiếu
(吉星拱照)
Đạo diễn
Ái đích thế giới
(愛的世界)
Đạo diễn
1991 Sa than tử dữ chu sư nãi
(沙灘仔與周師奶)
Nhà sản xuất
Chí tôn vô thượng II
(至尊無上(II)之永霸天下)
Đạo diễn
1992 Thích đáo bảo
(踢到寶)
Đạo diễn
Thẩm tử quan
(審死官)
Đạo diễn
1993 Xích cước tiểu tử
(赤腳小子)
Đạo diễn
Đông phương tam hiệp
(東方三俠)
Đạo diễn
Thiên nhược hữu tình II
(天若有情II)
Nhà sản xuất
Tế công
(濟公)
Đạo diễn
Đông phương tam hiệp II
(東方三俠II)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
1995 Vô vị thần tham
(無味神探)
Đạo diễn
Ngốc tử bái thọ
(呆佬拜壽)
Nhà sản xuất
Thiên nhược hữu tình III
(天若有情III)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
1996 Nhiếp thị 32°
(攝氏32°)
Nhà sản xuất
Thập vạn hỏa cấp
(十萬火急)
Đạo diễn
Nhất cá tự đầu đích đản sinh
(一個字頭的誕生)
Nhà sản xuất
Tối hậu phán quyết
(最後判決)
Nhà sản xuất
1997 Lưỡng cá chỉ năng hoạt nhất cá
(兩個只能活一個)
Nhà sản xuất
Khủng bố kê
(恐怖雞)
Nhà sản xuất
1998 Ám hoa
(暗花)
Nhà sản xuất
Phi thường đột nhiên
(非常突然)
Nhà sản xuất
Chân tâm anh hùng
(真心英雄)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
1999 Tái kiến a lang
(再見阿郎)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Ám chiến
(暗戰)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Sinh hỏa
(鎗火)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2000 Cô nam quả nữ
(孤男寡女)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Thu thủy hồi xuân
(辣手回春)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Thiên hữu nhãn
(天有眼)
Nhà sản xuất
2001 Chung Vô Diệm
(鍾無艷)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Ái thượng ngã tâm
(愛上我吧)
Nhà sản xuất
Toàn chức sát thủ
(全職殺手)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Sấu thân nam nữ
(瘦身男女)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2002 Ám chiến 2
(暗戰2)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Lịch cô lịch cô tân niên tài
(嚦咕嚦咕新年財)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Ngã tả nhãn kiến đáo quỷ
(我左眼見到鬼)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2003 Bách niên hảo hợp
(百年好合)
PTU Đạo diễn
Nhà sản xuất
Thiếu niên vãn sự
(少年往事)
Rẽ phải, rẽ trái
(向左走·向右走)
(tiếng Anh: Turn Left, Turn Right)
Đồng đạo diễn
Đại hòa thượng
(大隻佬)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2004 Long phượng đấu
(龍鳳鬥)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Đại sự kiện
(大事件)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Nhu đạo hổ bàng
(柔道龍虎榜)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2005 Hắc xã hội
(黑社會)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2006 Hắc xã hội: Dĩ hòa vi quý
(黑社會以和為貴)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
Phóng trục
(放·逐)
Đạo diễn
Nhà sản xuất
2007 Mỗi đương biến huyền thời
(每當變幻時)
Nhà sản xuất
Thiết tam giác
(鐵三角)
Đạo diễn
Văn tước
(文雀)
Giám thị
(监视)
Nhà sản xuất
Thần tham
(神探)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong các bộ phim về đề tài hình sự và "xã hội đen" của mình, Đỗ Kỳ Phong thường xuyên lựa chọn một số diễn viên quen thuộc vào những vai có tính cách tương tự trong các phim trước đó, đó là Nhậm Đạt Hoa, Lâm TuyếtTrương Gia Huy. Cũng tương tự trong các bộ phim tình cảm hài, hai diễn viên thường xuyên giữ vai chính trong phim của Đỗ là Lưu Đức HoaTrịnh Tú Văn.
  • Đỗ Kỳ Phong rất hay cộng tác với Vi Gia Huy, người này thường làm nhà sản xuất cho các bộ phim do người kia đạo diễn và đôi khi cả Đỗ và Vi cùng tham gia đạo diễn một bộ phim.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]